Đây là một bài khác (của 1 WEB site không chính thống, để tránh tranh cãi nên yta xin dấu tên) có liên quan về ngôn ngữ giữa 2 dân tộc Khmer và VN. Các bác biết tiếng K. xin vào tham chiến ( hay ném đá cũng được

) cho vui. Yta có nghe chuyện VN Khmer và Mã Lai chung nguồn gốc ... Nhà văn Bình Nguyên Lộc có hẳn một cuốn sách nói về "Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN", còn khi các nhà nhân chủng học phân loại thì xếp VN mình vào nhóm "Môn-
Khmer", như vậy các bác có thấy người mình và người Khmer khá gần, không thương nhau thì chớ

. Theo yta thấy Miền Nam xài chung rất nhiều chữ với người Khmer, còn người Trung từ Nghệ An tới Huế của mình nói giọng nặng vì pha trộn với người Chàm, yta nghe nói các chữ "mô tê răng rứa" có nguồn gốc Chàm (?), còn miền Bắc thì xài chung chữ với người Trung Hoa (?) v.v... Ý các bác ra sao ạ?
BẢN LIỆT KÊ NHỮNG CHỮ THÔNG DỤNG CỦA VIỆT VÀ KHMER
(theo thứ tự a,b,c)
Á phiện. Khm: a-phiên = loại thuốc khi hút có hậu quả là bệnh ghiền. Tên Hán Việt (HV) là nha phiến do âm chữ Tàu từ chữ “aphyon” và dân ghiền gán cho nó cái tên ả phù dung. Anh và Pháp dùng chữ opium để chỉ loại dược chất nầy. Tên “nha phiến” đã nổi danh trong lịch sử chiến tranh giữa Tàu và các nước Tây phương. Trong “cuộc chiến tranh nha phiến” năm 1842, Tàu thua phải nhường cho các nước Tây phương quyền thương mãi ở những khu đặc biệt gọi là “tô giới”.
Bầu 1. Khm: l-pầu = loại trái như bầu, bí.
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Bầu 2: bình để đựng (như bầu rượu). Khm: lpầu = cái bình tròn rỗng.
Bầu 3: (ghe): tên một loại ghe lớn. Khm: Xòm pầu = ghe bầu; chi xòm pầu = đi ghe bầu. Ca dao miền Nam có câu:
Ghe bầu dọn dẹp kéo neo,
Mấy chú bạn chèo bắt cái hò khoan
Bến Tre. Khm: Srôk Tréy = xóm cá. Có lẽ dân ta đọc là Sóc Tre. Có người giải thích rằng vùng nầy vì có rất nhiều cá nên có nhiều ghe chài lưới, và do đó phải có bến cho ghe đậu. Sóc Tre có thể do đó mà biến thành Bến Tre (xóm cá đã biến thành bến cá).
Bò hóc: một loại mắm cá của người Khmer. Khm: prohôk.
Bò Ót: tên một vùng thuộc tỉnh Cần Thơ. Khm: Srok tùk laak = xóm nước đục.
Bồ nâu. Khm: pô nâu = một loại trái giống trái sung nhưng nhỏ hơn.
Cà Mau: tên vùng cực Nam của VN. Khm: Tuk Khmau = đất đen.
Cà na. Khm: kana. Cà na là loại cây/trái của chi canarium, hình dáng trái cà na không khác gì trái olive và cũng có các màu sắc lúc trái chín như olive: có loại màu đen, có loại màu xanh lợt, có loại màu trắng, cho nên loại cà na đen (loại làm mứt bán trong các tiệm tạp hóa) với tên khoa học canarium pimela được gọi là chinese black olive. Nói về vùng sinh sống chánh, Miền Nam VN được liệt kê vào hàng đầu, rồi tới Mã Lai, Thái Lan (Thailand), Nam Trung quốc. Ca na trong tiếng Việt còn được gọi là tráp (phương Bắc), Trung quốc gọi là lãm, Khmer gọi là kana. Cùng trong chi canarium có loại cây hạt pili được người Phi Luật Tân (Philippines) gọi là kanari. Cà na là từ ngữ trở thành tên gọi của một chi trong khoa học thảo mộc (canarium), bắt nguồn từ tiếng Nam Dương (Indonesia), Khmer hoặc Việt (

.
Cà om. Khm: ko-om = một loại dụng cụ dùng đựng chất nước với dung tích độ vài lít. VN còn gọi cà om là cái “hủ” hay cái “tỉn”.
Cà ràng. Khm: kran = một loại lò bếp, có đáy chứa tro và than. Bếp lò nầy làm bằng đất sét nung, có hai phần rộng, phần rộng phía trước là phần lò lửa, trên miệng có gắn 3 cái chấu (ông táo) để bắc nồi ơ, phần rộng thứ hai là chỗ chứa củi đang chụm. Phần rộng này cũng là nơi chứa tro và than đỏ để làm thành cái bếp nướng (nướng kẹp tre).
[(“Đây là kiến trúc lò thông dụng ở tất cả những ngôi nhà nền đất Hậu giang (Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau). Lò có đáy là để tránh hơi ẩm từ lòng đất rút vào củi lúc đốt lửa.
Kiến trúc lò này cũng thích ứng để sử dụng “đất cháy” của vùng Cà Mau, khi sử dụng đất cháy, phần rộng thứ hai được dùng làm nơi hâm đất cho thoát hơi nước trước khi đưa vào vùng lò đốt (phần rộng thứ nhứt).
Kiến trúc “cà ràng” cũng được thông dụng trong tất cả những nhà sàn vùng Tân Châu, Châu Đốc…, ở nhà sàn, cái đáy của cà ràng còn giữ vai trò bảo vệ cái sàn chống hỏa hoạn.
Kiến trúc cà ràng cũng rất thông dụng trên những chiếc ghe của dân chài lưới, hoặc những ghe có người sống như nhà lưu động, hoặc nhà hàng lưu động. Cà ràng là một trong những biểu tượng của văn hóa hội nhập suốt từ thời khai hoang miền Nam cho tới những năm 70 của thế kỷ 20.” (

]
Cà ròn. Khm: karông = một loại bao nhỏ đa dụng, đan bằng sợi bàng có thể chứa đựng khoảng 20 đến 40 lít, thông dụng nhứt là cà ròn 1 giạ (40 lít); trong lúc bao “bố tời” (chữ Việt gốc Quảng Đông) là loại bao lớn (3 giạ, 120 lít) dùng đựng gạo.
Cầy. Khm: ch-kầy = con chó.
Cồng. Khm: kôông = tên một loại nhạc khí bằng hợp kim của người Khmer.
Châu Đốc: Xưa kia là tên của một tỉnh. Hiện giờ là một phần của tỉnh An Giang. Khm: mắt cruk = miệng heo.
Chắc Cà Đao (ghi chú của yta: địa điểm trên lộ Long Xuyên-Châu Đốc cách Long Xuyên khoảng 10 cây số, qua Năng Gù là tới Chắc Cà Đao, thuộc địa phận huyện Châu Thành): Tên một con rạch và cũng là tên một chợ nhỏ (nay là thị trấn An Châu) gần thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Học giả VHS (7), ghi lại hai giải thích là:
- Theo ông Nguyễn văn Đính, thì địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khm chắp kdam (= bắt cua) mà ra vì vùng nầy xưa kia có nhiều cua.
- Theo nhà văn Sơn Nam (6), Chắc Cà Đao do chữ Prek Pedao; Prek = rạch; pédao = loại dây mây; rạch có nhiều dây mây.
Học giả VHS nói ông nghĩ rằng giả thuyết của Nguyễn văn Đính hợp lý hơn.
Chắc Đốt: Tên một làng thuộc Sóc Trăng. Khm: mo-chap mo-dott = tay bắt cá tay xỏ cá (vô dây). Vùng nầy có nhiều cá nên có thành ngữ “mo-chap mo-dott” và dân ta đặt tên làng Chắc Đốt.
Chông. Khm: chông = cây nhọn làm chướng ngại, hoặc làm bẩy.
Chơn. Khm: chơơng = bên dưới; cũng có nghĩa là cái chơn hay cái chưn, đi chưn.
Chụm. Khm: chum = gom lại, vây lại quanh một cái gì (ví dụ chúng nó ngồi chụm lại quanh chiếc chiếu để nói chuyện riêng).
Duôn hay yuôn: Theo BNL “duôn” là tiếng Ấn Độ có nghĩa là “man di” để chỉ những người không phải người Ấn. Những quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn như Kampuchia, Thái, Lào, Mon và Chăm đều dùng “duôn” để gọi hay chỉ người VN. Có thể họ không hiểu nghĩa của nguyên ngữ “duôn”; hay có thể hiểu nhưng vẫn dùng.
Cáp duồn. Khm: cắp duôn = chặt người Việt. Ngày xưa khi Kampuchia đánh nhau với VN, lúc xông trận họ la “cắp duôn” tức là chém hay chặt người VN (cho chết). Mỗi khi có cuộc nổi loạn của một “sóc” (xóm làng) người Khmer chống lại dân Việt, người Việt thường thông báo nhau là coi chừng bị họ “cáp duồn”. Chữ nầy thông dụng trong khoảng 1940-50. Pròteh duôn = nước Việt.
Ên: một mình, như câu: Tôi tới đây mình ên, không có ai đi chung. Khm: êng, hay k-êng. Chữ “ên” rất thông dụng ở miền Châu Đốc, Rạch Giá.
Ghe chài: ghe có trọng tải lớn. Khm: tuk pokchay. (Đây là một tiếng Khm rất đặc biệt vì tuk là tiếng Khm = ghe; còn pokchay = chở đủ thứ, là tiếng Triều Châu đã được Khmer dùng như là tiếng Khmer. Dân ta dịch chữ tuk ra chữ ghe, nhưng lại mượn chữ pokchay đọc thành “chài” (7). Theo Bình Nguyên Lộc (BNL) (1) người Khm còn gọi ghe chài là thwe.
Hên: may mắn. Khm: hêng (có thể đồng âm đồng nghĩa, tuy vậy trong bộ tự điển của nhà Văn Hoa Xã Hội và tự điển trực tuyến không có chữ hên, trong khi đó trong tự 13 điển Việt-Pháp của Đào Đăng Vỹ có chữ này, như vậy “hên” chắc chắn là từ ngữ của miền Nam, có phải gốc Khmer hay không thì chưa chắc chắn).
Khèn. Khm: khèn = một loại nhạc khí làm bằng nhiều ống trúc, dùng hơi để thổi.
Khiên. Khm: khêl = dụng cụ che chở, chống lại gươm giáo hoặc tên, tránh cho người dùng nó khỏi bị thương.
Khố. Khm: kho-ô = miếng vải nhỏ dùng che giấu bộ phận sinh dục. Chữ nầy thường dùng cho phái nam: đàn ông đóng khố. Trên miền cao nguyên VN, đàn ông của một số bộ lạc dùng khố thay vì quần (và nhiều bộ lạc ở Phi Châu, đàn ông cũng đóng khố). Ngày xưa, một số đàn ông VN vì nghèo quá không có tiền mua quần mặc nên phải đóng khố. Do đó có thành ngữ “khố rách áo ôm”. Trong văn thơ bình dân VN có truyện “Trần Minh khố chuối” (trong câu chuyện nầy, Trần Minh là một thơ sinh nhà nghèo, không có tiền mua vải, phải dùng lá chuối làm khố mặc). Trong tiếng Việt, khố còn có nghĩa là “vải nịt bụng” dùng như dây thắt lưng; thí dụ câu “khăn khố chỉnh tề” (3)
Lấp Vò: địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Khm: srôk tak por = xóm nước nóng.
Lóc (cá). Khm: trêy rot = một loại cá nước ngọt, có rất nhiều ở vùng đồng bằng Cửu Long. Còn có nhiều tên khác nhau như cá chuối, cá quả (Bắc Việt), cá tràu (3). Tên khoa học của loại cá nầy là “ophiocephalus” (cá đầu rắn, vì đầu cá có hình giống đầu rắn).
Lọp. Khm: lộp = dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lọp có gắn một cái “hom” (dụng cụ đan bằng tre hình phễu, cá tôm đi vào được nhưng không ra được), nhiều loại lọp có kết thêm một cái hom ở giữa thân lọp. Lọp dùng đặt nơi tôm cá di chuyển, trường hợp này không cần có mồi, những nơi không phải là “đường cá” như ao, đìa, người ta để mồi vào đáy lọp để nhử tôm cá. Những nhà nông hay ngư phủ ở vùng ĐN–CL đều biết tên dụng cụ nầy.
Lục. Khm: lục = ông. Dân Việt lại dùng chữ “ông lục” để chỉ những nhà sư (ông sãi áo vàng) người Kampuchia.
Mặc nưa. Khm: mắc khưa = loại cây nhỏ, trái nhỏ bằng đầu ngón tay, hột chứa nhiều hóa chất dùng nhuộm quần áo rất tốt.
Mẻ. Khmer: khméh = tên một loại chất chua do cơm nguội để lâu, lên men rượu và thành men giấm, dùng nấu canh chua.
Mẹc. Khm: mek = ông; chức danh cao cấp nhất trong phẩm trật sư sãi Kampuchia. (VN: Ông Lục, Ông Mẹc. Trong tỉnh Trà Vinh có ngôi chùa Khmer mà dân Việt quen gọi là Chùa Ông Mẹc.)