Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:45:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu chiến, chiếm hạm Liên Xô và Nga - phần 3  (Đọc 201742 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #200 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2012, 12:00:45 am »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Sigma-20380”

Đài ra đa phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Furkuz-2”

+ 1x”Monument-A” đồng thời để chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu

Đài ra đa đạo hàng

+ 1x”Pal-N”

+ 2xMR-231

Đài thủy âm

+ “Zarya-2” dưới sống

+ “Minotavr-M” – lai – kéo dài

+ “Anapa-M”

+ “Paket-A” chỉ thị mục tiêu phòng thủ ngư lôi

Các khí tài tác chiến điện tử: TK-25-2

Các tổ hợp bắn nhiễu: 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”

Các khí tài quang điên: 4xMTK-201M2.2

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Monument-A” cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran”

+ 2x”Sandal-V” tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ ngoài

+ 1x5P-10 “Puma” cho pháo 100mm và pháo phòng không

+ 1xMR-123-02 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho pháo phòng không

Tổ hợp dẫn đường (đạo hàng)

+ “Chardash 20380”

+ “Syuzhet-KM”

+ SN-3101 dẫn đường vệ tinh

+ OSPV-20380 dẫn đường vô tuyến cho trực thăng

Tổ hợp thông tin liên lạc

+ “Ruberoid”

+ “Brigantina”

Đài ra đa hội thoại: 3x”Patrol”.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Bảy, 2013, 01:06:26 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #201 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2012, 03:51:55 pm »

Tàu tuần tra loại lớn đề án 22350

http://army.lv/ru/proekt-22350/713/736


Các tàu đề án 22350 được sử dụng để thực hiện các hoạt động quân sự ở khu vực biển gần và xa bờ, đồng thời giải quyết các nhiệm vụ trên đại dương.

Tàu có kiến trúc nửa thùng, vũ khí tên lửa lắp chìm trong thân tàu, với thượng tầng dày, được chế tạo với việc sử dụng vật liệu composite (trên cơ sở polivinilclorid và sợi các bon) đảm bảo hấp thu và khuyếch tán sóng vô tuyến, giảm độ trường ra đa định vị cấp 2 của tàu. Phần cuối mạn tàu – sống đuôi, các đường bao thân tàu và sống mũi tàu nhọn đảm bảo cho tàu có chất lượng đi biển tốt, đáy đôi từ khoang mũi với cơ số đạn và tới buồng máy và khu vực (quan sát) mạn tàu. Trên tàu lắp các bộ giảm rung mới với các bánh lái không gập, đây là giải pháp cho phép giảm thể tích bị chiếm bởi máy móc. Khả năng đi biển của tàu đảm bảo tiếp nhận vũ khí và khí tài kỹ thuật không hạn chế khi các máy chống rung lắc làm việc ở sóng biển cấp độ 4-5.

Lượng choán nước của tàu – gần 4500 tấn, chiều dài – 130 mét, chiều rộng – 16 mét, lượng mớn nước – 4,5 mét, tầm bơi xa – hơn 4000 dặm, khả năng đi biển không hạn chế. Thủy thủ đoàn – 210 người.

Vũ khí


Vũ khí tấn công chính của tàu tuần tra mới là tổ hợp bắn 3R-14UKSK trong 2 modul tiêu chuẩn kiểu 3S-14U1 theo 8 thùng phóng (toàn bộ cơ số đạn – 16 tên lửa) bố trí ở phần mũi trước thượng tầng. Tổ hợp có thể sử dụng đồng thời một số kiểu tên lửa phóng thẳng – tên lửa chống tàu Oniks (PJ-10 Brahmos), 3M54, 3M14, 91RTE2 (các tên lửa tổ hợp “Kalibr-NK”).

Vũ khí phòng không, dự kiến, sẽ lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Poliment-Redut” và 2 modul tổ hợp pháo tên lửa phòng không “Palash”.

Vũ khí pháo của tàu là thiết bị pháo 130mm đơn giản hóa A-192 trong thành phần tổ hợp pháo A-192-5P010 với hệ thống điều khiển bắn 5P-10 “Puma”. Tầm bắn – 22km, tốc độ bắn – 30 viên/phút. Hệ thống có góc bắn 170/80 độ và danh pháp (khả năng sử dụng) các loại đạn rộng, cho phép nó tiêu diệt các mục tiêu trên bờ, trên biển và trên không. Hệ thống ra đa định vị điều khienr 5P-10 “Puma” có khả năng dẫn bắn đa kênh theo các mục tiêu.

Vũ khí chống ngầm được giới thiệu là 2 thiết bị phóng “Medvedka-2” với mỗi thiết bị có 4 ống phóng với sự bố trí theo thành ở phần giữa thượng tầng, sau các cửa phóng.

Ở mạn tàu bố trí hang ga và bãi đáp cho trực thăng để bố trí 1 trực thăng Ka-27.

Thiết bị năng lượng


Trên tàu tuần duyên theo kế hoạch lắp tổ hợp tuabin khí – diesel kiểu CODAG, đảm bảo hoạt động phối hợp (đồng thời) các động cơ tuabin khí và diesel trong tổ hợp tuabin khí – diesel DGTA-M55MR. Giải pháp này cho phép nhận được công suất tổng lớn và kinh tế trên tốc độ thấp bằng động cơ diesel. Bố cục các phần thử thiết bị tuabin khí – diesel sẽ nhanh chóng được bố trí trong hai khoang, các động cơ tuabin khí ở khoang mũi và động cơ diesel ở buồng máy mạn tàu, cho phép tách buồng máy thành 2 khoang không thấm nước.

Trong vai trò thiết bị hành trình sẽ lắp 2 động cơ diesel ở xưởng Kolomen 10D49 theo 3825kW (5200 sức ngựa) với sự điều khiển tự động hóa, mỗi động cơ có bộ truyền động 2 tốc độ, đảm bảo hoạt động phối hợp hoặc độc lập của các động cơ diesel và tuabin với khớp composite cách âm, và hệ thống điều khiển nội (cục) bộ. Thiết bị tăng tốc sẽ được giới thiệu là 2 động cơ M90FR công suất mỗi động cơ 27 500 sức ngựa. Bằng cách này, trên 2 động cơ hành trình, tàu sẽ có công suất 10 400 sức ngựa, tương ứng với 15-16 hải lý ở tốc độ tiết kiệm năng lượng, còn ở tốc độ tối đa, khi động cơ diesel và tuabin cùng hoạt động là 64 800 sức ngựa, đảm bảo tốc độ 29 hải lý.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #202 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2012, 05:11:03 pm »

Thông tin lịch sử

Năm 1977, ở Mỹ đã triển khai đóng loạt số lượng lớn các tàu tên lửa đa năng lớp O.H.Perri, tàu đầu tiên có thiết kế modul được đóng năm 1977, mở ra thế hệ mới các tàu chiến đa năng. Sự xuất hiện của các tàu này đã dẫn tới sự thua kém rất lớn về chất của các tàu tuần tra Liên Xô và chỉ ra sự cần thiết thiết kế tàu đa chức năng mới về nguyên tắc.

Ở Liên Xô, những nghiên cứu đầu tiên về hình dạng tàu tuần tra đa năng đã được thực hiện từ giữa những năm 70, đến năm 1981 ở Phòng thiết kế Zelenodolsk đã được giao nhiệm vụ thiết kế tàu tuần tra đề án 11540 và được phê duyệt năm 1983. Theo các nguyên nhân chính trị và kinh tế, tàu không được đóng loạt, sau khi đóng tàu đầu tiên, Liên Xô và nền quốc phòng tan rã, tàu thứ hai “Nepristupnưi” đã nổi tiếng như một trong số các tàu đắt nhất đang trong quá trình đóng gần 20 năm, nó chỉ được bàn giao cho Hải quân năm 2009 với tên gọi mới “Yaroslav Mudrưi”, tàu tuần tra thứ ba “Tuman” cũng không được đóng xong, còn tàu tuần tra thứ tư “Neuderzhimưi” bị dừng đóng trước khi khởi công. Cần nói rằng, Hải quân đã không nhận được tàu cần thiết cho họ, không một đề án nào hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của Hải quân, toàn bộ các nỗ lực chế tạo tàu đa năng trong lượng choán nước hạn chế đã dựa vào sự cần thiết chế tạo vũ khí mới trong các kích thước cơ sở - các modul với sự đồng nhất tối đa theo thiết bị phóng với các hệ thống chỉ thị mục tiêu duy nhất và bao gồm toàn bộ các hệ thống phòng không trong một chu vi thống nhất.

Song song với việc thiết kế đề án 11540, các công việc tại Phòng thiết kế Zelenodolsk, ở nơi thiết kế chính các tàu tuần tra lớn của Liên Xô – Phòng thiết kế Phương Bắc cũng diễn ra công việc này. Sự khác biệt so với ở Zelenodolsk, ở Phương Bắc đã tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở thân tàu có số lượng lớn trong biên chế - đề án thành công số 1135 nâng cấp và đã lắp trên đó vũ khí hiện đại hơn. Năm 1958, Phòng thiết kế Phương Bắc nhận nhiệm vụ thiết kế tàu huấn luyện thí nghiệm dạng modul đề án 13040 có lượng choán nước 6000 tấn, Tổng công trình sư là V.I.Mutikhin. Năm 1986, đề án phác thảo đã chuẩn bị mà trên cơ sở đó, Mutikhin thiết kế đề án tàu đa năng, trang bị vũ khí dạng modul, các thiết bị phóng thẳng đa năng. Đồng thời, để đơn giản việc lắp và nâng cấp, trong bố cục modul dự kiến sẽ làm toàn bộ các hệ thống đài ra đa định vị và toàn bộ danh pháp vũ khí của tàu đa năng.

Theo đề án, tàu sẽ có lượng choán nước hoàn toàn 6000 tấn, thiết bị phóng thẳng cho tên lửa chống tàu, 4x2 tên lửa chống ngầm, thiết bị phóng thẳng cho tổ hợp tên lửa tầm trung và gần, một thiết bị pháo 1 nòng 130mm, 3 tổ hợp tên pháo – tên lửa phòng không, 1 trực thăng, tổ hợp thủy âm tầm trung. Đề án đã không được chế tạo bằng kim loại, nhưng nhiều ý tưởng của nó trở thành cơ sở của đề án mới.

Tới đầu những năm 90, các Viện nghiên cứu khoa học hàng đầu và lãnh đạo Hải quân đã thành lập các yêu cầu kỹ chiến thuật cho tàu đa năng tương lai thế hệ mới. Đáng tiếc, sau khi Liên Xô tan rã, nhiều công việc chế tạo các mẫu vũ khí tương lai đã chấm dứt do tài chính của Bộ quốc phòng, và nằm lại phòng thiết kế. Việc này dẫn đến sự kéo dài rất lâu các công việc theo tàu đa năng tương lai và đẩy lùi việc thực hiện đề án trong thời hạn không xác định.

Đầu những năm 90, Phòng thiết kế “Almaz” đã thành công khi thực hiện và khẳng định sự liều lĩnh, nhưng có vũ khí tốt – đề án tàu tuần tra 12441 “Grom”, phát triển từ tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1244 tới tàu tuần tra đa năng, từ đó đặt một điểm mới trong sự phát triển tàu tên lửa loại nhỏ. Dưới những khẩu hiệu lớn về khôi phục Hải quân, tàu được khởi công trên xưởng đóng tàu “Yantar”, được đặt tên là “Novik”. Việc đóng tàu trong thời đại thiếu tài chính mãn tính bị sa lầy trong các công việc thiết kế thí nghiệm và nghiên cứu khoa học không được hoàn thành và đến năm 2002, xưởng chỉ thành công trong việc hình thành thân tàu không có thượng tầng, sau đó, tàu không được đóng hoàn chỉnh được quyết định chuyển loại thành tàu tuần duyên và sau đó là tàu huấn luyện “Borodino”. Như vậy hay nói cách khác, nhưng vào năm 2008, thân tàu không được đóng xong của nó, ở trên ụ nổi tiếng trước kia “Burevestnhik” đã bổ sung và bộ sưu tập những sản phẩm đóng lâu dài của xưởng.

Mặc dù vậy, ở thời gian đó, yêu cầu cải tiến tàu tuần tra trở nên cấp bách và tháng 6 năm 2003, Hải quân đã phê duyệt đề án phác thảo tàu tuần tra đa năng mới, được thực hiện bởi Phòng thiết kế Phương Bắc theo đề án 22350. Đầu năm 2005, đề án được phê duyệt như tàu chiến đa năng (theo phân loại của Liên Xô là tàu tuần tra loại lớn) và 28 tháng 2 năm 2005 đã tuyên bố đấu thầu đóng tàu. Ngày 21 tháng 10 năm 2005 sau khi tuyên bố kết quả đấu thầu, đã kí hợp động với Liên hiệp xưởng đóng tàu “Phương Bắc” để đóng tàu tiên đề án 22350, mùng 1 tháng 2 năm 2006, tàu được khởi công dưới số hiệu xưởng 921, nhiệm vụ phụ trách được giao cho Dmitri Silantiev. Bằng mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân – Đô đốc Vladimir Masorin, tàu chiến được mang tên Đô đốc Hải quân Liên Xô Sergei Gorshkov”. Hạ thủy tàu được thực hiện ngày 29 tháng 10 năm 2010. Thời gia bàn giao tàu đầu tiên theo kế hoạch – năm 2011. Việc khởi công tàu thứ hai được thực hiện 26 tháng 9 năm 2009. Tổng cộng trong các kế hoạch của Hải quân sẽ đóng 20 tàu lớp này.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #203 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2012, 12:59:25 am »

Tàu tên lửa loại nhỏ “Burya” – Đề án 1234 “Ovod” – Lớp Nanuchka-I


Tổng số tàu đã đóng: 18

Các biến thể

+ 1234 (Lớp Nanuchka-I) – đề án cơ sở tàu tên lửa loại nhỏ (1970)

+ 12341 (Lớp Nanuchka-III) – tăng cường vũ khí pháo

+ 1234-E (Lớp Nanuchka-II) – phiên bản xuất khẩu với thành phần vũ khí thay đổi (1980)

+ 12347 (Lớp Nanuchka-4) – tàu tên lửa loại nhỏ thí nghiệm để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Oniks” (1987).

Tốc độ đóng lớn ở Liên Xô các tàu tên lửa loại nhỏ đề án 184-R và đề án 205, đồng thời sự tiếp tiếp nhận trực tiếp vào trang bị toàn bộ các tên lửa chống tàu hiện đại nhất đã dẫn tới việc vào giữa những năm 1960, Tư lệnh Hải quân đã xem các tàu tên lửa nhỏ này lạc hậu nhanh chóng. Vì thế, ông yêu cầu nghiên cứu thiết kế đề án tàu tên lửa loại nhỏ mới với sự tăng cường vũ khí tên lửa tấn công (do tính toán bố trí khi đó 6 tên lửa chống tàu mới P-120 “Malakhit”) và phòng không (dự kiến bố trí tên lửa phòng không tự vệ và pháo lớn hơn). Năm 1965, nhiệm vụ kỹ chiến thuật của tàu tên lửa mới được giao cho Phòng thiết kế Hải quân Trung ương “Almaz”. Tổng công trình sư của tàu, nhận mã số “Ovod” và số hiệu đề án 1234 là I.P.Pegov, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 V.V.Dmitriev.

Việc thiết kế tàu tên lửa loại nhỏ mới đã diễn ra trong bối cảnh rất phức tạp. Sự bố trí 6 tên lửa chống tàu kiểu “Malakhit” (tầm bắn 110…115km) với tổ hợp ra đa định vị mới cung cấp chỉ thị mục tiêu “Titanit”, 1 tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” và thiết bị pháo nòng đôi 57mm AK-725 với đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Bars” đã dẫn tới sự tăng mạnh lượng choán nước lên 600 tấn. Đáng chú ý sau đó rằng lần đầu tiên đối với các tàu lớp này đa dự kiến bố trí các khí tài tác chiến điện tử. Để bắn tổ hợp tên lửa chống tàu ở tầm xa tối đa, dự kiến lắp hệ thống chỉ thị mục tiêu ngoài từ các tàu và máy bay. Trong vai trò khí tài phòng thủ tích cực, trên tàu tên lửa loại nhỏ lắp các tổ hợp bắn nhiễu – 2… 6 thiết bị phóng.

Để đảm bảo tốc đô như trong nhiệm vụ kỹ chiến thuật, rõ ràng cần sử dụng không chỉ động cơ diesel mà còn thiết bị năng lượng tuabin khí. Tuy nhiên, xuất hiện trong thời điểm dds là động cơ tuabin dạng M3 có kích thước rất lớn, và kết quả đương nhiên là một lần nữa lại dẫn đến sự tương lượng choán nước của tàu, đương nhiên là không thể chấp nhận được. Các tính toán đã chỉ ra rằng, thậm chí để đảm bảo tốc độ 35 hải lý yêu cầu công suất – có thể đạt đươc nhờ sự đảm bảo của ít nhất 6 động cơ diesel kiểu M-504, đồng thời cũng không thực hiện được. Thời gian đưa ra cho việc thiết kế thiết bị năng lượng chính là hạn chế và thiết kế động cơ mới (diesel hay tuabin) là không thể. Vì thế đã tiếp nhận giải pháp sử dụng trong thiết bị năng lượng 3 trục với sự hoạt động trên mỗi trục 2 động cơ M-504. Tuy nhiên, cách lắp này là miễn cưỡng chỉ trong trường hợp không có bộ truyền động phức hợp. Vì thế, xưởng “Zvezda” trong thời gian gấp vào cuối những năm 1960 đã chế tạo động cơ có khớp nối M-507 (gồm có 2 động cơ M-504, trục được liên kết qua các bộ truyền động) có 12 xilanh (!) và công suất 10 000 sức ngựa.

Có thể giả thiết rằng nếu đầu những năm 1960, trước các công trình sư đã đặt ra nhiệm vị chế tạo động cơ này trong bối cảnh không gấp, nó đã được chế tạo bằng biện pháp phát triển động cơ M-504 mà không cần tăng số lượng xilanh (ví dụ bằng phương pháp tăng thể tích buồng đốt, thay đổi kích thước…).

Theo các kết quả nghiên cứu đề án bởi Tư lệnh Hải quân, đã tiếp nhận quyết định về chuyển
”Ovod” từ lớp tàu nhỏ (ca nô, xuồng máy) mang tên lửa thành lớp tàu tên lửa loại nhỏ. Một cách công bằng khi nói rằng theo tiêu chuẩn “giá thành – hiệu quả” hơn “thuận lợi” theo đề án tàu tên lửa 205 trước đó. Để khắc phục sự không thuận lợi tương tự, đã tiếp nhận giải pháp gốc, mặc dù đề án 1234 khó khăn tưởng tượng được là “xuồng máy”.

Đáng chú ý sau đó rằng tới giai đoạn đí, không có phương tiện nào xét về khả năng chiến đấu của nước ngoài có thể so sánh được với các tàu tên lửa loại nhỏ này. Bởi vì đề án 1234 khác biệt ở tầm bơi xa lớn, khả năng đi biển tốt và có hiệu quả điều khiển vũ khí tên lửa cao hơn. Ở phương Tây, các tàu này được gọi dưới tên “lớp Nanuchka”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #204 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2012, 01:01:15 am »

Hình vẽ và bản vẽ tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234









Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #205 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2012, 01:05:18 am »




Các tổ hợp tên lửa "Malakhit" với đài ra đa định vị "Titanit" và "Osa-M" trên tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234



Tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 ra khơi trong cuộc huấn luyện tấn công
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #206 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:01:36 am »

Các biến thể


Tiếp đó, đối với các đối tác nước ngoài, đã chế tạo phiên bản xuất khẩu tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234-E. Sự khác biệt cơ bản của nó so với đề án cơ sở 1234 là thay tên lửa chống tàu “Malakhit” bằng 4 tên lửa chống tàu P-20 (biến thể xuất khẩu P-15M).

Từ năm 1974 đã thiết kế và hạ thủy loạn đề án 12341 (tàu đầu tiên gia nhập biên chế năm 1977) với sự tăng cường vũ khí pháo: thay AK-725 lắp pháo 76,2mm AK-176 và pháo tự động 30mm AK-630 với sự điều khiển chung từ đài ra đa định vị “Vưmpel”. Ngoài ra, 1 tàu – “Nakat”, được đóng theo đề án 12347 để thí nghiệm tên lửa chống tàu mới “Oniks”.

Chương trình đóng tàu

Tàu tên lửa loại nhỏ đầu tiên, nhận tên gọi “Burya”, được đóng năm 1970 ở xuongr Primorks ở Leningrad. Việc đóng các tàu nào còn được triển khai thêm ở xưởng đóng tàu Khabarovsk. Tổng cộng đến năm 1981, theo đề án này đã đóng 18 tàu tên lửa loại nhỏ (16 ở Leningrad, 2 ở Khabarovsk). Việc đóng biến thể xuất khẩu đề án 1234-E được thực hiện song song (xưởng “Vuwmpel ở Ruwbinsk, 10 tàu) và đề án nâng cấp 12341 (18 tàu) cho đến năm 1991.

Tình hình đến năm 2007

Tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234 gia nhập biên chế toàn bộ 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô và được tiếp nhận tham gia tích cực trong các cuộc diễn tập, huấn luyện và bắn các tổ hợp chính. Trong thời gian một trong số các cuộc diễn tập 16 tháng 4 năm 1987, tàu tên lửa loại nhỏ “Musson” đã bị chìm trên biển Nhật Bản do trúng tên lửa chống tàu huấn luyện (39 trong số 76 người hy sinh).

Cho đến thời điểm gần đây nhất, trong Hạm đội Phương Bắc còn lại tàu duy nhất trong lớp – tàu tên lửa loại nhỏ “Aisberg” (số hiệu xưởng 535), các tàu còn lại đã bị loại khỏi biên chế trước năm 2000.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #207 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:02:43 am »


Phân bố vũ khí trên tàu tên lửa loại nhỏ đề án 1234

1. Thiết bị phóng di động của tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

2. Đài dẫn bắn tên lửa 4R55 của tổ hợp “Osa-M”

3. Các thiết bị phóng tên lửa chống tàu P-120 “Malakhit”

4. Mũ chụp ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp và chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Titanit”

5. Ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

6. Đài nhận chỉ thị mục tiêu ngoài cho tổ hợp tên lửa chống tàu “Malakhit”

7. Các ăng ten đài ra đa định vị hội thoại

8. Các ăng ten khí tài tác chiến điện tử

9. Thiết bị bắn nhiễu 16 ống (nòng) PK-16

10. Thiết bị bắn nhiễu 10 ống PK-10

11. Đài ra đa định vị (điều khiển) bắn “Bars”

12. Thiết bị pháo nòng đôi 57mm AK-725
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #208 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:03 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ
(* - tàu còn trong biên chế)

+ MRK-3; từ 25 tháng 4 năm 1970 là “Burya”; số hiệu xưởng 51; 13 tháng 1 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng Primorks ở Leningrad; 24 tháng 6 năm 1967 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 18 tháng 10 năm 1968; năm 1969 di chuyển từ Leningrad theo hệ thống đường thủy trong nước tới Sevastopol để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 20 tháng 9 năm 1970; 24 tháng 11 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 11 tháng 2 năm 1991 loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo vũ khí, tháo dỡ; 24 tháng 6 năm 1991 giải thể và tháo kim loại ở Sevastopol.

+ MRK-7; từ 25 tháng 4 năm 1970 là “Briz”; số hiệu xưởng 52; 5 tháng 11 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 15 tháng 6 năm 1968 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 10 tháng 10 năm 1969; mùa xuân năm 1970 di chuyển từ Leningrad theo hệ thống đường thủy trong nước tới Sevastopol để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1970; 9 tháng 2 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; đầu năm 1984 di chuyển trong dạng kéo (lai dắt) từ Sevastopol qua eo biển Gibralta quanh Châu Phi tới cảng Cam Ranh (Việt Nam); 10 tháng 5 năm 1984 ghi tên vào biên chế đội tàu chiến dịch; 1 tháng 8 năm 1986 tới Vladivostoc – vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; năm 1981 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 1 tháng 8 năm 1986 đến 4 tháng 7 năm 1987 ở “Dalzavod” trải qua trung tu, khi kết thúc gia nhập biên chế phân hạm đội Camchatca; 29 tháng 10 năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân, mang đi tháo vũ khí và tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1992 giải thể; năm 1998 ở xưởng số 49 tại vịnh Seldevaia (thành phố Vilyuchinsk) tháo kim loại.

+ “Vikhr”; số hiệu xưởng 53; 21 tháng 8 năm 1967 khởi công treenuj xưởng Primorsk tại Leningrad; 25 tháng 4 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 22 tháng 7 năm 1970, nhanh chóng di chuyển từ Leningrad theo hệ thống đường thủy trong nước tới Sevastopol để tiếp tục các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1971 và 1 tháng 11 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; mùa hè năm 1977 di chuyển trong dạng lai dắt từ Sevastopol qua eo biển Gibralta quanh Châu Phi tới Vladivostoc; 31 tháng 8 năm 1977 ghi tên vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương, từ 4 tháng 7 năm 1987 gia nhập phân hạm đội Camchatca; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 5 tháng 7 năm 1994 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể.

+ “Volna”; số hiệu xưởng 54; 27 tháng 9 năm 1968 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 25 tháng 4 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1971; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 4 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 24 tháng 4 năm 1974 ghi tên vào biên chế Hạm đội Phương Bắc; mùa xuân năm 1974 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới biển Bắc; trong giai đoạn từ 10 tháng 8 năm 1988 đến 1 tháng 10 năm 1989 ở xưởng 177 tại Ust-Dvinsk (Daugavriva) trải qua trung tu, sau đó bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất ở vịnh Saida dưới dạng neo đậu (thành phố Gadzhievo); 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 25 tháng 1 năm 1994 giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #209 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2012, 12:03:24 am »

+ “Grad”; số hiệu xưởng 55; 29 tháng 11 năm 1967 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1972; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1972; 31 tháng 10 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983, 1985 và 1987 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 1 tháng 11 năm 1989 đến 7 tháng 2 năm 1990 ở xưởng số 177 ở Ust-Dvinsk trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 2 năm 1994 giải thể.

+ “Groza”; số hiệu xưởng 56; 9 tháng 1 năm 1969 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 26 tháng 7 nam 1972; 31 tháng 1 năm 1973 ghi tên vào biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1973 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới biển Đen; 4 tháng 9 năm 1973 ghi tên vào biên chế Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1982 loại khỏi biên chế chiến đấu; niêm cất và neo đậu ở vịnh Karantinnaia tại Sevastopol; năm 1992 loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1993 tháo kim loại ở Sevastopol.

+ “Grom”; số hiệu xưởng 57; 1 tháng 10 năm 1969 khởi công trên ụ Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 29 tháng 10 năm 1972; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; mùa hè năm 1973 di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới biển Đen; 4 tháng 9 năm 1973 ghi tên vào danh sách Hạm đội Biển Đen; 1 tháng 9 năm 1988 loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất trong dạng neo đậu ở Karantinnaia tại Sevastopol; 1 tháng 6 năm 1991 tháo niêm cất và trở lại biên chế; năm 1978 và 1992 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 24 tháng 5 năm 1995 loại khỏi biên chế Hải quân, tháo vũ khí và mang đi tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1995 giải thể và nhanh chóng tháo kim loại ở Sevastopol.

+ “Zarnitsa”; số hiệu xưởng 58; 27 tháng 7 năm 1970 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 20 tháng 10 năm 1970 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 28 tháng 4 năm 1973; gia nhập biên chế 18 tháng 9 năm 1973; 26 tháng 10 năm 1973 sau khi di chuyển theo hệ thống đường thủy trong nước từ Baltic tới Azov, từ đó tới biển Đen và gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1978, 1981, 1984, 1993, 1994 và 1998 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; sau năm 1999 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Molnia”; số hiệu xưởng 59; 30 tháng 9 năm 1971 khởi công trên ụ xưởng Primorsk tại Leningrad; 28 tháng 3 năm 1972 ghi tên vào danh sách Hải quân; hạ thủy 27 tháng 8 năm 1973; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1973; 7 tháng 2 năm 1974 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; năm 1983 và 1985 nhận giải thưởng của Tư lệnh Hải quân về huấn luyện tên lửa; từ 21 tháng 10 năm 1987 đến 4 tháng 3 năm 1988 ở xưởng số 179 tại Ust-Dvinsk trải qua trung tu; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; sau năm 1999 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM