Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:31:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329795 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #290 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2012, 11:44:25 am »

Đề án 633 – Lớp Romeo


Tổng số tàu đã đóng: 20

Các biến thể

+ 633 – đề án cơ sở đóng loạt tàu ngầm (1959)

+ 633-L – tàu ngầm diezel thí nghiệm để thí nghiệm thân tàu cho người ở và đài thủy âm mới (1967)

+ 633-RV – tàu ngầm thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa – ngư lôi mới, lắp bổ sung 2 thiết bị ngư lôi 650mm (1972)

+ 633-KS – tàu ngầm thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa có cánh “Granat” (1978)

+ 033 (lớp Improved Romeo) – phiên bản cho Trung Quốc với những thay đổi không đáng kể (những năm 1960)

Sự phát triển tiếp theo của tàu ngầm diezel Đề án 613 là biến thể hiện đại hóa – Đề án 633. Sự thiết kế tàu ngầm mới đã bắt đầu theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng số 1454 – 808 từ 9 tháng 8 năm 1955. Các công việc được thực hiện ở Phòng thiết kế Trung ương số 112, Tổng công trình sư thiết kế là Z.A.Deribin, phó tổng công trình sư – A.K.Nazarov và E.V.Krưlov, giám sát viên chính từ Hải quân – I.I.Chufin. Trong tháng 4 năm 1955, các công việc trước phác thảo đề an đã kết thúc và được giới thiệu nghiên cứu trên 2 phương án: một theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, do Cục kỹ thuật Hải quân đề xuất, còn phương án 2 “sáng kiến” (I-633) với sự tăng cường nhiệm vũ kỹ - chiến thuật. Các công việc nghiện cứu nhận được sự tán thành từ lãnh đạo Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu. Như đã nhắc đến, trong kết luận của Cục kỹ thuật Hải quân khi nghiên cứu các đề án trước sơ bộ trong tháng 5 năm 1955 “phương án đề xuất là đề án tàu ngầm hạng trung hoàn toàn mới”. Để phù hợp với phương án này, các nhiệm vụ kỹ - chiến thuật đã được xem xét nghiên cứu. Đề án kỹ thuật 633 đã được phê chuẩn bởi Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng số 1117 – 580 từ 15 tháng 8 năm 1956.

Tàu ngầm Đề án 633 – hai thân, theo bố cục chính gần với tàu ngầm Đề án 613, theo thông số đường bao – gần tương đương với tàu ngầm Đề án 611, trong hình dạng mặt cặt giữa gần với chu vi hình tròn. Các đường bao của thân tàu trong sự phụ thuộc cơ bản đảm bảo khả năng di chuyển lớn ở tư thế ngầm do sự tính toán các thông số nổ. Mui và vách ngăn của mui cùng hình dáng mũ chụp được thiết kế trong các kích thước nhỏ một cách tương đối – để giảm lực cản khi bơi ở tư thế ngầm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #291 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2012, 11:45:35 am »

Các bản vẽ thiết kế mặt cắt tàu ngầm diezel Đề án 613







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #292 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2012, 11:46:13 am »





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #293 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2012, 04:59:09 pm »

Các kích thước của tàu ngầm được thiết kế với sự tính toán khả năng vận tải theo đường thủy Volga-Baltic, Volga-Sông Đông và Biển Trắng – Baltic trên các ụ nổi. Đến khi thiết kế lại hệ thống Marin trên khu vực Chernovets-Vưterg, việc vận chuyển các tàu được sự kiến trên các ụ đặc biệt được làm nhẹ thuộc Đề án 768 khi tải trọng của tàu ở mức tối đa, đồng thời trên các cụ Đề án 28-K khi tháo pin ắc quy.

Thân trong – hàn hoàn toàn (được chế tạo từ thép có độ bền cao hiệu AK-25), chiều dài 59,4 mét trên phần lớn bộ phận từ 2 trụ liên hợp đường kính 4,4 mét (trên) và 4,8 mét (dưới), tạo thành trong mặt cắt hình số 8 (đường kính 5300mm ở khu vực trạm trung tâm), và các hình nón cụt ở các khoang cuối. Nó được chia bởi 6 vách ngăn không thấm nước thành 7 khoang, trong đó bố cục các khoang như sau:

+ Khoang số 1 (ngư lôi) – bố trí: các thiết bị ngư lôi, các ngư lôi dự trữ hoặc mìn trên các bệ chuyên dụng, cửa vận chuyển ngư lôi, 13 giường cho thủy thủ đoàn, các bộ phận dẫn động bánh lái tời ngang ở mũi, trạm trang thiết bị khẩn cấp của hệ thống tải trọng dằn chính.

+ Khoang số 2 (ắc quy) – bố trí: 1 cụm pin ắc quy và bình dành cho nước cất, buồng chỉ huy, 2 buồng 2 chỗ và  buồng cho các sỹ quan, khoang liên lạc vô tuyến, buồng vệ sinh, thiết bị pin tự động, 5 thùng không khí cao áp và các thùng nước nhạt.

+ Khoang số 3 (trạm trung tâm) – bố trí: khoang ra đa định vị, khí tài thủy âm và đạo hàng với tổ hợp khí tài, các trạm điều khiển bánh lái, lặn sâu và quạt, kiểm soát hệ thống chênh mớn nước, các đài đo không khí cao áp (BBD) và không khí trung áp (VSD), khí tài điều khiển bắn ngư lôi (PTUS), máy điều chỉnh điện thế tự động và la bàn con quay.

Trong hầm trạm trung tâm bố trí: trạm kiểm soát hệ thống hầm và các bơm tiêu nước chính, thiết bị bơm của hệ thống thủy lực, khí tài hành trình kế, kho thực phẩm với thiết bị làm lạnh, trạm mật mã, nhà vệ sinh, thùng nước nhạt và chứa nước bẩn.

Ngoài ra, trong trạm trung tâm bố trí các khí tài di động nâng cột trụ (buồm) của ăng ten khung, các ăng ten VAN-S, đài “Nakat”, ống nhòm ngầm tấn công và phòng không (PA-10 và PZN-10), khí tài nâng – quay đài ăng ten “Flag”

+ Khoang số 4 (ắc quy) – bố trí: cụm pin ắc quy số 2 và thùng để nước cất, buồng thủy thủ và buồng cho binh lính, hạ sỹ quan với 20 chỗ ngủ, buồng bếp và tắm, 3 thùng không khí cao áp, thiết bị tự động của pin và bản điều khiển động cơ diezel từ xa, dồng thời thùng dầu sạch

+ Khoang số 5 (diezel) – bố trí: 2 động cơ diezel 37D với các máy móc hỗ trợ và thiết bị dẫn động tuabin, trục dẫn động và trạm điều khiển động cơ diezel thứ 2. Ngoài ra, trong khoang bố trí: máy nén khí điện, quạt điện của quạt pin và hệ thống tổng hợp trên tàu, hệ thống điều hòa không khí, các thùng lưu thông và dầu sạch, thùng chứa nhiên liệu thải và thùng chứa nước bẩn.

+ Khoang số 6 (động cơ điện) – bố trí: 2 động cơ điện chân vịt chính PG-101 với các bàn điều khiển, 2 động cơ điện dự bị PG-103 và bảng điều khiển chúng, trục dẫn động với các khớp, 2 khoang ba chỗ ở để cho hạ sỹ quan và bính lính, bình chứa chất thải của nhà vệ sinh, thùng dầu sạch và thùng chứa nước bẩn.

+ Khoang số 7 (ngư lôi mạn tàu) – bố trí: các thiết bị ngư lôi với thiết bị dẫn động tuabin, khí tài bảo quản ngư lôi, cửa vào, 4 giường treo, hầm bơm 2P-1 và nhà vệ sinh với nhà tắm, các thùng – đường rãnh hình nhẫn và chênh mớn nước, đồng thời thùng nước nhạt.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #294 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2012, 05:25:51 pm »

Các bánh lái ngang ở mũi, mạn và đứng cùng các bánh lái ngang dạng xà ngang cân bằng, thiết kế hàn, dạng mũ chụp. Sự điều khiển bánh lái đứng và các bánh lại ngang được thực hiện nhờ thiết bị dẫn động thủy lực từ trạm trung tâm. Trong vai trò khí tài dự bị, sự điều khiển các bánh lái ngang mạn tàu dự kiến bằng thiết bị dẫn động điện. Sự chuyển mạch từ hệ thống dẫn động thủy lực sang điện và điều khiển các bánh lại với sự hỗ trợ của thiết bị dẫn động điện được thực hiện từ trạm trung tâm. Việc điều khiển bánh lái đứng trong chế độ di chuyển nổi từ đài chỉ huy, nhờ thiết bị dẫn động cơ khí bằng tay lái ở trạm trung tâm.

Để đảm bảo điều kiện sống và cứu nạn cho thủy thủ đoàn từ tàu ngầm bị dắm có 3 khoang cứu nạn bố trí ở vách ngăn thân trong có dạng hình cầu, các thí nghiệm trên 20kg lực/cm2 từ mặt lõm và 7kg lực/cm2 từ mặt lồi. Các thiết bị ngư lôi được trang bị hệ thống đặc biệt đảm bảo cửa ra của thủy thủ đoàn trong trạng thái nạp đạn ở độ sâu 120 mét, bằng khả năng mở các khí tàu và bằng khả năng đánh chìm khoang ở độ sâu 100 mét. Trạm trung tâm và khoang trong, được thiết kế như thùng cửa, đảm bảo đường ra của thủy thủ đoàn ở độ sâu 100 mét. Trên tàu đồng thời đảm bảo khả năng cứu nạn của thủy thủ đoàn từ bộ phận mạn của tàu với sự hỗ trợ đặc biệt của phễu chuyên dụng từ độ sâu 200 mét, là điểm mới theo so sánh với các đề án trước.

Hệ thống nhiên liệu và thay thế gồm có các thùng nhiên liệu dung lượng sử dụng 144,03 mét khối và thùng tải trọng dằn – nhiên liệu với dung lượng có ích 155,12m3.

Vũ khí cơ bản của tàu ngầm Đề án 633 là 8 thiết bị ngư lôi 533mm được bố trí ở thân trong. Sau thiết bị ngư lôi mũi bố trí theo 2 hàng song song trên bán kính mặt phẳng của tàu ngầm, còn 2 thiết bị ngư lôi mạn – một cách đối xứng tương đối ở mặt phẳng đường kính, với góc đối xứng giữa các trục là 3 độ.

Việc vận chuyển cơ số đạn được thực hiện khi có sự hỗ trợ của khí tài vận tải ngư lôi – mìn đảm bảo vận chuyển hoàn toàn cơ số đạn (14 ngư lôi) trong 10 giờ, không tính đến thời gian chuẩn bị của tàu khi tiếp nhận cơ số đạn. Thời gian vận chuyển hoàn toàn cơ số mìn (16…28 phút tới các tổ hợp và 12 tới bệ) khoảng 9 tiếng.

Trên tàu ngầm Đề án 633 áp dụng hệ thống tổ hợp chữa cháy bọt – khí VPL-52 và trang bị nâng áp suất hoạt tính cao trong các khoang với sự điều khiển từ xa. Đã lắp hệ thống điều khiển bắn ngư lôi mới “Leningrad-633”, khi hoạt động phối hợp với đài thủy âm “Arktika-M” đã giải quyết một cách nguyên tắc nhiệm vụ mới về việc tàu rút khỏi vị trí sau khi tấn công.

Để giảm tiếng ồn, trên tàu, cụ thể, đã lắm bệ với màn phủ chống rung bằng cao su.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #295 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2012, 11:02:54 am »

Các công nghệ mới được áp dụng trong đề án, đương nhiên là yêu cầu những sự kiếm tra thí nghiệm. Tài liệu đề án kỹ thuật được nghiên cứu thực hiện khoảng 20 năm kinh nghiệm làm việc, trong đó là những lần xử lý và thí nghiệm các khí tài và bộ phận sau:

+ khí tài nâng dạng ống lồng cho ống nhòm ngầm (thay cho hệ thống ròng rọc)

+ cơ cấu ống xả phụ dạng cánh hoa của khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diezel

+ van giảm áp lực nước với độ chênh áp suất từ 30 đến 3 kg lực/cm2 và với lưu lượng ổn định

+ van bảo vệ khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diezel

+ cụm vòng chắn dạng khối đặc theo thiết kế mới

+ các thiết kế thùng bắn ngư lôi không bụi (BTS)

+ thiết kế mới của cửa vận chuyển ngư lôi với cơ chế đóng xoắn

Ngoài ra, bộ phận các thiết kế và khí tài được chế tạo và thí nghiệm sơ bộ (trước khi lắp lên tàu). Trong số chúng có:

+ khớp lốp khí nén của động cơ dự bị

+ cột phân phối không khí cao áp và bơm hơi khẩn cấp

+ bộ truyền động kích thước nhỏ với sự ăn khớp bằng trục vít (cho tời và các van thông của thùng tải trọng dằn chính)

+ các vách ngăn giữa các khoang trong hình liềm

+ khoang trong

+ các chốt van chêm ngăn cách

+ van + hệ thống tự động dành cho việc luân chuyển tự động tới bộ nguồn (động cơ) từ thiết bị ắc quy thủy lực khẩn cấp khi có sự tụt áp suất trong khí tài ắc quy thủy lực chính.

Các thí nghiệm yêu cầu nghiên cứu trên bộ phận thiết bị ngư lôi hệ thống đặc biệt, đảm bảo sự rút lui của thủy thủ đoàn trong tình trạng đã nạp đạn bằng phương pháp mở máy hoặc bằng phương pháp đánh chìm khoang. Trong quá trình khai thác sử dụng, thao tác cứu nạn từ khoang số VII với sự hỗ trợ của phễu thợ lặn đã được kiểm tra, để tiếp nhận nó, đã dự định sử dụng thiết kế riêng – tấm quây bệ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #296 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2012, 04:15:32 pm »


Việc lắp lên tàu ngầm Đề án 633 hệ thống điều khiển bắn ngư lôi tự động được sản xuất hàng loạt “Leningrad-633” được thành lập dựa trên các thông số bắn ngư lôi (sự di chuyển của các ngư lôi theo hướng và các thông số đường zíc zắc), sau đó, chúng được đưa đến khoang ngư lôi và lắp vào ngư lôi nằm trong các ống phóng, bằng hệ thống điều khiển các khí tài con quay hồi chuyển (UPM-E). Sự xác định độ sâu hoạt động trên các khí cụ con quay của ngư lôi được thực hiện bằng thiết bị dẫn động “PGU” bằng tay từ khoang. Tầm hoạt động của khí tài điều khiển bắn ngư lôi là 100kab (18,5km).

Các bánh lái với mũ chụp nằm trong các phần lắp thêm đặc biệt. Các chân vịt 6 cánh, tiếng ồn nhỏ, bước (khoảng cách) không cố định, đường kính 1,6 mét. Đề án được tính toán khả năng lắp chân vịt bốn cánh và các chân vịt này đã được lắp lên tàu ngầm thứ 2 thuộc Đề án 633 – S-351, nhưng đã chỉ ra các kết quả không đạt yêu cầu.

Thủy thủ đoàn của tàu ngầm  - 52 người, trong đó có 9 sỹ quan. Tổng cộng trên tàu có 55 chỗ ngủ.

Trong quá trình các thí nghiệm cấp Nhà nước, tàu ngầm S-350 (số hiệu xưởng 331) đã được tiếp nhiên liệu từ tàu tiếp vận “Seima” trong khi tốc độ di chuyển của tàu tiếp vận là 6 hải lý và sóng cấp độ 2-3. Tổng cộng đã tiếp nhận 75,2 tấn nhiên liệu trong 1 giờ 40 phút. Thời gian tính toán tiếp nhận nhiên liệu vào toàn bộ các thùng nhiên liệu (252 tấn) là 6 giờ 5 phút.

Trong quá trình thí nghiệm đã bắn 18 ngư lôi kiểu 53-56, ET-56, EY-46 và 53-59M. Toàn bộ các lần bắn đều không có sự cố. Thời gian nạp đạn cho 6 thiết bị ngư lôi bằng các ngư lôi ET-46 là 40 phút, các kiểu ngư lôi khác - 70 phút (thay cho 20 phút theo thiết kế).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #297 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2012, 04:38:12 pm »


Trong quá trình thí nghiệm đã thực hiện việc thông tin liên lạc hai chiều của S-350 với các bộ phận thông tin liên lạc của Hạm đội Cờ đỏ Baltic (850 dặm), Hạm đội Cờ đỏ Caspi (720 dặm) và Hạm đội Phương Bắc (1750 dặm). Các kết quả đạt được là tốt. Ngoài ra, có thực hiện việc thông tin liên lạc trên ăng ten dài 6 mét với khí tài thông tin liên lạc của Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương (Vladivostoc), đồng thời cũng có kết quả tốt.

Việc di chuyển của tàu ngầm trong chế độ sử dụng khí tài đảm bảo hoạt động của động cơ diezel: tối thiểu – 5 dặm dưới 1 động cơ diezel, 10 dặm dưới 2 động cơ diezel. Xuất hiện các nhược điểm của khí tài – sự tiếp nhận nước ngoài thành tàu (400 lít) khi di chuyển với tốc độ 8-10 hải lý trên sóng biển cấp 4.

Các kết quả thí nghiệm các đài ra đa định vị và thủy âm như sau:

+ đài ra đa định vị “Flag” theo tàu khu trục Đề án 56: ở vị trí ngầm của tàu ngầm – 120kb (22,2km)

+ đài tìm kiếm “Nakat” theo tàu khu trục Đề án 30-bis (dưới ống nhòm tiềm vọng): khi hoạt động của đài “Rif” – 150kab (27,8km); khi hoạt động của đài “Zall” – 220kab (40,7km); đồng thời theo máy bay với đài ra đa định vị (ở tư thế nổi) – 252-300kab (46,6-55,5km).

+ đài thủy âm “Arktika-M”:

a) theo tàu tuần dương Đề án 68 di chuyển với tốc độ 20 hải lý khi sự cơ động của tàu ngầm trên độ sâu 50 mét với tốc độ 12,5 hải lý; tầm xa tiếng ồn tìm phương trong chế độ theo dõi tự đọng – 125kab (23,15km), tầm xa tìm phương theo tiếng dội (đo phạm vi) – 41kab (7,6km)

b) theo tàu khu trục Đề án 56 di chuyển với tốc độ 20 hải lý, khi sự cơ động của tàu ngầm ở độ sâu 80 mét với tốc độ 5,5 hải lý; tầm xa tìm phương theo tiếng ồn – 100kab (18,5km), tầm xa tìm phương theo tiếng vọng – 29kab (5,4km).

Trong các thí nghiệm đã xuất hiệu sự không hiệu quả của đài thủy âm nhìn vòng “Tuloma”. Trên màn hình của nó thực tế không thể phân biệt được mục tiêu tìm phương từ các mỗi bẫy (sự nhiễm sáng), được tạo thành bởi các dải nhiễu tiếng ồn và cơ khí thủy âm. Bằng quyết định của Phó Tư lệnh Hải quân từ 15 tháng 11 năm 1958, đài “Tuloma” không được tiếp nhận vào biên chế, còn sau đó, việc phát triển nó được chấm dứt.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #298 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2012, 05:06:46 pm »

Các biến thể


Có vẻ như các khả năng nâng cấp trong Đề án kỹ thuật được tính toán đến thì chúng không được áp dụng toàn bộ khi sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên, đến thời gian đóng tàu đã thực hiện những sự nâng cấp khác, một vài biện pháp trong số chúng yêu cầu thực hiện các công việc thí nghiệm bổ sung. Ví dụ, việc lắp khí tài khử từ yêu cầu các công việc thiết kế - thí nghiệm để nghiên cứu bản chất hình thành trường từ tính của tàu ngầm. Để thực hiện các công việc thiết kế - thí nghiệm, chi tiết, đã thu hút phòng thí nghiệm từ thuộc Viện Khoa học hàn lâm Liên Xô. Để làm việc đó, đã thiết kế và xây dựng 2 mẫu từ của tàu ngầm Đề án 633 trong tỷ lệ 1:12,5.

Năm 1960, Phòng thiết kế Trung ương số 112 cùng với các viện chuyên ngành liên quan đã thiết kế các bản vẽ và tài liệu thiết kế để lắp màn phủ chống thủy âm dạng NPPRK-7 trên các tàu ngầm đóng loạt Đề án 633 (số hiệu xưởng 344). Công việc được thực hiện theo nhiệm vụ kỹ thuật thuộc viện thủy âm Viện hàn lâm Liên Xô mang tên N.N.Adreev và dưới sự chỉ đạo khoa học của viện.

Sau khi hoàn thành việc xây dựng toàn bộ loạt tàu, Viện thiết kế Trung ương “Lazurit” đã phát triển đề án kỹ thuật tàu ngầm thí nghiệm Đề án 633-L để nghiên cứu khu vực cho người ở của thân tàu bà ác thí nghiệm đài thủy âm mới (S-37 được hiện đại hóa vào năm 1963).

Theo các bản vẽ được thiết kế bởi Phòng thiết kế kỹ thuật Hải quân “Malakhit”, 2 tàu ngầm đã trải qua sự trang bị lại theo Đề án 633-RV – để xử lý hệ thống bắn từ thiết bị ngư lôi 650mm bằng các ngư lôi kiểu mới và ngư lôi – tên lửa. Trong bộ phận mũi tàu có thượng tầng với 2 thiết bị ngư lôi 650mm.

Tàu ngầm S-128 đã được nâng cấp theo Đề án 633-KS (trong một số nguồn đồng thời gọi là Đề án 06333) để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chiến lược có cánh “Granat”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #299 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2012, 05:24:18 pm »

Chương trình đóng tàu


Tàu đầu tiên trong Đề án 633 – S-350 (số hiệu xưởng 331) – được khởi công ở sàn số 3 trong xưởng “Krasnoe Sormovo” 22 tháng 10 năm 1957, hạ thủy 30 tháng 5 năm 1958. Các thí nghiệm vận động cấp xưởng của tàu diễn ra từ 22 tháng 10 đến 20 tháng 12 năm 1958. Các thí nghiệm cấp nhà nước của S-350 diễn ra từ 21 tháng 12 năm 1958 đến 31 tháng 8 năm 1959 ở biển Đen, sau đó tiếp tục ở Hạm đội Phương Bắc. Ở Phương Tây, tàu ngầm Đề án 633 nhận tên gọi lớp Romeo.

Tổng cộng ở xưởng “Krasnoe Sormovo” trong năm 1957 – 62 đã đóng 20 tàu ngầm lớp này. Đáng chú ý, rằng đây là số lượng tàu ngầm lớn nhất sau chiến tranh – dự kiến theo kế hoạch đóng 560 tàu, nếu các thí nghiệm thành công với thiết bị hạt nhân không làm thay đổi điểm tựa cơ sở trong ngành đóng tàu trên các tàu ngầm.

Trong số các tàu ngầm diezel Đề án 633 đã được đóng, 2 tàu được bán cho Algieri (năm 1982 và 1983); 4 – Bulgari (2 trong năm 1972-73 thay cho Đề án 613, 1 năm 1985, 1 năm 1986); 6 – Ai Cập (5 vào năm 1966 và 1 năm 1969); 3 – Siry (năm 1986). Ngoài ra, theo giấy phép sản xuất của Liên Xô, ở Trung Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, các tàu ngầm diezel đề án này được đóng với số lượng lớn (Đề án 033 – Romeo biến thể).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM