daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #130 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2012, 04:11:08 pm » |
|
Hình vẽ tàu ngầm nguyên tử Đề án 671
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #131 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2012, 04:12:34 pm » |
|
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #132 vào lúc: 21 Tháng Giêng, 2012, 04:16:29 pm » |
|
Sự bố trí tổng thể của Đề án 671 và các khí tài di động
1.Ăng ten của đài vô tuyến “Anis”
2. Đài tìm phương vô tuyến
3.Khí tài hoạt động của máy nén khí dưới nước
4. Tổ hợp ra đa định vị-101
5.Ăng ten thông tin liên lạc
6.Đài “Nakat”
7.Kính tiềm vọng Sự bố trí các thiết bị ngư lôi và các ngư lôi dự trữ
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #133 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 11:29:29 am » |
|
Theo các kết quả cuộc chạy đua, Phòng thí nghiệm số 143 đã nhận nhiệm vụ thiết kế tàu ngầm nguyên tử ngư lôi Đề án 671 (mã số “Ersh”) với lượng choán nước tiêu chuẩn 2000 tấn và độ sâu hoạt động hiệu quả không dưới 300 mét. Điểm đặc biệt của tàu ngầm mới phải là khí tài thủy âm mạnh (trong các điều kiện của cuộc thi, lần đầu tiên đặc biệt nói đến các kích thước của đài thủy âm).
Nếu trên tàu ngầm thế hệ thứ nhất đã tiếp nhận hệ thống điện một chiều (tương tự như trên các tàu ngầm điện – diesel, nới mà nguồn năng lượng chính khi hoạt động ở vị trí ngầm là các pin ắc quy), thì trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 đã quyết định chuyển sang dòng điện xoay chiều 3 pha.
Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trên tàu ngầm nguyên tử mới được phê chuẩn mùng 3 tháng 11 năm 1959, tháng 3 năm 1960, bản vẽ sơ bộ đã được thực hiện, còn tháng 12 cùng năm – đề án kỹ thuật.
Việc chế tạo tàu ngầm Đề án 671 được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư G.N.Chernưshev (trước đó, ông đã tham gia thiết kế các tàu ngầm Đề án 617, 627, 639 và 645). Ngoài ra, tàu ngầm mới được sử dụng, trước hết, để tiêu diệt các tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo của Mỹ trong các khu vực tuần tra chiến đấu của chúng (trên “nước sạch”, không phải dưới lớp băng vùng cực), phía đặt hàng, dưới áp lực lớn từ nhà thiết kế, đã tính toán khả năng từ chối yêu cầu đảm bảo tính không chìm trên vị trí nổi khi bị đắm bởi nước một trong số các khoang bất kỳ.
Cũng như trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất, trên tàu ngầm mới đã có quyết định tiếp nhận thiết bị năng lượng 2 lò phản ứng, đáp ứng đầy đủ yêu cầu tin cậy. Đã chế tạo thiết bị sản xuất hơi nước hợp lý với các chỉ số riêng cao, gần gấp đôi các tham số tương ứng của các thiết bị năng lượng trước đó. “Trong hình dạng ngoại lệ” được đưa ra bởi Bộ Tư lệnh Hải quân đã đồng ý sử dụng trong Đề án 671 một trục bánh lái (chân vịt), cho phép giảm lượng choán nước và tiếng ồn. Do kết quả chuyển sơ đồ một trục, đảm bảo sự tiếp nhận tốc độ tàu ngầm cao hơn đáng kể so với các tàu ngầm cùng loại của nước ngoài.
Việc thực hiện sơ đồ một trục cho phép bố trí trong một khoang thiết bị tổ hợp tuabin răng cưa chính và 2 máy phát điện tuabin tự động với toàn bộ trang thiết bị kèm theo. Việc này đảm bảo sự giảm chiều dài thân tương đối của tàu ngầm – tương ứng với hệ số của Bộ Tư lệnh Hải quân, đặc điểm hiệu quả sử dụng công suất của thiết bị động lực trên tàu, vượt trội các chỉ số tương tự trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 hai lần và thực tế so sánh được với hệ số của tàu ngầm nguyên tử Mỹ lớp “Skipjack”. Trong thiết kế thân trong đã quyết định tiếp nhận thép mới mác AK-29, cho phép tăng cường độ lặn sâu. Trong sự khác biệt với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất, tàu mới được quyết định trang bị (không phải treo trên thiết bị tuabin răng cưa chính) máy phát điện tuabin tự động, cho phép tăng độ tin cậy trong hoạt động của hệ thống năng lượng điện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #134 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 11:52:20 am » |
|
Đồng thuận bởi nghiên cứu thiết kế ban đầu, các thiết bị ngư lôi được lên kế hoạch triển khai gần trung tâm tàu, cũng như trên tàu ngầm nguyên tử Mỹ lớp “Tresher”, sự bố trí của chúng dưới góc mặt phẳng đường kính của tàu ngầm nguyên tử. Tuy nhiên, sau đó lại xuất hiện, rằng trong bố cục tương tự, tốc độ tàu ngầm ở thời điểm bắn ngư lôi phải không vượt quá 11 hải lý (không tiếp nhận được nhiệm vụ chiến thuật đã đề ra; trong sự khác biệt với tàu ngầm nguyên tử Mỹ lớp “Tresher”, tàu ngầm Liên Xô được sử dụng không chỉ chống lại các tàu ngầm, mà còn cả với các tàu nổi lớn của địch). Ngoài ra, trong bố cục tàu ngầm Mỹ, công việc nạp ngư lôi được tiến hành rất phức tạp, và không có khả năng bổ sung đạn trên biển. Kết quả là, các thiết bị ngư lôi trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 đã quyết định lắp ở bộ phận mũi tàu, trên ăng ten của đài thủy âm.
Năm 1960, xưởng Tư lệnh Hải quân ở Leningrad đã bắt đầu chuẩn bị việc đóng loạt các tàu ngầm nguyên tử ngư lôi mới. Tàu đầu tiên thuộc Đề án 671 – K-38 – gia nhập biên chế mùng 5 tháng 11 năm 1967. Sau đó, ở Leningrad đã đóng thêm 14 tàu trong lớp.
Tàu ngầm 2 thân với với đặc điểm vách ngăn “xe con” các thiết bị di động có thân trong, chế tạo từ thép độ cứng cao AK-29, độ dày các tấm 35mm. Các vách ngăn trong được tính toán trên áp lực 10kg lực/cm2. Thân tàu được chia thành 7 buồng không thấm nước:
1.Ngư lôi, ắc quy và cho người ở
2.Trạm trung tâm, các máy móc bổ sung và thực phẩm
3.Lò phản ứng
4.Tuabin (trong đó bố trí tổ hợp tuabin tự động)
5.Các máy móc, cơ chế hỗ trợ và kỹ thuật điện (trong đó có nhà điều dưỡng)
6.Cho người ở và máy phát điện – diesel
7.Bánh lái (ở đây bố trí động cơ điện bánh lái và nhà bếp).
Thiết kế thân ngoài, bộ phận mũi của thượng tầng, các cánh đuôi thẳng và ngang được chế tạo từ thép ít từ tính. Vách ngăm khí tài di động của mui, đồng thời bộ phận giữa và mạn của thượng tầng được chế tạo từ hợp kim nhôm, mũ chụp kích thước lớn của tăng ten tổ hợp thủy âm và bánh lái – từ hợp kim titan. Đối với tàu ngầm Đề án 671 (đồng thời các biến thể sau đó của nó) có đặc điểm được thiết kế cẩn thận các đường bao của thân ngoài. Các thùng tải trọng dằn có thiết kế của thông biển (không phải là dạng ống thoát nước trên toàn bộ các Đề án tàu ngầm trước đó của Liên Xô sau chiến tranh).
Tàu nhận hệ thống điều hòa và làm sạch không khí, chiếu sáng huỳnh quang, đồng thời thuận bố trí hợp lý hơn (theo so sánh với các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất) buồng sỹ quan và buồng thủy thủ, trang thiết bị sinh hoạt – y tế hiện đại. Trong bộ phận mũi và mạn tàu, lần đầu tiên lắp 2 phao tiêu cứu nạn – khẩn cấp kiểu “Kolokol”, được tính toán hiệu quả sử dụng cao gấp 3 lần.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #135 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 12:33:04 pm » |
|
Thiết bị năng lượng chính của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 (có công suất tiêu chuẩn 31 000 sức ngựa) gồm có 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (lò phản ứng nước – nước VN-4 công suất nóng 72 mW và 4 máy phát điện hơi nước PG-4T) tự động cho mỗi bên thành. Việc nạp điện cho các lò phản ứng phải được thực hiện với chu kỳ 8 năm.
Theo so sánh với các lò phản ứng thế hệ thứ nhất. bố cục của thiết bị năng lượng hạt nhân thế hệ thứ 2 có sự thay đổi đáng kể. Lò phản ứng trở nên gọn và “chắc” hơn. Sơ đồ “ống trong ống” đã được thực hiện, đồng thời áp dung “sự treo” các bơm của đường bao thứ nhất trên máy phát điện hơi nước. Số lượng các cống dẫn đường kính lớn được rút gọn, liên kết các phần tử cơ bản của thiết bị (máy lọc đường bao thứ nhất, thiết bị bù trừ thể tích….). Thực tế, toàn bộ các ống dẫn của đường bao thứ nhất (đường kính lớn và nhỏ) bố trí trong các khoang không có người ở và đóng bằng sự bảo vệ sinh học. Hệ thống các khí tài đo – kiểm tra và thiết bị tự động của thiết bị động lực hạt nhân được thay đổi thực tế. Phần thiết bị điều khiển từ xa được tăng cường (van, van cửa, van điều tiết…).
Thiết bị tuabin hơi nước gồm có tổ hợp tuabin răng cưa chính GTZA-615 và 2 máy phát điện tuabin tự động OK-2 (các thiết bị sau đảm bảo việc xử lý tiếp nhận dòng điện một chiều 380V, 50Hz và gồm có các tuabin và máy phát điện công suất 2000kW).
Trong vai trò các khí tàu dự bị di chuyển đã tiếp nhận hai động cơ điện một chiều PG-137 (2x75 sức ngựa), mỗi động cơ trong số đó hoạt động quay theo trục bánh lái 2 cánh đường kính nhỏ (bố trí bên phải và trái trục chân vịt chính tới một trong số mặt phẳng với nó). Có 2 pin ắc quy, đồng thời 2 máy phát điện – diesel (200kW, 400W, 50Hz). Toàn bộ các máy móc chính và thiết bị có sự điều khiển tự động từ xa.
Khi chế tạo tàu ngầm nguyên tử Đề án 671, sự chú ý xác định (mặc dù là chưa đầy đủ) chú ý vào các câu hỏi giảm tiếng ồn. Chi tiết, đã tiếp nhận sự che phủ cao su thủy âm cho thân ngoài, giảm số lượng lỗ xả nước. Kết quả là sự nhận biết thủy âm của tàu ngầm theo so sánh với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất giảm gần 5 lần.
Tàu ngầm được trang bị tổ hợp đạo hàng mọi vĩ độ “Sigma”. Có hệ thống quan sát vô tuyến tình trạng chung và băng đá MT-70, đặc biệt, trong các điều kiện thuận lợi, cung cấp thông tin (toàn) cảnh ở độ sâu 50 mét.
Tuy nhiên, khí tài thông tin cơ bản của tàu là tổ hợp thủy âm MGK-300 “Rubin”, thiết kế ở Viện nghiên cứu khoa học “Morfizpribor” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.N.Sviridov và có tầm xa phát hiện mục tiêu tối đa 50-60km. Nó gồm có nguồn bức xạ thấp tần thủy âm mũi, ăng ten cao tần của đài thủy âm dò mìn MG-509 “Radian” trong bộ phận trước của vách ngăn thiết bị di động ở mui, đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước, đài tín hiệu thủy âm và hàng loạt các phần tử khác. “Rubin” đảm bảo nhìn vòng, sự phối hợp tự động độc lập và xác định góc vòng của các mục tiêu, đo xa bằng biện pháp định vị tiếng ồn, đồng thời phát hiện các khí tài thủy âm chủ động của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #136 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 01:05:28 pm » |
|
Các thiết bị di động gồm có kính tiềm vọng PZNS-10, ăng ten hệ thống nhận dạng vô tuyến MRP-10 với máy hỏi, tỏ hợp ra đa định vị “Albatros”, ăng ten thông tin liên lạc vô tuyến VAN-M hoặc “Anis” và “Iva”, máy tìm phương “Zavesa”, đồng thời khí tài RPK (làm việc nén khí dưới nước). Có các hốc cho hàng loạt ăng ten tháo được, lắp khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể. Trên thành tàu ngầm lắp tổ hợp đạo hàng, đảm bảo sự chỉ thị vòng và tính toán đường đi. Trang bị của tàu gồm có các thiết bị ngư lôi 533mm, đảm bảo bắn ở độ sâu 250 mét. Tổ hợp ngư lôi chiến ba khoang trên đầu tiên. Các thiết bị ngư lôi được bố trí theo hai hàng ngàng. Trong mặt phẳng đường kính của tàu, trên hàng thiết bị ngư lôi đầu tiên là cửa nạp ngư lôi. Tất cả đều thực hiện từ xa: các ngư lôi được kéo tới khoang, bố trí theo cửa, nạp vào các thiết bị và đẩy trên bệ với sự hỗ trợ của thiết bị dẫn động thủy lực. Sự điều khiển bắn ngư lôi được đảm bảo bằng thiết bị điều khiển bắn “Brest-671”. Trong cơ số đạn gồm có 18 ngư lôi và mìn (SET-65, 53-65K, TEST-71, PMR-1 và P-1). Phiên bản tải được lựa chọn trong sự quyết định lựa chọn nhiệm vụ phù hợp. Việc lắp mìn có thể thực hiện ở tốc độ 6 hải lý. Theo so sánh với các tàu cùng dạng hiện đại tương tự của Mỹ - tàu ngầm nguyên tử SSN 637 “Sturgeon” (1967), tàu ngầm Liên Xô có tốc độ dưới nước cao hơn (tương ứng 29 và 33,5 hải lý), độ lặn sâu và cơ số đạn lớn hơn. Trong cùng thời gian đó, tàu ngầm Mỹ có độ ồn thấp và trang bị thủy âm hiện đại hơn, đảm bảo khả năng tìm kiếm của nó cao hơn. Giữa các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô có ý kiến, rằng “nếu tàu ngầm Mỹ phát hiện xa 100km thì chúng ta, 10km”. Chắc chắn rằng, việc này được cường điệu, tuy nhiên, vấn đề ngụy trang và tăng cường tầm xa phát hiện địch trên các tàu Đề án 671 trong các biện pháp đầy đủ không được giải quyết thành công. Tàu đầu tiên trong Đề án 671 – K-38 – trong quá trình thí nghiệm đã đạt tốc độ dưới nước tối đa 34,5 hải lý trong giai đoạn ngắn, trở thành (tới thời điểm đó) tàu ngầm nguyên tử nhanh nhất trên thế giới. Ở phương Tây, các tàu này nhận tên gọi theo mã số lớp Victor (sau đó là Victor-I).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #137 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 01:25:37 pm » |
|
Các biến thể Ba tàu đầu tiên của lớp (K-314, K-454 và K-469) được đóng tiếp theo Đề án 671-V được thay đổi. Sự khác biệt gồm có trong trang bị, ngoài các ngư lôi truyền thống và tổ hợp tên lửa RPK-2 “Viuga”, được tiếp nhận vào trang bị mùng 4 tháng 8 năm 1969. Ngư lôi – tên lửa đã đảm bảo sự bắn cháy các mục tiêu tàu nổi, tàu ngầm và bờ biển bằng đạn hạt nhân ở tầm xa 10 – 40km. Sự phóng được thực hiện từ các thiết bị ngư lôi tiêu chuẩn 533mm ở độ sâu 50-60 mét. Sau năm 1976, trong quá trình hiện đại hóa, phần lớn các tàu thuộc Đề án 671, tổ hợp thủy âm “Rubin” được thay bằng tổ hợp “Rubicon” hiện đại hơn với máy bức xạ hạ âm, có tầm xa phát hiện mục tiêu tối đa hơn 200km. Trong loạt các tàu, đài MG-509 được đồng thời thay thế bằng đài MG-519 hiện đại hơn. Tàu ngầm nguyên tử K-147 năm 1984 trong hàng loạt các thí nghiệm đã được trang bị các khí tài mới chưa có trên thế giới bằng hệ thống giám sát tàu ngầm nguyên tử của địch theo vết rẽ nước. Sau đó, các hệ thống này được lắp trong thời gian sửa chữa trên số số tàu ngầm khác thuộc Đề án 671. Tháng 11 năm 1961, Hải quân và Bộ công nghiệp (МСП) đã tiếp nhận quyết định về tăng cường trang bị tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 do kết quả việc lắp thiết bị ngư lôi 650mm và tăng cơ số đạn 1,5 lần (trong đó có gồm có tên lửa chống tàu điều khiển). Đồ án kỹ thuật của tàu mới, nhận số 671-RT (mã số “Semga”) được phê chuẩn ngày 15 tháng 7 năm 1967. Ngoài ra, các thay đổi khác, lượng choán nước và kích thước Đề án 671 tăng lên một chút. Tàu ngầm nguyên tử được đóng từ năm 1972 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” và được đóng nốt ở xưởng “Tư lệnh hải quân”. Tổng cộng đến năm 1978, đã đóng 7 thân tàu, 3 trong số đó ở Leningrad. Các tàu ngầm ngày ở phương Tây mang tên lớp Victor-II. Loạt sau, đã thành công trên một loạt tàu ngầm Đề án 671-RTM mới (mã số “Suka” – cá măng), đã được đóng từ năm 1977 đến 1992 với số lượng 26 tàu. Lượng choán nước và kích thước của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM được tăng lên thêm, còn trên cánh đuôi đứng được lắp mũ chụp của ăng ten lai kéo dài, trở thành điểm đặc biệt nhất của các tàu này, nhận tên gọi theo Mỹ và NATO là lớp Victor-III. Chương trình đóng tàu Trong năm 1960, xưởng “Tư lệnh Hải quân” ở Leningrad” đã bắt đầu chuẩn bị đóng loạt tàu ngầm nguyên tử ngư lôi mới. Văn bản về tự tiếp nhận vào biên chế Hải quân Liên Xô tàu đầu tiên – K-38 – (số hiệu xưởng “600”) – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhà nước – Anh hùng Liên Xô G.I.Sedrin đã ký mùng 5 tháng 11 năm 1967. Sau đó, ở Leningrad đã đóng theeo 14 tàu ngầm lớp này(trong đó có 3 theo Đề án 671-V).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #138 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2012, 01:20:48 pm » |
|
Tình hình đến năm 2006 Tàu đầu tiên trong Đề án 671 – K-38 - gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc. Đến năm 1974, Hạm đội Phương Bắc đã được bổ sung thêm 11 tàu ngầm nguyên tử cùng lớp (thêm 3 tàu được đóng tiếp theo Đề án 671-V), ban đầu đóng căn cứ ở Zapadnaya Litsa. Trong giai đoạn từ 1981 đến 1983, chúng được chuyển tới Gremikha. Tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 có tiểu sử các sự kiện chói lọi. Có thể gặp chúng thực tế trên tất cả các biển và đại dương, nơi mà Hạm đội Phương Bắc làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Trong đó, các tàu ngầm nguyên tử đã thể hiện các khả năng tìm kiếm và chiến đấu cao. Chi tiết, các tàu ngầm nguyên tử ở Địa Trung Hải đã thay phiên trực chiến kéo dài từ 60 đến 90 ngày. Năm 1979, trong thời gian quan hệ Xô – Mỹ rất căng thẳng, tàu ngầm nguyên tử K-38 và K-481 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở vịnh Péc xích, nơi mà tới giai đoạn này có 50 tàu của Hải quân Mỹ. Việc bơi được thực hiện trong các điều kiện rất phức tạp (nhiệt độ nước ở trên bề mặt 40 độ). Theo sự hồi tưởng của người tham gia hành quanA.N.Shportiko (chỉ huy K-481), trong các khoang năng lượng của tàu, không khí bị hun nóng đến 60 – 70 độ, còn khoang cho người ở - 40-50 độ. Các máy điều hòa không khí làm việc ở công suất tối đa, nhưng phương tiện kỹ thuật không đáp ứng được (vốn được thiết kế để sử dụng thực tế trong các vùng cực bắc): các máy làm lạnh bắt đầu làm việc hình thường chỉ ở độ sâu 60 mét, ở nơi mà nhiệt độ ngoài thành tàu giảm xuống 10 – 15 độ. Các tàu ngầm có 2 thủy thủy đoàn để thay thế, bố trí trên tàu tiếp tế “Berezina”, đỗ ở vịnh Aden hoặc gần quần đảo Sokort. Cuộc hành quân đã kéo dài trong 6 tháng, và rất thành công. Các tàu ngầm Liên Xô đã hoạt động ở vịnh Péc xích rất bí mật: nếu Hải quân Mỹ phát hiện thì chỉ trong khoảng thời gian ngắn, không thể phân loại chính xác, và truy đuổi rất hạn chế. Sau này, các thông tin tình báo đã khẳng định các kết luận này. Trong cùng thời điểm đó, sự giám sát các tàu Mỹ được thực hiện trong tầm bắn của các vũ khí tên lửa và ngư lôi – tên lửa: trong trường hợp nhận được mệnh lệnh thích hợp, chúng sẽ được khởi động, bắn với xác xuất gần 100%.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #139 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2012, 01:43:56 pm » |
|
 Tháng 9-10 năm 1971, K-38 và K-323 đã hoàn thành cuộc hành quân dưới lớp băng tới vùng cực. Tháng 1 năm 1974 đã bắt đầu cuộc hành quân tổng hợp 107 ngày của 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 và 671 từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương. Cuộc hành quân đã đi qua Đại Tây Dương (tới mũi Hảo Vọng), Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Sau khi đi qua bờ biển chống ngầm Farero – Island, các tàu ngầm đã di chuyển trong nhóm chiến thuật (một tàu ngầm ở độ sâu 100 mét, tàu khác – 150 mét). Thực tế, đây là thí nghiệm đầu tiên trong các cuộc hành quân đường dài của tàu ngàm trong biên chế nhóm chiến thuật. Mùng 10-25 tháng 3, các tàu ngầm đã hoàn thành việc ghé vào cảng Berbera (Somali), nơi thủy thủ đoàn có quãng nghỉ ngắn. Ngày 29 thnags 3, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chúng có có sự tiếp xúc ngắn với các tàu nổi chống ngầm của Mỹ và thoát khỏi chúng, rời đến độ sâu lớn. Ngày 13 tháng 4, sau khi hoàn thành sẵn sàng chiến đấu ở các khu vực được giao trên Ấn Độ Dương, các tàu ngầm ở vị trí nổi, dẫn đầu tàu đảm bảo “Bashkiria”, hướng tới vịnh Malacca. Trong thời gian hành quân, nhiệt độ ngoài thành tàu 28 độ. Các hệ thống điều hòa không khí không đáp ứng được với sự hộ trợ của vi khí hậu yêu cầu: độ ẩm tương đối trong các khoang tàu ngầm 90%, còn nhiệt độ không khí tăng lên 70 độ. Sau đội tàu ngầm Liên Xô là các máy bay tuần tra R-3 “Orion” thực hiện việc giám sát trực tiếp, đóng ở đảo san hô vòng Diego – Garcia. Ở vịnh Malacca, nơi các tàu vào đó 17 tháng 4, các máy bay trinh sát Mỹ đã dày đặc hơn: theo các “Orion” có sự yểm trợ của nhiều máy bay trực thăng chống ngầm. Ngày 20 tháng 4, trên thành tàu ngầm nguyên tử Đề án 671 do độ ẩm cao đã cháy một trong số các khí tài của đài thủy âm “Rubin”. Tuy nhiên, bằng nỗ lực của thủy thủ đoàn, ngọn lửa đã được dập tắt. Ngày 25 tháng 4, tàu đã tới khu vực vịnh và thoát khỏi sự quan sát của địch, bơi ra khu vực nước sâu. Mùng 6 tháng 5, tàu ngầm nguyên tử đầu tiên đã tới vũng Avanchin, còn 7 tháng 5, tàu ngầm thứ 2 đã tới đó. Tháng 1 năm 1976, tàu ngầm nguyên tử tuần dương tên lửa chiến lược K-171, đồng thời K-469 đã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đã hoàn thành một cuộc hành quân từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương. Qua Đại Tây Dương, các tàu đã bơi cách nhau ở khoảng cách tổng cộng 18 cabentop (1 cabentop = 180 mét). Vịnh Dreika phải đi ngang qua các độ sau khác nhau. Sau sự giao nhau ở xích đạo, các tàu ngầm tách nhau và tiếp tục di chuyển và tới Kamchatka (tháng 3) theo hành trình riêng. Trong thời gian 80 ngày, đã bơi qua 21 754 dặm, ngoài ra, trong toàn bộ quá trình hành quân, K-469 chỉ nổi lên một lần ở độ sâu của ống nhòm ngầm (ở khu vực Antarktid).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|