Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:49:12 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329693 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #570 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 03:43:46 am »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2125

+ hoàn toàn: 2860

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 117 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 11 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,05

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước; 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa, (kW): 54 000 (39 700)

+ các máy phát điện tuabin, công suất, (kW): -

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 36,5

+ tiết kiệm năng lượng: 16,9

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 2950 (16,9)

Thời gian hoạt động, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): -.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:24:00 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #571 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 03:53:09 am »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm B2-LM: 2x2

+ thiết bị pháo 85mm 92-K: 1x2

+ thiết bị pháo 37mm70-K: 6x1

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm TTA-533-30: 2x3

Chống ngầm

+ BMB-1: 2x1

+ bom chìm RGB/BPS:-

+ máy rải bom: 2

Mìn

+ mìn chống tàu loại lớn KB “Krab”/M-26: 52/60

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”RiF-1”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1x”Gyuis-1”

Đài thủy âm định vị

+ “Tamir”

Khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Redan” cho pháo chính

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xKDP2-4 hoặc SVP-29-RL

+ 1xRAS

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #572 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 01:04:20 am »

Tàu khu trục phóng ngư lôi lớp “Smelưi” đề án 30-bis – lớp Skory


Tổng số tàu đã đóng: 70

Các biến thể

+ 30-bis – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1949)

+ 31 – các tàu trinh sát kỹ thuật vô tuyến với khí tài trinh sát điện tử và chống ngầm mới (trang bị lại vào năm 1960 – 1962)

+ 31-P – phiên bản đề án 31 không có khí tài trinh sát kỹ thuật vô tuyến (không được thực hiện)

+ 30-BK – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Indonesia (trang bị lại 8 tàu)

+ 30-BA – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Ai Cập (trang bị lại 2 tàu vào năm 1967).

Để đóng loạt tàu khu trục phóng ngư lôi thế hệ thứ nhất sau chiến tranh, tâp thể Phòng thiết kế trung ương số 17 đã được giao nhiệm vụ thiết kế trên cơ sở đề án 30 đề án mới 30-bis. Thành phần vũ khí được quyết định làm rõ vào 28 tháng 11 năm 1945. Các vật liệu đề án kỹ thuật và bản vẽ làm việc được ở Phòng thiết kế trung ương số 53 mới được khôi phục dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư A.L.Fisher. Đề án kỹ thuật được phê chuẩn bởi Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô 28 tháng 1 năm 1947. Theo so sánh với tàu đề án 30 và 30-K, đã có sử dụng những sự thay đổi cơ bản sau: thân tàu được chế tạo từ phương pháp hàn hoàn toàn, còn cấu trúc của nó cho phép tiếp nhận khi đóng tàu mới có công nghệ hiện đại hơn; lắp 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng thay cho thiết bị ngư lôi 3 ống phóng và lắp bổ sung 1 pháo tự động 70-K, đồng thời trang bị kỹ thuật vô tuyến mới hơn.

Thiết bị cơ khí được giữ lại theo đề án 30, nhưng với tuabiin được tăng cường không lớn. Sự bố trí thiết bị cơ khí được tiếp nhận trong dạng tuyến. Mỗi tuyến gồm 2 nồi hơi và 1 buồng máy. Công suất liên tục trong tốc độ tối đa là 60 000 sức ngựa. Tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-6 được chế tạo ở xưởng Kirov, còn các nồi hơi chính KV-30 theo lớp 7U-bis - ở xưởng Baltic. Áp suất hơi nước khi vào tuabin là 27kg lực/m2 khi nhiệt độ quá nhiệt từ 350 đến 370 độ.

Tàu đầu tiên của đề án này được tiếp nhận vào biên chế Hải quân vào ngày sinh của I.V.Stalin – 21 tháng 12 năm 1949. Do thiết kế và đóng tàu khu trục đầu tiên đề án 30-bis có sự giám sát từ phía Hải quân là kỹ sư – trung tá A.T.Ilichiev. Việc chế tạo tàu theo đè án này có sự khác biệt so với ngành đóng tàu Liên Xô ở các đặc điểm sau:

+ dòng tàu đóng loạt có số lượng lớn nhất theo một đề án trong toàn bộ lịch sử đóng tàu ở Nga (tổng cộng đã có 70 tàu được đóng)

+ khi đóng các tàu này đã lập kỷ lục đóng một tàu nhanh nhất thuộc lớp này trong ngành đóng tàu – đóng tàu khu trục “Spasobnưi” yêu cầu tổng cộng 9 tháng (khởi công 21 tháng 3 năm 1950 và bàn giao 21 tháng 12 năm 1950)

+ cường độ công việc đóng tàu lớn nhất. Toàn bộ dòng được đóng trong giai đoạn từ năm 1948 đến 1935.

+ lần đầu tiên đã đóng hoàn toàn các tàu bằng phương pháp hàn với việc sử dụng các phương pháp đóng khối lớn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #573 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 01:48:32 am »

Nước rút công nghệ này trong ngành đóng tàu có thể đạt được chỉ khi sử dụng các thành tựu công nghệ trong các ngành khác của nền công nghiệp tích lũy được trong thời gian Chiến tranh Vệ quốc. Tuy nhiên do không nắm vững trọn vẹn công nghệ nên một trong số các tàu khu trục ở xưởng Phương Bắc đã xảy ra tình trạng không dễ chịu. Như việc không tính tòa tác động của bức xạ mặt trời trên một trong số thành tàu khi lắp thân và những lỗi công nghệ hàn cụ thể (các mối hàn liền) đã dẫn tới rằng phần cuối mũi tàu khu trục đã bị tách rời khởi mặt phẳng xuyên tâm (mặt phẳng kính) vài chục centimet. Theo những lời kể lại khi đó trong xưởng, ban quản lý xưởng cho các đại diện quân đội đã xảy ra việc áp đặt việc xoay xở ở mức độ tối đa để trong thời gian ngắn đầu những năm 50 phải bàn giao kịp tàu cho Hải quân. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, lỗi này đã ảnh hưởng tới chất lượng tốc độ và khả năng cơ động trên biển.

Các tàu đề án 30-bis đã thừa hưởng tên của nhiều tàu khu trục và tàu phóng ngư lôi thuộc Hải quân Nga, đồng thời tên các tàu khu trục đề án 7 và 7-U thuộc Hải quân Liên Xô. Tới thời điểm đó, khi việc đóng các tàu khu trục này được thực hiện, ở Liên Xô đã tăng cường khôi phục những truyền thống tích cực của Hải quân Nga (đế quốc Nga) và chúng đã nhận được những tên gọi truyền thống – các tính từ. Khi đó, có vẻ như nhiều người sẽ vĩnh viễn không được đặt tên cho các tàu Liên Xô, đặc biệt là các tàu khu trục mới thông qua hệ tư tương của Đảng trong thời kỳ hỗn loạn, lòe loẹt và dao động theo các nguyên nhân chính trị (hôm nay là anh hung, ngày mai – ngược lại – kẻ phản bội). Với việc Stalin qua đời, thời kỳ này nhanh chóng qua đi. Có sự kiện thú vị: 18 tàu khu trục đề án 30-bis đã được bàn giao cho Hải quân trong giai đoạn từ 7 đến 21 tháng 12 thì đó là ngày sinh của lãnh tụ. Như dựa theo các “tiêu chuẩn” chính trị thời kỳ đó, số phận việc đặt tên các tàu “ba mươi” đã trở nên hạnh phúc hơn những tàu sau (kế tục) chúng. Lịch sử đã đẩy chúng khỏi những sự đổi tên liên tục (không có hồi kết) như “Đoàn viên thanh niên…”, “Đại hội Đảng… “ và “thành phố của các lãnh đạo”.

Những điểm yếu của vũ khí pháo đã dẫn tới rằng các ủy ban trong kết luận cuối cùng đã kết luận “… do pháo chính không đa năng, số lượng nhỏ nòng pháo phòng không tầm xa, đồng thời liên quan tới hệ thống “Soyuz-30bis” không vạch ra được các thông tin bắn… các máy bay bổ nhào, sự quyết định nhiệm vụ phòng không của tàu khu trục “Smelưi” trong việc chống lại kẻ thù hiện đại từ trên không (các máy bay bổ nhào, máy bay phản lực và bom tự dẫn đường) sẽ có hiệu quả thấp”. Đáng tiếc, các thông số của đài thủy âm định vị “Tamir-5N” và vũ khí chống ngầm đồng thời không đáp ứng các yêu cầu của Hải quân, còn sau 5-7 năm đơn giản sẽ trở thành nguyên thủy.

Mặc dù những nhược điểm rõ ràng như vậy, các tàu đề án 30-bis đã được thủy thủ đoàn nắm vững trong toàn bộ các Hạm đội và bắt đầu sự phục vụ lâu dài và khẩn trương của chúng. Thủy thủ đoàn thích các tàu ở sự đơn giản và tin cậy. Rõ ràng trên các tàu này, các thủy thủ Liên Xô đã bắt đầu nắm vững sự phức tạp trong khi thực hiện các hoạt động chiến đấu ở Địa Trung Hải, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Các tàu đề án này không mang tới cho Hải quân Liên Xô những phiền toái lớn, mà lớn hơn là thảm họa. Trong đó, chúng đã chứng tỏ rất thành công và may mắn, rằng là yếu tố quan trong không nhỏ cho các thủy thủ trong cấp độ xác định nào đó thường xuyên mê tín dị đoan. Thân cứng và tin cậy của các tàu này đảm bảo không chỉ thời gian phục vụ lâu dài mà còn làm cho tiếng ồn dưới nước không lớn.

Cuối cùng, có ít người hiểu rằng một số tàu trong số này được sử dụng như các doanh trại nổi đặc trưng của các tàu ngầm Liên Xô đầu tiên. Khi xuất hiện sự cần thiết cung cấp hơi nước tới các tàu ngầm ở các vị trí chúng đóng căn cứ, rõ ràng đã sử dụng tàu khu trục đề án 30-bis. Bằng cách này, các tàu đề án 30 đã đóng góp không nhỏ trong quá trình thành lập Hạm đội tàu ngầm nguyên tử Liên Xô.

Trong những năm phục vụ sau cùng, tàu khu trục đề án 30, mục đích sử dụng của chúng được thay đổi. Nhiệm vụ chính cho chúng là yểm trợ hỏa lực cho Hải quân đánh bộ và lục quân gần bờ biển. Liên quan với nhiệm vụ này, chúng được biên chế vào các đơn vị tàu đổ bộ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #574 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 02:27:15 am »

Các bản vẽ thiết kế tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30-bis







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #575 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 01:04:13 pm »

Các biến thể


Một bộ phận các tàu ban đầu có cột buồm cao hơn. Trng quá trình đóng loạt đề án 30-bis đã thực hiện những thay đổi khác nhau trong biên chế vũ khí của chúng. Từ năm 1951, thay cho pháo tự động 1 nòng 70-K đã bắt đầu lắp 4 pháo nòng đôi V-11. Sau đó thay cho đài thủy âm định vị “Tamir-5N” lắp đài thủy âm “Pegas-2”. Trong những năm 1970, đã tháo các sung máy cỡ lớn, trên một số tàu đã lắp 2-3 súng tự động nòng đôi 25mm 2M-3M. Sau khi kết thúc đóng các tàu này, một bộ phận của chúng đã trải qua nâng cấp, liên quan tới việc thay thế riêng các mẫu vũ khí và khí tài kỹ thuật.. Hướng nâng cấp chính các tàu Hải quân Liên Xô là tang cường trang bị kỹ thuật vô tuyến điện (lắp đài ra đa định vị hiện đại hơn “Zaria”, “Zalp”), tăng cường phòng không và chống ngầm, nâng cấp điều kiện sống. Trên một bộ phần tàu đồng thời lắp đài ra đa định vị Lục quân phát hiện mục tiêu trên không P-10.

8 tàu khu trục phóng ngư lôi (“Bezboyazennưi”, “Besshumnưi”, “Vernưi”, Vikhrevoi”, “Ognennưi”, “Opasnưi” “Okhranyayusi”, “Stremitelnưi”) trong những năm 1960-1962 được cải tạo lại theo đề án 31 trên các tàu trinh sát vô tuyến.

Đối với các tàu đề án 30-bis, được bán cho Indonesia đã thiết kế đề án trang bị lại cho chúng dưới số hiệu 30-BK (8 tàu), còn bán cho Ai Cập – đề án 30-BA (2 tàu, đồng thời 4 tàu khu trục đề án 30-bis được bán cho Ai Cập không nâng cấp, 1 trong số chúng được trả lại).

Chương trình đóng tàu

Dòng tàu khu trục lớn nhất trong toàn bộ lịch sử đóng tàu Hải quân được đóng ở xưởng số 445 (số 200) mang tên 61 chiến sĩ công xa ở Nikolaev (18 tàu), số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur (18), số 190 mang tên A.A.Zhdanov (xưởng phương Bắc) ở Leningrad (16) và số 402 (xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc) ở Molotovsk (hiện nay là Severodvinsk – 18). Tàu đầu tiên của đề án này được khởi công ở âu tàu xưởng mang tên A.A.Zhdanov 16 tháng 5 năm 1948 và nhận tên gọi “Smelưi”, hạ thủy 29 tháng 9 năm 1948, được đưa tới các thí nghiệm cấp nhà nước 3 tháng 11 năm 1948 và tiếp nhận vào biên chế Hải quân trong ngày sinh Stalin – 21 tháng 12 năm 1949. Tổng cộng từ năm 1948 đến năm 1953 đã đóng 70 tàu.

16 tàu trong biên chế Hải quân được bán cho các nước: Ba Lan-2; Ai Cập-5; Indonesia-8.

Tình hình đến năm 2007

Tàu cuối cùng trong đề án – trở thành tàu huấn luyện – tàu khu trục “Besshumnưi” bị loại khỏi biên chế Hải quân năm 1994. Bộ phận lớn tàu khu trục đề án 30-bis đến khi bị loại, trở thành tàu mục tiêu, doanh trại nổi, tàu huấn luyện, tàu thí nghiệm… Một số tàu được sử dụng làm thí nghiệm phóng các tên lửa chống tàu ở Liên Xô đầu tiên.

Nhiều tàu ở trong khu vực chiến sự, thực hiện các hoạt động chiến đấu yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri trong những năm 1968-1973.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #576 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 01:17:51 pm »


Bố trí vũ khí trên các tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30-bis

1. Thiết bị pháo chính nòng đôi 130mm B2-LM

2. Thiết bị pháo phòng không 37mm 70-K

3. Trạm chỉ huy – đo xa KDP2-4L với đài ra đa định vị bắn điều khiển hỏa lực pháo chính (sau khi nâng cấp, đài ra đa định vị được tháo)

4. Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực “Zalp”

5. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Zaria”

6. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp “Rif-1”

7. Đàu ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Gyuis-1M4”

8. Thiết bị pháo phòng không nòng đôi 37mm V-11M

9. Thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-30-bis

10. Pháo phòng không tự động 25mm 2M-3M

11. Trạm đo xa SVP-29 (tháo đài ra đa định vị)

12. Trạm quan sát ổn định SVP-29RLM với đài ra đa định vị “Vưmpel” điều khiển hỏa lực pháo phòng không

13. Thiết bị pháo 85mm 92-K

14. Thiết bị phóng bom 1 nòng BMB-2

15. Rãnh dẫn hướng cho mìn

16. Thiết bị rải bom ở mạn tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #577 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 01:49:40 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Bditelnưi” (số hiệu xưởng 1101)l từ 17 tháng 12 năm 1960 là TsL-83; từ 20 tháng 9 năm 1967 là PKZ-18; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 10 tháng 6 năm 1948 trên xưởng số 445; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế 25 tháng 10 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 10 tháng 8 năm 1967 cải tạo thành trại lính nổi; bị loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 10 năm 1968 và sau đó bị tháo kim loại.

+ “Vstrechnưi” (số hiệu xưởng 6); từ 17 tháng 10 năm 1972 là SM-302; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 29 tháng 4 năm 1948 ở xưởng số 199; hạ thủy 20 tháng 5 năm 1949; gia nhập biên chế 7 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 21 tháng 12 năm 1956 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất trong dạng neo đậu; 22 tháng 10 năm 1966 tháo niêm cất, trở lại biên chế; 1 tháng 9 năm 1972 một lần nữa bị loại khỏi biên chế Hải quân và tháo vũ khí.

+ “Smelưi” (số hiệu xưởng 601); từ 17 tháng 12 năm 1960 là TsL-80; từ 28 tháng 2 năm 1964 là PKZ-14; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 16 tháng 5 năm 1948 ở xưởng số 190; hạ thủy 20 tháng 9 năm 1948; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 19 tháng 3 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Baltic; 17 tháng 2 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 31 tháng 1 năm 1964 cải tạo thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 10 tháng 2 năm 1965; năm 1965-66 tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Murmansk.

+ “Vedushi” (số hiệu xưởng 9); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 31 tháng 7 năm 1948 trên xưởng số 1991; hạ thủy 21 tháng 8 năm 1949; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 27 tháng 3 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 14 tháng 3 năm 1975; sau đó bị tháo kim loại.

+ “Ognennưi” (số hiệu xưởng 178); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 14 tháng 8 năm 1948 ở xưởng số 402; hạ thủy 17 tháng 8 năm 1949; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 12 tháng 2 năm 1950; 19 tháng 1 năm 1958 – 27 tháng 12 năm 1960 nâng cấp và đóng lại ở Severodvinsk theo đề án 31; 5 tháng 10 năm 1963 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 12 tháng 10 năm 1964 chuyển lại về Hạm đội Phương Bắc; 6 tháng 11 năm 1968 chuyển tới căn cứ Hải quân ở Leningrad; 16 tháng 11 năm 1968 chuyển sang Hạm đội Baltic; 6 tháng 11 năm 1967 – 16 tháng 11 năm 1968 và 8 tháng 2 năm 1969 – 10 tháng 10 năm 1970 trải qua đại tu ở Leningrad; 25 tháng 12 năm 1979 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 21 tháng 5 năm 1981.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #578 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 02:08:33 pm »

+ “Otchetlivưi” (số hiệu xưởng 179); từ 17 tháng 12 năm 1960 là PTB-7; từ 12 tháng 8 năm 1970 là PKZ-107; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 29 tháng 10 năm 1948 ở xưởng số 402; hạ thủy 14 tháng 9 năm 1948; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 12 tháng 2 năm 1950; 22 tháng 11 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và trang bị lại thành căn cứ kỹ thuật nổi; 20 tháng 12 năm 1969; giải thể và đưa đi neo đậu; 12 tháng 8 năm 1970 tháo niêm cất và trang bị lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 19 tháng 5 năm 1972; năm 1972-73 tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Murmansk.

+ “Bazhnưi” (số hiệu xưởng 12); ghi tên vào danh sách Hải quân 30 tháng 12 năm 1947; khởi công 30 tháng 10 năm 1948 ở xưởng số 199; hạ thủy 4 tháng 9 năm 1949; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 23 tháng 2 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 7 tháng 5 năm 1956 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 14 tháng 3 năm 1975; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, sau đó tháo kim loại.

+ “Bezyderzhnưi” (số hiệu xưởng 1102); từ 17 tháng 10 năm 1960 là TsL-66; từ 13 tháng 12 năm 1966 là PKZ-127; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 20 tháng 7 năm 1948 ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1948; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế 5 tháng 2 năm 1950 trong Hạm đội Biển Đen; 22 tháng 11 năm 1960 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 4 tháng 11 năm 1966 cải tạo thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 1 tháng 3 năm 1967; sau đó tháo kim loại.

+ “Stoiki: (số hiệu xưởng 602); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 16 tháng 11 năm 1948 ở xưởng số 190; hạ thủy 1 tháng 2 năm 1949; gia nhập biên chế 19 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 19 tháng 4 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyến sang Hạm đội Baltic; 7 tháng 1 năm 1967 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất và neo đậu; 22 tháng 2 năm 1980 tháo vũ khí, giải thể 22 tháng 6 năm 1980; sau đó tháo kim loại.

+ “Ostrưi” (số hiệu xưởng 180); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 21 tháng 12 năm 1948 ở xưởng số 402; hạ thủy 16 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế 25 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 21 tháng 9 năm 1950; 5 tháng 3 năm 1973 – 9 tháng 7 năm 1978 trải qua đại tu ở Leningrad; sau đó chuyển sang căn cứ Hải quân ở Leningrad; 4 tháng 6 năm 1983 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 15 tháng 3 năm 1984 và sau đó tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #579 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2012, 02:42:28 pm »

+ “Buinưi” (số hiệu xưởng 1103); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 15 tháng 4 năm 1949 ở xưởng số 445; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1949; gia nhập biên chế 29 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 9 năm 1950; 1 tháng 2 năm 1980 – 18 tháng 3 năm 1982 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol; 7 tháng 3 năm 1986 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 22 tháng 7 năm 1986; sau đó tháo kim loại.

+ “Otvetstvennưi” (số hiệu xưởng 181); từ 31 tháng 8 năm 1961 là TsL-42; từ 16 tháng 10 năm 1961 là PKZ-48; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 11 tháng 6 năm 1949 ở xưởng số 402; hạ thủy 12 tháng 4 năm 1950; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 1 tháng 10 năm 1950; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và phân loại lại thành mục tiêu nổi; 4 tháng 10 năm 1961 tháo vũ khí và trang bị lại thành doanh trại nổi; loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 4 năm 1963; sau đó tháo kim loại.

+ “Bezuprechnưi” (số hiệu xưởng 1104); ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công ở xưởng số 445; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1949; gia nhập biên chế 9 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 7 tháng 11 năm 1950; 3 tháng 5 năm 1962 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa vào neo đậu; 14 tháng 3 năm 1975 tháo vũ khí và loại khỏi danh sách Hải quân và sau đó tháo kim loại.

+ “Skorưi” (số hiệu xưởng 603); ghi tên vào danh sách Hải quân 7 tháng 10 năm 1948; khởi công 15 tháng 2 năm 1949 ở xưởng 190; hạ thủy 14 tháng 8 năm 1949; gia nhập biên chế 26 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 1 tháng 10 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển sang Hạm đội Baltic; 29 tháng 6 năm 1958 bán cho Hải quân Ba Lan và nhận tên gọi “Wicher” (“Vikhr”; 4 tháng 8 năm 1958 bị loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1975 tháo vũ khí và bán cho công ty Ba Lan tháo kim loại.

+ “Vsnưlchivưi” (số hiệu xưởng 13); từ 17 tháng 12 năm 1960 là TsL-77; từ 12 tháng 2 năm 1971 là ÚT-262; ghi tên vào danh sách Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 15 tháng 2 năm 1949 ở xưởng số 199; hạ thủy 14 tháng 5 năm 1950; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 24 tháng 12 năm 1950; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 22 tháng 1 năm 1950 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 20 tháng 12 năm 1969 giải thể và đưa đi neo đậu; 12 tháng 2 năm 1971 tháo niêm cất và trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 3 năm 1974; giải thể 8 tháng 8 năm 1974, sau đó tháo kim loại.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM