Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:15:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bằng C ngoại ngữ của lính.  (Đọc 354562 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
hachivna
Thành viên
*
Bài viết: 214



« Trả lời #250 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 11:32:03 pm »

@ bác Hai Ruộng: Em cũng có chung ý kiến như bác, không hiểu người biên soạn và Nhà xuất bản Thế giới không nói đến vấn đề thực dân Pháp lợi dụng vấn đề dân tộc để chia rẽ hai dân tộc Việt- Khmer dẫn đến vụ "Cáp Duôn", giá mà có thì hay bác nhỉ. Grin
Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #251 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 10:17:23 pm »

 Bạn TQN có còn nhớ bài hát , mà mình còn nhớ chỉ một câu " Nâu Bót Đom Bong đốt chach boòn ơi ... Bon xom lia hơi ... lia tiet à lai . Bon lìa tâu hơi , nâu chach mình xngai là la la là la la ... " . Bài hát nầy mình rất thích , nhưng bây giờ thì quên mất rồi , trong đầu chỉ còn mạch điện mà thôi , mình cố nhớ hoài mà nhớ không được .
 À ! còn bài hát " ọp-o sa-tô , tồ-tuôl om-no , bo-vo sua-xà-đây . Óp-o sa-tồ sa-ma-đây trợm-trồ , nâng chây -chằm-nes . Chây-dô prey-mit xa-ngai-chit xom chôl mo ... quên rồi ... xom tô tul .. quên ... đót-chach tho-mo-so . .."Tới đây là mình qu6n mất luôn rồi nhò anh TQN chi viện vậy .
Logged
TQNam
Thành viên
*
Bài viết: 1267


« Trả lời #252 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 07:39:23 am »

Dạ, cái gì chứ nhạc thì em dốt đặc cán ... chổi. Nhạc Việt mà có mấy bài nhớ được lời, nhớ tác giả, đâu ạ. Giờ anh ghi lại thấy ... khó trả lời.
Bài đầu hình như có từ thời Sihanuc thì phải, rất dạt dào, bài nầy mà tấu nhạc rồi chị em đi điệu Xarawan thì thua gì khúc Nghê thường của Đường Minh Hoàng ngàn năm trước.
Bài hai thì có mấy lính mình thời đó không biết.

Hồi cuối năm rồi, khi họp mặt chiến hữu nhân kỹ niệm 30 năm, anh em hát tùm lum bài, như Xvay-chanh-ti, Op-o-xa-tô, Ao-ca-la-hong, rồi gì gì nữa đó, tôi đực mặt ra. Anh em hỏi, sao mầy không hát? Khỉ khô, hồi đó tao còn không hát được, giờ cũng vổ tay nhịp theo như ngày xưa ấy!
Logged
Bodoibucket
Thành viên
*
Bài viết: 913


« Trả lời #253 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:10:46 am »

Hơ hơ, tối qua em được xem tin nhắn của các cháu thiếu nhi đi nghỉ hè bên K. Các cháu vui lắm! Dịp này là lễ hội của dân K mà, các cháu nói tiếng K búa xua. Cái gì mà " ... boòng ơi tha mách ?"
Logged
yta262
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1694


y tá e262, f302, MT479


« Trả lời #254 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:12:04 am »

Đây là một bài khác (của 1 WEB site không chính thống, để tránh tranh cãi nên yta xin dấu tên) có liên quan về ngôn ngữ giữa 2 dân tộc Khmer và VN. Các bác biết tiếng K. xin vào tham chiến ( hay ném đá cũng được  Grin) cho vui. Yta có nghe chuyện VN Khmer và Mã Lai chung nguồn gốc ... Nhà văn Bình Nguyên Lộc có hẳn một cuốn sách nói về "Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN", còn khi các nhà nhân chủng học phân loại thì xếp VN mình vào nhóm "Môn-Khmer", như vậy các bác có thấy người mình và người Khmer khá gần, không thương nhau thì chớ  Grin. Theo yta thấy Miền Nam xài chung rất nhiều chữ với người Khmer, còn người Trung từ Nghệ An tới Huế của mình nói giọng nặng vì pha trộn với người Chàm, yta nghe nói các chữ "mô tê răng rứa" có nguồn gốc Chàm (?), còn miền Bắc thì xài chung chữ với người Trung Hoa (?) v.v... Ý các bác ra sao ạ?


BẢN LIỆT KÊ NHỮNG CHỮ THÔNG DỤNG CỦA VIỆT VÀ KHMER
(theo thứ tự a,b,c)

Á phiện. Khm: a-phiên = loại thuốc khi hút có hậu quả là bệnh ghiền. Tên Hán Việt (HV) là nha phiến do âm chữ Tàu từ chữ “aphyon” và dân ghiền gán cho nó cái tên ả phù dung. Anh và Pháp dùng chữ opium để chỉ loại dược chất nầy. Tên “nha phiến” đã nổi danh trong lịch sử chiến tranh giữa Tàu và các nước Tây phương. Trong “cuộc chiến tranh nha phiến” năm 1842, Tàu thua phải nhường cho các nước Tây phương quyền thương mãi ở những khu đặc biệt gọi là “tô giới”.

Bầu 1. Khm: l-pầu = loại trái như bầu, bí.
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Bầu 2: bình để đựng (như bầu rượu). Khm: lpầu = cái bình tròn rỗng.

Bầu 3: (ghe): tên một loại ghe lớn. Khm: Xòm pầu = ghe bầu; chi xòm pầu = đi ghe bầu. Ca dao miền Nam có câu:
Ghe bầu dọn dẹp kéo neo,
Mấy chú bạn chèo bắt cái hò khoan

Bến Tre. Khm: Srôk Tréy = xóm cá. Có lẽ dân ta đọc là Sóc Tre. Có người giải thích rằng vùng nầy vì có rất nhiều cá nên có nhiều ghe chài lưới, và do đó phải có bến cho ghe đậu. Sóc Tre có thể do đó mà biến thành Bến Tre (xóm cá đã biến thành bến cá).

Bò hóc: một loại mắm cá của người Khmer. Khm: prohôk.

Bò Ót: tên một vùng thuộc tỉnh Cần Thơ. Khm: Srok tùk laak = xóm nước đục.

Bồ nâu. Khm: pô nâu = một loại trái giống trái sung nhưng nhỏ hơn.

Cà Mau: tên vùng cực Nam của VN. Khm: Tuk Khmau = đất đen.

Cà na. Khm: kana. Cà na là loại cây/trái của chi canarium, hình dáng trái cà na không khác gì trái olive và cũng có các màu sắc lúc trái chín như olive: có loại màu đen, có loại màu xanh lợt, có loại màu trắng, cho nên loại cà na đen (loại làm mứt bán trong các tiệm tạp hóa) với tên khoa học canarium pimela được gọi là chinese black olive. Nói về vùng sinh sống chánh, Miền Nam VN được liệt kê vào hàng đầu, rồi tới Mã Lai, Thái Lan (Thailand), Nam Trung quốc. Ca na trong tiếng Việt còn được gọi là tráp (phương Bắc), Trung quốc gọi là lãm, Khmer gọi là kana. Cùng trong chi canarium có loại cây hạt pili được người Phi Luật Tân (Philippines) gọi là kanari. Cà na là từ ngữ trở thành tên gọi của một chi trong khoa học thảo mộc (canarium), bắt nguồn từ tiếng Nam Dương (Indonesia), Khmer hoặc Việt (Cool.

Cà om. Khm: ko-om = một loại dụng cụ dùng đựng chất nước với dung tích độ vài lít. VN còn gọi cà om là cái “hủ” hay cái “tỉn”.

Cà ràng. Khm: kran = một loại lò bếp, có đáy chứa tro và than. Bếp lò nầy làm bằng đất sét nung, có hai phần rộng, phần rộng phía trước là phần lò lửa, trên miệng có gắn 3 cái chấu (ông táo) để bắc nồi ơ, phần rộng thứ hai là chỗ chứa củi đang chụm. Phần rộng này cũng là nơi chứa tro và than đỏ để làm thành cái bếp nướng (nướng kẹp tre).
[(“Đây là kiến trúc lò thông dụng ở tất cả những ngôi nhà nền đất Hậu giang (Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau). Lò có đáy là để tránh hơi ẩm từ lòng đất rút vào củi lúc đốt lửa.
Kiến trúc lò này cũng thích ứng để sử dụng “đất cháy” của vùng Cà Mau, khi sử dụng đất cháy, phần rộng thứ hai được dùng làm nơi hâm đất cho thoát hơi nước trước khi đưa vào vùng lò đốt (phần rộng thứ nhứt).
Kiến trúc “cà ràng” cũng được thông dụng trong tất cả những nhà sàn vùng Tân Châu, Châu Đốc…, ở nhà sàn, cái đáy của cà ràng còn giữ vai trò bảo vệ cái sàn chống hỏa hoạn.
Kiến trúc cà ràng cũng rất thông dụng trên những chiếc ghe của dân chài lưới, hoặc những ghe có người sống như nhà lưu động, hoặc nhà hàng lưu động. Cà ràng là một trong những biểu tượng của văn hóa hội nhập suốt từ thời khai hoang miền Nam cho tới những năm 70 của thế kỷ 20.” (Cool]

Cà ròn. Khm: karông = một loại bao nhỏ đa dụng, đan bằng sợi bàng có thể chứa đựng khoảng 20 đến 40 lít, thông dụng nhứt là cà ròn 1 giạ (40 lít); trong lúc bao “bố tời” (chữ Việt gốc Quảng Đông) là loại bao lớn (3 giạ, 120 lít) dùng đựng gạo.

Cầy. Khm: ch-kầy = con chó.

Cồng. Khm: kôông = tên một loại nhạc khí bằng hợp kim của người Khmer.

Châu Đốc: Xưa kia là tên của một tỉnh. Hiện giờ là một phần của tỉnh An Giang. Khm: mắt cruk = miệng heo.

Chắc Cà Đao (ghi chú của yta: địa điểm trên lộ Long Xuyên-Châu Đốc cách Long Xuyên khoảng 10 cây số, qua Năng Gù là tới Chắc Cà Đao, thuộc địa phận huyện Châu Thành): Tên một con rạch và cũng là tên một chợ nhỏ (nay là thị trấn An Châu) gần thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Học giả VHS (7), ghi lại hai giải thích là:
- Theo ông Nguyễn văn Đính, thì địa danh Chắc Cà Đao có thể do chữ Khm chắp kdam (= bắt cua) mà ra vì vùng nầy xưa kia có nhiều cua.
- Theo nhà văn Sơn Nam (6), Chắc Cà Đao do chữ Prek Pedao; Prek = rạch; pédao = loại dây mây; rạch có nhiều dây mây.
Học giả VHS nói ông nghĩ rằng giả thuyết của Nguyễn văn Đính hợp lý hơn.

Chắc Đốt: Tên một làng thuộc Sóc Trăng. Khm: mo-chap mo-dott = tay bắt cá tay xỏ cá (vô dây). Vùng nầy có nhiều cá nên có thành ngữ “mo-chap mo-dott” và dân ta đặt tên làng Chắc Đốt.

Chông. Khm: chông = cây nhọn làm chướng ngại, hoặc làm bẩy.

Chơn. Khm: chơơng = bên dưới; cũng có nghĩa là cái chơn hay cái chưn, đi chưn.

Chụm. Khm: chum = gom lại, vây lại quanh một cái gì (ví dụ chúng nó ngồi chụm lại quanh chiếc chiếu để nói chuyện riêng).

Duôn hay yuôn: Theo BNL “duôn” là tiếng Ấn Độ có nghĩa là “man di” để chỉ những người không phải người Ấn. Những quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn như Kampuchia, Thái, Lào, Mon và Chăm đều dùng “duôn” để gọi hay chỉ người VN. Có thể họ không hiểu nghĩa của nguyên ngữ “duôn”; hay có thể hiểu nhưng vẫn dùng.

Cáp duồn. Khm: cắp duôn = chặt người Việt. Ngày xưa khi Kampuchia đánh nhau với VN, lúc xông trận họ la “cắp duôn” tức là chém hay chặt người VN (cho chết). Mỗi khi có cuộc nổi loạn của một “sóc” (xóm làng) người Khmer chống lại dân Việt, người Việt thường thông báo nhau là coi chừng bị họ “cáp duồn”. Chữ nầy thông dụng trong khoảng 1940-50. Pròteh duôn = nước Việt.

Ên: một mình, như câu: Tôi tới đây mình ên, không có ai đi chung. Khm: êng, hay k-êng. Chữ “ên” rất thông dụng ở miền Châu Đốc, Rạch Giá.

Ghe chài: ghe có trọng tải lớn. Khm: tuk pokchay. (Đây là một tiếng Khm rất đặc biệt vì tuk là tiếng Khm = ghe; còn pokchay = chở đủ thứ, là tiếng Triều Châu đã được Khmer dùng như là tiếng Khmer. Dân ta dịch chữ tuk ra chữ ghe, nhưng lại mượn chữ pokchay đọc thành “chài” (7). Theo Bình Nguyên Lộc (BNL) (1) người Khm còn gọi ghe chài là thwe.

Hên: may mắn. Khm: hêng (có thể đồng âm đồng nghĩa, tuy vậy trong bộ tự điển của nhà Văn Hoa Xã Hội và tự điển trực tuyến không có chữ hên, trong khi đó trong tự 13 điển Việt-Pháp của Đào Đăng Vỹ có chữ này, như vậy “hên” chắc chắn là từ ngữ của miền Nam, có phải gốc Khmer hay không thì chưa chắc chắn).

Khèn. Khm: khèn = một loại nhạc khí làm bằng nhiều ống trúc, dùng hơi để thổi.

Khiên. Khm: khêl = dụng cụ che chở, chống lại gươm giáo hoặc tên, tránh cho người dùng nó khỏi bị thương.

Khố. Khm: kho-ô = miếng vải nhỏ dùng che giấu bộ phận sinh dục. Chữ nầy thường dùng cho phái nam: đàn ông đóng khố. Trên miền cao nguyên VN, đàn ông của một số bộ lạc dùng khố thay vì quần (và nhiều bộ lạc ở Phi Châu, đàn ông cũng đóng khố). Ngày xưa, một số đàn ông VN vì nghèo quá không có tiền mua quần mặc nên phải đóng khố. Do đó có thành ngữ “khố rách áo ôm”. Trong văn thơ bình dân VN có truyện “Trần Minh khố chuối” (trong câu chuyện nầy, Trần Minh là một thơ sinh nhà nghèo, không có tiền mua vải, phải dùng lá chuối làm khố mặc). Trong tiếng Việt, khố còn có nghĩa là “vải nịt bụng” dùng như dây thắt lưng; thí dụ câu “khăn khố chỉnh tề” (3)

Lấp Vò: địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Khm: srôk tak por = xóm nước nóng.

Lóc (cá). Khm: trêy rot = một loại cá nước ngọt, có rất nhiều ở vùng đồng bằng Cửu Long. Còn có nhiều tên khác nhau như cá chuối, cá quả (Bắc Việt), cá tràu (3). Tên khoa học của loại cá nầy là “ophiocephalus” (cá đầu rắn, vì đầu cá có hình giống đầu rắn).

Lọp. Khm: lộp = dụng cụ đan bằng tre, dùng để bắt cá tôm. Một đầu của lọp có gắn một cái “hom” (dụng cụ đan bằng tre hình phễu, cá tôm đi vào được nhưng không ra được), nhiều loại lọp có kết thêm một cái hom ở giữa thân lọp. Lọp dùng đặt nơi tôm cá di chuyển, trường hợp này không cần có mồi, những nơi không phải là “đường cá” như ao, đìa, người ta để mồi vào đáy lọp để nhử tôm cá. Những nhà nông hay ngư phủ ở vùng ĐN–CL đều biết tên dụng cụ nầy.

Lục. Khm: lục = ông. Dân Việt lại dùng chữ “ông lục” để chỉ những nhà sư (ông sãi áo vàng) người Kampuchia.

Mặc nưa. Khm: mắc khưa = loại cây nhỏ, trái nhỏ bằng đầu ngón tay, hột chứa nhiều hóa chất dùng nhuộm quần áo rất tốt.

Mẻ. Khmer: khméh = tên một loại chất chua do cơm nguội để lâu, lên men rượu và thành men giấm, dùng nấu canh chua.

Mẹc. Khm: mek = ông; chức danh cao cấp nhất trong phẩm trật sư sãi Kampuchia. (VN: Ông Lục, Ông Mẹc. Trong tỉnh Trà Vinh có ngôi chùa Khmer mà dân Việt quen gọi là Chùa Ông Mẹc.)
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:58:23 am gửi bởi yta262 » Logged

Đạn bom ơi ... lòng tham ơi ... khí giới nào diệt nổi dân ta ...
yta262
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1694


y tá e262, f302, MT479


« Trả lời #255 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:14:57 am »

Mùng. Khm: mung = dụng cụ bằng vải thưa và mỏng, dùng chặn muỗi khỏi cắn người ngủ bên trong. Ca dao:
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không, ai dám giở mùng chun vô.
Hoặc: Khoác mùng ra thấy mùng không
Gối loan để đó lệ hồng tuôn rơi.
(Có thể nói chắc chắn mùng là từ ngữ của miền Nam, được sử dụng rất lâu đời, nhưng ai vay mượn của ai chưa thể xác định được. Khách quan mà nói, mùng là một kiến trúc bằng vải, thuở nguyên thủy của cái mùng có thể do người Việt sáng chế, vì người Khmer đã có cái nóp) (Cool.

Mỹ Lồng: địa danh và tên sông thuộc Tiền Giang (Kiến Hòa). Khm: Srok Mi Lôn = xứ, xóm của nàng tên Lôn.

Ná. Khm: sna = dụng cụ bắn chim hình chữ V có cán, buộc dây thun, dùng bắn viên đạn tròn ra (giàn thun). Tục ngữ VN có câu “đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nôm”. Ca dao có câu:
Tiếc công chuốt ná lau tên
Nhạn bay về đền công uổng danh hư.

Phum. Khmer: phuum = xóm hay làng có cây.

Sa Đéc: Tên một tỉnh ngày xưa. Khm: phsar dèk = chợ (bán) sắt.

Sầu riêng. Khm: turen. Tên một loại cây/trái đặc sản miền Nam. Tên loại cây/trái này đã được đưa vào danh sách thảo mộc thế giới năm 1776 cho cả một chi (Genus), Durio, với cái tên Durio zibethinus L. Dù rằng Durio zibethinus L. rất có thể gốc từ tiếng Nam Dương (Djoerian), nhưng chiếc cầu từ Djoerian sang Sầu riêng có thể là từ gốc Khmer “Turen”. Từ ngữ để gọi cây/trái sầu riêng hầu hết các nước trên thế giới có giọng đọc tương tự như tiếng Anh/Pháp/Đức/Tây Ban Nha (Spain): Durian (Cool.

Sóc Trăng: Tên một tỉnh. Khm: Srok Khlẳn (khléang) = Xóm kho bạc. Khi vùng nầy còn thuộc Thủy Chân Lạp, người Khmer có lập một kho chứa vàng và bạc ở đây.

Soài Rạp hay Lôi lạp: tên cửa biển có nhiều mũi đất, thuộc quận Tân Hưng, tỉnh Gò Công. Khm: Péam prêk chroy phkẩm. Theo ông Vương Hồng Sển, Péam prek = cửa biển, chroy = mũi đất, và phkham = xâu chuổi.

Sọt (sọt rác): giỏ đựng rác hay giấy vụn, làm bằng bằng tre đan. Khmer: kksok.

Tầm phong luông hay Tầm phong long là một địa danh thuộc Châu Đốc. Khm: Kampong luông (hay Kompong luon). Kampong = vũng nước, luông (hay luon) = vua. Có nghĩa bờ sông có vua đến (“bến vua” hay “bến ngự”). Ngày xưa nơi nào vua Kampuchia ghé ghe (thuyền) nghỉ ngơi, người Khmer gọi nơi đó là Kampong Luông. Về địa lý, địa danh Kampong luông hay Tầm phong long là một vùng rất rộng trải dài từ Vĩnh Long - Sa Đéc đến khỏi Long Xuyên - Châu Đốc, sang đất Kampuchia ngày nay. Vào thế kỷ 18, vua Kp dâng vùng đất khoảng An Giang ngày nay (Long Xuyên-Châu đốc) cho VN. Vì vậy một vùng đất gần biên giới VN/Kp có tên là Tầm phong long. Sau nay Tầm phong long đổi thành Hồng ngự, tên một quận thuộc tỉnh An Giang.
[Trong quyển Sài Gòn Tạp pín lù (một quyển sách kể nhiều chuyện liên quan đến Sài Gòn ngày xưa, không phải là sách nghiên cứu) ông VHS có kể rằng vùng đất quanh cột cờ Thủ Ngữ (mũi đất ở ven sông Sài Gòn, có biệt danh là Point des blagueurs = mũi tán dóc) ngày xưa còn gọi là “Kampong Luông” vì “ngày trước phó vương Đàn Thổ thường ra tắm sông nơi nầy” (trang 392) (xưa dân ta gọi người Khmer là Thổ hoặc Đàn Thổ hay Đàng Thổ (?). Nếu chuyện nầy đúng, thì địa danh Tầm phong long phải bắt đầu từ vùng Sài Gòn, chớ không phải từ Vĩnh Long.]

Tha la. Khmer: sala = chòi nhỏ ngoài đồng.

Thau lau (cây). Khm: sralau = loại cây quí, gỗ màu trắng rất cứng nhưng dòn.

Thốt nốt. Khm: Thnốt = thực vật thuộc họ dừa, trái cho mật dùng làm đường. Đường thốt nốt là một đặc sản nổi danh của Kp.

Tra (cá). Khm: trêy pra = tên loại cá nước ngọt có da láng. Cá tra có loại lưng đen bụng trắng (cá tra đen) và loại lưng xám bụng trắng (cá tra xám).
[Cả hai loại đều rất lớn con, những con cá tra bắt được vùng Vàm Nao (chỗ thông nhau của Tiền-Hậu Giang) có trọng lượng 150 đến 200 kg (cá tra đen) và 70 đến 150 kg (cá tra xám). Về sau người ta đặt tên Việt cho một loại cá này là “cá bông lau”. Giống cá tra đen dễ nuôi nên được nuôi xuất khẩu. Bất hạnh trong vụ đặt tên mới này ở chỗ ta đã có một loại cá mang tên đó từ xưa, vì trên lưng chúng có sọc tương tợ hình bông lau. Do đó, cá bông lau trở thành cá bông và cá tra đen trở thành cá bông lau (Cool ]

Trà Ngoa: tên một ngôi chùa ở Cần Thơ. Khm: vat svày = chùa xoài.

Úc: tên một phụ chi cá sông thuộc họ cá có râu, có 3 ngạnh (2 ngạnh mang và ngạnh lưng). Khm: úc; trêy úc = cá úc.
[(Cá úc: Cá có râu, 3 ngạnh sống gần mặt nước gồm cá lăng và cá chốt. Cá có râu 3 ngạnh sống ở đáy sông gồm cá ngác và các loại cá úc. Trong nhóm (phụ chi) cá úc, lớn con nhứt là cá úc nghệ, kế tới là cá úc dừa, nhỏ con nhứt là cá úc chuột (bây giờ là cá chốt chuột). Cá úc nghệ màu vàng nghệ, nhiều xương, có trứng bằng đầu đũa cũng màu vàng nghệ (to hơn golden caviar). Người ta phẩm bình rằng trứng cá úc nghệ ngon hơn golden caviar. Loại cá úc dừa, màu xám, là loại nhiều nhứt sống ở sông, ít xương, nhiều thịt, trứng rất ngon, có thể so với caviar đen. Cá út chuột chỉ to bằng ngón chưn cái, màu đen đốm to và trắng, ít xương. Món ăn cố cựu từ cá úc là canh chua (Cool.]

Vàm. Khm: péam = cửa sông, nơi một con sông nhỏ (rạch) chảy vào con sông lớn. Ở đồng bằng ĐN-CL có nhiều sông rạch, do đó có rất nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ “vàm” như Vàm Cống (thuộc An Giang), Vàm Nước Trong (Kiến Hòa), Vàm Sông Thượng (Cần Thơ), Vàm Nao (An Giang).
Vàm Nao: một trong những địa danh nổi tiếng ở miền Nam. Địa danh nầy đã đi vào văn chương bình dân VN:
“Ngó lên Châu Đốc Vàm Nao,
Thấy buồm em chạy như dao cắt lòng;
Ngó lên Châu Đốc Vàm Nao,
Thấy con cá đao bổ nhào vô lưới,
Biết chừng nào anh cưới được em;
Ngó lên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao,
Anh thương em ruột thắt gan bào,
Biết em thương lại chút nào hay không ?.”
Chữ “vàm” còn dùng làm tên sông: sông Vàm Cỏ có nguồn từ Kampuchia, gồm hai nhánh. Vàm Cỏ Đông (chảy ngang qua Bến Lức) và Vàm Cỏ Tây (ngang qua Tân An). Cả hai sông nầy ở phía Nam của Sài Gòn.

Vắt. Khm: tiek = một loại động vật hút máu, sống trên đất ẩm tới khô, nơi đất khô vắt bị khô cứng khi có nắng nên chỉ hoạt động về đêm tới sáng tinh sương mà thôi. Vắt phát hiện và định hướng động vật hoặc người bằng sự sai biệt nhiệt độ. Vắt có thể cảm nhận sai biệt nhiệt độ dưới 1 độ (C) chênh lệch, chúng di chuyển rất nhanh về hướng nhiệt độ cao để bám vào thú hoặc người và hút máu.

Vĩnh Long (hay Vũng Luông, Vãng luông): tên một tỉnh vùng Hậu Giang. Cũng có nguồn từ chữ Kampong luông. Kompong = vũng. Luông = vua = Long.
[Có thể là VN, Kampuchia và cả Lào đều mượn chữ “long” (= rồng) = “vua” của Trung Hoa. Khmer có Kampong Luông; VN có Tầm phong Long; Laos có Luôngprapang (Louang Prabang); tất cả đều liên hệ đến chữ vua.]

Xà di. (không rõ cách viết âm theo Khm). Một loại bẫy. Có 2 loại xà di: xà di chuột và xà di cá. Xà di chuột có kiến trúc tròn dài bằng tre, đường kính độ 10-15 cm, dài độ 1 m, có hai hom, dùng bắt chuột vào đầu mùa khô. Xà di cá có kiến trúc là một cái lưới 5 mạng hình ống loa bằng dây lăng hoặc dây đừng. Bắt cá bằng xà di là một cách săn cá rất điệu nghệ của người Việt/Khmer Hậu Giang: chỉ những loại cá quá khích như cá lóc, cá bông (lau) mới mắc vào xà di. Chúng dùng toàn lực chui vào để phá cho hư hỏng.

Xà neng. Khm = sneng. Dụng cụ đa năng bằng nang tre của người Khmer, có hình một cái xuổng. Người Khm dùng để xúc lúa và bắt cá. Người TH ở Việt Nam dùng xúc lúa, người Việt tiếp nhận để bắt cá cận bờ.

Xăm (cũng đọc là xom). Khm: xăm = cây chỉa có 3 đầu nhọn dùng đâm (chỉa) cá. Danh từ xăm (vật dụng) và động từ xăm (chỉa) đã hoàn toàn Việt hóa từ lâu đời.

Xoài. Khm: Svay. (xin xem địa danh Chùa Xoài). Loại cây/trái đặc sản của vùng nhiệt đới, tên khoa học Mangifera Indica L.

Yuôn: (Xem chữ Duôn).
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:59:01 am gửi bởi yta262 » Logged

Đạn bom ơi ... lòng tham ơi ... khí giới nào diệt nổi dân ta ...
tran479
Thành viên
*
Bài viết: 793


« Trả lời #256 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:42:33 am »

Nhớ đâu ...thêm thắt đó :
 -Num banh hoi : bánh hỏi .
 -câu tiêu : hủ tiếu .
 - num cam : bánh cam.
Logged
yta262
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1694


y tá e262, f302, MT479


« Trả lời #257 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:43:41 am »

NHỮNG CHỮ VIỆT ĐỒNG ÂM và ĐỒNG NGHĨA VỚI CHỮ KHMER

Một số nhỏ những chữ nầy trích ra từ quyển “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN ” (NGML) của tác giả Bình Nguyên Lộc (BNL). Sau mỗi chữ trích từ sách BNL sẽ có dấu qui ước*. Ví dụ: Ăn* [ănh] = VN Ăn, Khm [ăng]. Những chữ không ghi dấu qui ước, trích từ CD của Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng (NHV), và có nơi ghi thêm ý kiến riêng của giáo sư Phan Tấn Tài hay của chúng tôi khi viết bài nầy. Trong số những chữ bên dưới đây, có nhiều chữ người Việt đã dùng từ xưa, có nhiều chữ không biết ai mượn của ai, rất khó xác định nguyên gốc. Ngoài ra còn có những chữ tượng thanh, thì nếu âm giống nhau sẽ không có gì đáng ngạc nhiên. Điều đáng nói là một số khá đông chúng ta ít có người biết được sự sử dụng giống nhau nầy.

BẢN LIỆT KÊ

Sau đây là bảng liệt kê một số rất nhỏ những chữ thuộc loại đồng âm đồng nghĩa hay âm & nghĩa gần giống nhau. (Vì là dùng tiếng VN để ký âm, nên có thể có những chữ diễn tả không đúng như âm Khm vì không có những âm tương đương trong vần VN, hoặc chỗ thì dùng “c” chỗ thì dùng “k” (trường hợp chữ côn / kôn) do khác tác giả.

------------------
Ả trong chữ óng ả = tốt đẹp. Khm: k-ả k-óng.
Ách: đầy trướng lên như “no phát ách”. Khm: Ch-ach, chòm-ach = no đầy.
Ác = một loài chim. Khm: ak hay k-ak = con diều. Người Việt gọi chim “ác là”, là một loại chim săn như ó, diều, có
lông trắng, thân hình nhỏ hơn ó hay diều, có giọng la nhức tai mỗi khi chúng chạm trán với nhau.
Ảng (hay Áng): vật dụng đựng nước. Người Việt hiểu ảng là một loại chậu nước lớn và trẹt. Khm: ang = hồ nước (như hồ nuôi cá, hồ tắm, hồ nước trên núi).
Ao: hồ nước nhỏ. Khm: ao = hồ nước nhỏ.
Ăn* (ăn uống). [ănh.]
Ắp: đầy. Khm: ắp, kh-ăp.
Âu yếm: thương, quyến luyến. Khm: kr-yêm = thẹn thùng; có vẻ thương nhau.
Bang hay báng: phình to (chang bang). Khm: kàm bang, kàm piang = chè bè ra, phình ra.
Băng: bó kín. Khm: kòm băng, boom băng.
Bắt (buộc): ép phải làm theo. Khm: bătch; chàm-bătch = yêu cầu, đòi hỏi.
Bắn*. [panh.]
Can: cản ngăn chận. Khm: khang = can ngăn.
Cà: trái cà. Khm: kar, klar.
Cà chớn: lười biếng, vô tư cách, vô trách nhiệm. Khm: kh-chơi, kchưl = cà chớn; kần chrới = vô trách nhiệm; kàm chơi = nhác nhớm.
Cà kê: khề khà (cà kê dê ngổng). Khm: r-kề r-cà.
Cà nhắt: khập khểnh. Khm: kh-nhak; dao nhăk nhok = đi ỏng ẹo.
Cà tong: ốm tong teo. Khm: kr-taong = cà tong cà teo.
Cà thọt: (đi chân thấp chân cao). Khm: kòn chọt = xiêu vẹo.
Càng: thêm (như “được như vậy càng tốt”). Khm: kàng = hơn, thêm nữa.
Căm: giận. Khm: r-kăm; rkam chơi = lòng căm giận.
Cháu* (con cháu). [cha.]
Chí* (rận). [chaay.]
Chín* (nấu chín, trái cây chín). [ch’eanh.]
Chó* (con vật). [cho.]
(Chò) ho, cho ho : một cách ngồi. Khm: ch-hoh = ngồi trên hai chân, đít không chạm đất (ngồi chồm hổm).
Chơn (chưn). Khm: chơơng = bên dưới; cũng có nghĩa là cái chơn hay cái chưn.
Con* (cha con). [côn.]
Con (cha con). Khm: kôn, kun. Kôn chau = con cháu.
Con (con vật). Khm: kôn. Kôn ch-kêy = con chó.
Con ruồi* (ruồi muỗi). [ko ruy.]
Còng* (vòng): cái vật còng tay. [kong.]
E: có ý sợ như e dè, e ngại. Khm: bòng e bòng ung = e ngại, ấp úng. È ạch, Ì ạch: nặng nề, khó nhọc. Khm: ph-è, chàm-è.
Ẹ: dơ bẩn. Khm: ch-e; klơn ch-e = mùi hôi. Èo ọp: ốm yếu. Khm: r-op, tr-op.
Ém: dấu mất. Khm: Ém.
Ép: đẩy dính sát vào nhau, làm áp lực. Khm: ép, bòng-ep.
Ê: đau, hơi đau. Khm: xằng ê; xằng ê thmin = ê răng. Êm: dịu, nhẹ nhàng. Khm: ph-êm.
Ếch: như ếch nhái. Khm: ênh hay ếch; côn chanh ch-ếch = con ếch.
Ghe* (thuyền). [thwe] : ghe chài, loại ghe lớn.
Hằn học: giận. Khm: kàm hok = nạt nộ, la mắng.
Hầm: nấu lâu. Khm: hầm.
Hấn: hư, như “không hề hấn gì”, không bị hư hao chút nào. Khm: hân = làm hư hại.
[ Trong tiếng Việt, chữ hấn đứng riêng chỉ có nghĩa theo tiếng Hán Việt là thù oán, trong chữ nôm (VN) chỉ đi chung với (hề) hấn tức thiệt hại. Nếu là từ Việt gốc Kp thì hấn chỉ đóng vai trò từ ghép mà thôi. Từ hấn trong chữ ghép hề hấn là một cấu trúc của tiếng Việt, chính chữ hấn ở đây không có nghĩa gì hết, nhưng đi chung với hề (hệ) mới có nghĩa (Cool.]
Hất: làm văng ra. Khm: hất.
Logged

Đạn bom ơi ... lòng tham ơi ... khí giới nào diệt nổi dân ta ...
yta262
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1694


y tá e262, f302, MT479


« Trả lời #258 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:45:21 am »

Heo hút: vắng hẻo lánh. Khm: hieo hay r heo hay tleo = vắng trống, hiu quạnh.
Hênh : hở như hớ hên. Khm: r-hêng, pr hêng; kr-hêng = để hở ra.
(Tác) hoát: mở rộng ra. Khm: puồng hoát.
Hiên: phần ngoài của nhà. Khm: riên hay hiên.
Hò: (như hò hát). Khm: hò, tr-hò. Hò còn có nghĩa giữ lại.
Hóc: mắc xương. Khm: k-hok.
Hóc: hẻm, kẹt. Khm: l-hok = hóc
Ì: không di chuyển. Khm: ì : chậm, khó nhọc. Ì ạch: nặng nhọc, chậm chạp. Khm: ik-ak = khệ nệ, hì hục.
Im: không có tiếng động. Khm: sng-iêm, kr-im.
Kình (hay kềnh): to lớn như chày kình, kềnh càng. Khm: kềng = to lớn. Kỉnh: gắt gỏng, cáu kỉnh. Khm: kin = la rầy, quở mắng.
Kíp: cái bật, cái ngòi nổ. Khm: kip hay krip = ngòi nổ.
Kít kít: tiếng kêu như câu “cò ke cút kít”. Khm: krit krit, nghit nghit, krut krưt.
La* (hét). [lôla.]
Lá* (lá cây). [slat.]
Mái* (giống cái loài chim). [maai.] = cung phi.
Mặt* (mặt mủi). [muk.]
Mây* (đám hơi nước trên trời). [mek.] = mây, hay trời.
Mẹ*(cha mẹ). [mê.] = đàn bà trẻ tuổi; [ma đai.] mẹ, má.
Mới* (mới cũ). [thmây.]
Múi* (màu). [mau.]
Muỗi* (ruồi muỗi). [mú.]
Năm* (gồm 12 tháng). [cho-nam.]
Ngày* (ngày đêm). [thngay.]
Ngáp* (ngáp buồn ngủ). [sngáp.]
Nghêu. Khm: nghiêu = con sò, con ngao. Đây là loại có vỏ sống ở bãi cát sông hay biển. [Xa ngao 蛼螯 con nghêu (từ điển Hán Việt Thiều Chửu). Đây cũng là chữ cùng âm cùng nghĩa (Cool.]
Người* (người ta). [m’nư.]
Nhắm* (ăn). [nham.]
Non* (núi, non). [phơnơm.]
O o: tiếng kêu. Khm: or or = tiếng ồn ào.
Ỏn ẻn: uốn éo yểu điệu. Khm: en-on; đa en- on: đi ỏn ẻn.
Oằn: cong (“đến sắt cũng phải oằn” Nguyễn Công Hoan). Khm: kr-oằng.
Ọc: ói ra, đổ ra. Khm: bòng-ọc: đổ ọc vào.
Ô hô: tiếng than (tiếng Việt cổ). Khm: ô.
Ồ ồ: tiếng kêu. Khm: ồ ồ, kr-ồ; niyây ồ ồ = nói ồ ồ.
Ở: chỗ cư trú. Khm: ơ; ơ na = ở đâu; ơ kớt = ở phía đông; ơ kra-oi = ở phía đàng sau.
Sạch* (sạch sẽ). [soạt.]
Sâu* (ngược với cạn). [chrau.]
Tắc kè* (geico). [tắc kè.]
Thêm* (thêm bớt). [them.]
Ù ù: tiếng động. Khm: xờ ù, ù ù.
Út: nhỏ nhất như con út, ngón tay út. Khm: t-utch, p-utch, đàm-nutch, t-uôtch. A t-utch = thằng bé nhỏ nhất; chông p-utch = sau hết.
Ươn: hư (cá ươn), thấp kém (ươn hèn). Khm: bòng-ê, bòng ương = hèn kém, kém cõi, bất lực.
Ưỡn: đưa ra, nảy ra. Khm: ươt = nhổm lên chồm lên; r-ươl = giật nảy người lên.
Ướp: để chung lại (thịt heo ướp tỏi, trà ướp sen). Khm: ơp. Ưng: vừa ý. Khm: ưng.
Xương* (xương thịt). [chxoang.]
Logged

Đạn bom ơi ... lòng tham ơi ... khí giới nào diệt nổi dân ta ...
taydoc711
Thành viên
*
Bài viết: 503

Bị giang hồ trục xuất vĩnh viễn!


« Trả lời #259 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 09:48:26 am »

Lấp Vò: địa danh thuộc tỉnh An Giang.
--------------------------------------------

 Huyện Lấp Vò Đồng Tháp thì đúng hơn đàn anh Y tá ơi.
Logged

Hai mươi mốt năm nay chưa bao giờ ta bỏ nhậu

 Bởi thế cho nên :

         Chán chả muốn chết nữa ! ! !
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM