daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #280 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 12:47:54 pm » |
|
Các ống nhòm tiềm vọng, hệ thống đảm bảo hoạt động cho động cơ diesel, các bánh lái dọc và ngang, nắp thiết bị ngư lôi có các thiết bị dẫn động thủy lực. Lần đầu tiên trong Hạm đội Liên Xô, trên các tàu ngầm này tiếp nhận hệ thống chênh mớn nước không tiếng ồn (chỉ bằng không khí), lắp ống thoát khí với sự thái khí vào nước, theo hướng mạn tàu (sử dụng hiệu quả hút của luồng nước ngoài thành tàu), đối với nhà vệ sinh lắp các bình thoát nước. Dự kiến lắp máy lạnh để làm mát không khí trong tàu ngầm, nhưng do hoạt động không đảm bảo yêu cầu, nó đã bị tháo. Trong quá trình thí nghiệm các tàu ngầm đầu tiên S-61 và S-80 đã xuất hiện các nhược điểm về thiết kế sau: + nước ngoài thành tàu tràn vào hệ thống thủy lực, những va chạm thủy lực quan sát được, xuất hiện sự nén và quạt làm sạch chất lượng không tốt, hoặt động của các máy trong van quạt không đáng tin cậy + vỡ, đảo các khí tài di động (không có sự dẫn hướng cho chúng) + tăng nhiệt độ ổ trục và khớp nối trên tuyến trục, sự rung các máy móc, các bình cầu khớp lốp – khí nén và vấn đề thay thế chúng. Mặc dù có một vài đặc điểm, việc này cho phép đủ đơn giản trong khí tài và tàu ngầm diesel tin cậy được Hải quân Liên Xô yêu thích. Trong toàn bộ sự đơn giản, trong hàng loạt trường hợp thậm chí sự nguyên thủy của trang thiết bị, nó đã trở thành một trong số các tàu ngầm êm nhất của Hải quân Nga. Trong cấp độ đó, lịch sử tồn tại của tàu ngầm Đề án 613 có thể so sánh với sự tồn tại của súng trường Nga mẫu năm 1891. Cũng không phải là xuất sắc, nhưng được tin cậy và yêu thích của mọi chiến binh Nga.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #281 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 01:01:44 pm » |
|
Bố cục bên trong của tàu ngầm diesel Đề án 613 1.Thiết bị ngư lôi 533mm 2.Phao điện thoại khẩn cấp 3.Động cơ điện diesel dự bị PG-103 4.Bình không khí nén 5.Động cơ diesel 37D 6.Pháo 57mm SM-24-ZIF (đã bị tháo) 7.Ống xả động cơ 37D 8.Ăng ten đài trinh sát kỹ thuật vô tuyến “VAN” 9.Ăng ten đài trinh sát vô tuyến “Nakat” 10.Ống nhòm tiềm vọng tiến công 11.La bàn từ GON-23M 12.Pháo 25mm 2M-8 (đã bị tháo) 13.Khoang 4 chỗ cho sỹ quan 14.Pin ắc quy 46SU 15.Bánh lái ngang 16.Đài thủy âm “Tamir-5L” 17.Thùng dây xích 18.Thùng chênh mớn nước 19.Thùng nước nhạt (không muối) 20.Thùng ngư lôi dự bị 21.Thùng nhiên liệu trong thân trong 22.Ống nhòm tiềm vọng phòng không 23.Hầm không khí cố định của hệ thống hoạt động của động cơ diesel 24.Ăng ten đài ra đa định vị “Flag” 25.Khoang cho người ở của thủy thủ lâu năm 26.Máy nén khí – diesel DK-2 27.Thùng nhiên liệu ngoài thân trong 28.Động cơ điện bánh lái PG-101 29, 39, 40, 41. 42. Các thùng tải trọng dằn chính 30. Bánh lái đứng 31. Bánh lái chân vịt 32. Thiết bị cân bằng 33. Máy nén khí điện không khí cao áp 34. Khoang ra đa định vị 35. La bàn chính 36. Buồng 2 chỗ cho sỹ quan 37. Các ngư lôi dự trữ 533mm 38. Bình cầu xạ kích
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #282 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 01:03:38 pm » |
|
Hình vẽ tàu ngầm Đề án 613
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #283 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2012, 06:46:46 pm » |
|
Các biến thể Trong giai đoạn sản xuất hàng loạt của Đề án 613 đã áp dụng một vài sự thay thế, chi tiết, trong sự bố trí pháo – một bộ phận các tàu ngầm có pháo trước mui, một bộ phận – sau mui (có nghĩa là phương Tây, tương ứng là lớp “Whiskey-II” và “Whiskey-IV”). Năm 1956, theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã tháo pháo từ các tàu ngầm (chúng không đáp ứng được các yêu cầu về phòng không với sự xuất hiện của các loại máy bay phản lực), sau đó, tốc độ và tầm bơi xa ở vị trí ngầm được tăng cường không đáng kể (lớp “Whiskey-III). Trong quá trình sửa chữa theo kế hoạch, trên các tàu đã thay thế một số kiểu trang vị kỹ thuật vô tuyến, lắp đài thủy âm “Feniks” (lớp “Whiskey-V”). Ngoài ra, trên 10 tàu ngầm đầu tiên của lớp đã lắp lá chắn sóng nhiều trụ theo thiết kế Lebedev, có kích thước mở nắp lớn hơn, còn sự tăng cường lực kéo giảm nhẹ đi hơn là lá chắn sóng theo thiết kế thông thường. Tuy nhiên, các lá chắn sóng này thâm chí khi bị biến dạng không lớn xảy ra sự kẹt lá chắn, bắt đầu từ tàu thứ 6 của loạt đã lắp các lá chắn sóng thường. Một tàu ngầm – S-348 thuộc Đề án 613 – đã trang bị lại theo Đề án 613-Ts và có khả năng tiếp nhận vũ khí ngư lôi ở độ sâu tăng cường 70 mét. 27 tàu ngầm đã được chế tạo biến thể theo Đề án 613 với mục đích tăng cường thời gian hoạt động đến 45 ngày. Hơn 30 tàu ngầm diesel đã được nâng cấp theo các đề án khác. Những năm 1950, đã thực hiện các công việc tích cực trong phạm vi chế tạo các động cơ chu kỳ kín đối với tàu ngầm với việc sử dụng các máy phát điện – điện hóa. Để thí nghiệm động cơ tương tự, tàu ngầm S-293 đã được trang bị lại thành tàu thí nghiệm theo Đề án 613-EKhG (mã số “Kartan”). Để thí nghiệm tổ hợp thủy âm dưới băng và khả năng hoạt động lâu dài dưới nước đã chế tạo Đề án 613-Sh. Các tàu ngầm Đề án 613 được sử dụng để tiến hành các thí nghiệm ngoài trời các loại vũ khí khác nhau, một trong số chúng đã nhận vũ khí tên lửa. Như tàu ngầm S-146 đã được trang bị lại theo Đề án P-613 để thí nghiệm các loại tên lửa có cánh tổ hợp P-5. Sau khi hoàn thành các thí nghiệm này và tiếp nhận tên lửa vào trang bị 6 tàu ngầm đã trải qua quá trình trang bị lại theo Đề án 644 (lớp “Whiskey Twin Cylinder”) và nhận vũ khí thuộc tổ hợp P-5 và 2 tên lửa có cánh trong thùng sau mui, còn 6 tàu ngầm khác – trang bị lại theo Đề án 665 (lớp “Whiskey Long Bin”) được phát triển ở Phòng thiết kế Trung ương số 112 và nhận vũ khí tổ hợp P-5 và 4 tên lửa bố trí ở vách ngăn mui. Tàu ngầm S-229 đã được trang bị lại theo Đề án 613-D4 để tiến hành các thí nghiệm các tên lửa đạn đạo khởi động ngầm R-21. Sau đó, nó được trang bị lại theo Đề án 613-D5 để thí nghiệm tên lửa R-27, sau đó – Đề án 613-D7. Tàu ngầm S-72 năm 1962 trang bị lại thành Đề án 613-A để thí nghiệm tên lửa chống tàu có cánh khởi động ngầm P-70 “Ametist”. S-65 đã trải qua trang bị lại theo Đề án 613-RV để xử lý ngư lôi – tên lửa (PLUR). 6 tàu ngầm vào năm 1955063 được đóng lại theo Đề án 640 thành tàu tuần tra ra đa định vị với việc lắp đài ra đa định vị “Kasatka”. Sau đó, 2 trong số chúng được trang bị lại thành tàu ngầm thí nghiệm Đề án 640-Ts để nghiên cứu theo chương trình “Tsiklon”, còn các tàu khác – tàu ngầm thông tin liên lạc. Để xử lý thùng nổi trong vai trò cứu nạn Hải quân năm 1961 theo Đề án 613-S, đã trang bị lại tàu S-43. Thêm một tàu ngầm diesel – S-63 – được biến tể thành tàu ngầm cứu nạn thí nghiệm với tổ hợp điều khiển ngầm UPA theo Đề án 666 (năm 1962). 2 tàu ngầm Đề án 613 – S-222 và S-227 – được bán cho Bộ thủy sản và trang bị lại để thực hiện các chương trình thí nghiệm địa lý đại dương và nghề cá với việc tháo hoàn toàn vũ khí. Chúng nhận tên gọi “Severyanka” và “Slavyanka”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #284 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:03:53 pm » |
|
Chương trình đóng tàu Các tàu Đề án 613 được đóng theo phương pháp dây chuyền với việc sử dụng rộng rãi biện pháp hàn tự đọng. Ngày 11 tháng 4 năm 1950, ở xưởng số 44 (hiện nay là xưởng đóng tàu Biển Đen) ở Nikolaev đã lắp trên bệ số 1 và khởi công tàu đầu tiên S-61. Ngày 26 tháng 6 năm 1950 đã trải qua các thí nghiệm thủy lực thân trong, còn 22 tháng 7 năm 1950, tàu được hạ thủy với 70% tình trạng chuẩn bị kỹ thuật. Ngày 6 tháng 11 năm 1950, khi đưa ra khỏi xưởng, tàu ngầm bị lật, khi đó, các khoang số 2, 6, 7 bị ngập nước. Sự lật xảy ra do sự không quan sát thiết kế theo sự di chuyển tàu ngầm tới âu tàu – không tiếp nước tới các thùng nhiên liệu, dẫn tới sự mất ổn định, đồng thời không làm kín đường vào tàu ngầm. Kết quả là việc đóng tàu ngầm bị trì hoãn và các thí nghiệm neo đậu chỉ bắt đầu vào 12 tháng 1 năm 1955. Mùng 5 tháng 5 năm 1951, S-61 đã tới căn cứ Hải quân Sevastopol, 14 tháng 7 năm 1951 đã thực hiện việc lặn ở khu vực nước sâu cho việc nghiệm thu cấp nhà nước và từ 17 tháng 10 năm 1951 đến 24 tháng 5 năm 1952 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước. Tổng cộng đến năm 1957, ở xưởng này đã đóng 72 tàu ngầm Đề án 613. Ở xưởng “Krasnoe Sormovo” tại Gorki, tàu đầu tiên thuộc Đề án 613 – S-80 (đơn đặt hàng số 801) – khởi công 13 tháng 3 năm 1950. Tàu được hạ thủy 21 tháng 10 năm 1950 với 70% tình trạng chuẩn bị kỹ thuật. Mùng 1 tháng 11 năm 1950, tàu ngầm đã tới Baku, ở đó, từ 31 tháng 12 năm 1950 đến 26 tháng 4 năm 1951 đã tiến hành các thí nghiệm. Mùng 9 tháng 7 năm 1951 đã tiến hành lặn ở vùng nước sâu, còn 2 tháng 12 năm 1951 đã ký văn bản tiếp nhận. Ở xưởng, đến năm 1956 đã đóng 113 tàu ngầm của Đề án này. Ngoài ra, ở xưởng Baltic đã đóng trong giai đoạn 1953 – 1958 là 19 tàu ngầm Đề án 613 và trong giai đoạn 1954 – 1957 – thêm 11 tàu ngầm nữa. Tổng cộng dự định đóng 340 tàu ngầm thuộc đề án này, còn thực tế đã đóng – 215 tàu và đã trở thành kỷ lục trong ngành đóng tàu Hải quân). Rõ ràng, Đề án 613 đã mang tới cho ngành đóng tàu Liên xô thành công quốc tế đầu tiên: đây là thiết kế tàu ngầm đầu tiên của Nga được thực hiện ở nước ngoài. Năm 1954, theo quyết định của Chính phủ, các bản vẽ làm việc và tài liệu kỹ thuật trên Đề án 613 đã được chuyển giao cho Trung Quốc.Theo hiệp ước, 3 tàu ngầm đâu tiên được đóng hoàn toàn ở Liên Xô, sau đó được đưa đến Trung Quốc trong tình trạng tháo rời. Chúng được mang đến Thượng Hải, ở xưởng đóng tàu “Dzianan” và thí nghiệm ở Cảng – Artur cuối năm 1957. Toàn bộ các tàu ngầm sau đó được đóng ở Trung Quốc, nhưng ở Liên Xô đã gửi đến Trung Quốc thép, trang thiết bị điện, máy móc và vũ khí. Cuối năm 1957, sau khi hoàn thành các thí nghiệm 3 tàu ngầm đầu tiên, Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị đóng tàu ngầm Đề án 613 ở xưởng đóng tàu Vũ Hán tại Hàng Châu. Tàu đầu tiên của xưởng được thí nghiệm ở Cảng – Artur trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1958 đến tháng 1 năm 1959. Tới thời điểm đó, ở Cảng – Artur đã có 15 tàu ngầm được đóng ở xưởng “Dzianan”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #285 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:30:37 pm » |
|
Tình hình đến năm 2007 Trong thời gian của mình, các tàu ngầm Đề án 613 trở thành cơ sở của lực lượng tàu ngầm Liên Xô. Các tàu cuối cùng trong biên chế bị loại bỏ vào những năm 1991 – 1992. Các tàu ngầm Đề án 613 được bàn giao một cách tích cực cho nước ngoài. 10 tàu ngầm cho Ai Cập, 12 – Indonesia (nhận các số hiệu: 401 “Sakra”, 402 “Nanggala”, 403 “Nagabanda”, 404 “Trisula”, 405 “Nagarangsang”, 406 “Candrasa”, 407 “Alugoro”, 408 “Cundamani”, 409 “Hendrajala”, 410 “Pasopati”, 411, 412 “Bramstra”), 2 cho Albani và thêm 2 tàu bị người Albani chiếm đoạt ở căn cứ Vlera trong thời kỳ đổ vỡ quan hệ Liên Xô – Albani, 4 – Trung Quốc, 4 – Ba Lan, 2 – Bungari, 1 – Cuba. Hai tàu trong lớp đã hy sinh: S-178 – năm 1981 ở Thái Bình Dương tại vịnh Đông Bosfor và S-80 (đề án 644) vào tháng 1 năm 1961 ở biển Barents do bị tràn nước vào hầm đảm bảo hoạt động của động cơ diesel. Nước tràn vào tàu đủ chậm và thủy thủ đoàn có thể chống lại việc chìm tàu, ở độ sâu 220 mét trên sống tàu cân bằng và không bị chênh, nhưng trữ lượng nổi âm và sự suy giảm lượng khí nén không cho phép tàu nổi lên mặt nước. Mặc dù vậy, trong thời gian dài các công việc tìm kiếm quy mô lớn vẫn không tìm ra tàu, tàu chỉ được tìm ra vào năm 1968 và trục vớt 24 tháng 7 năm 1969 bằng tàu cứu nạn “Karpata” bằng biện pháp trục vớt phân cấp và bố trí trên khu vực nước nông. Sau khi điều tra, S-80 bị xẻ kim loại. Với tàu ngầm S-363 đã trải qua một sự kiện scandal (tai tiếng) quốc tế. Năm 1981, trong thời gian hành quân tới biển Baltic, trên tàu xảy ra sự vỡ các khí tài đạo hàng, sau đó, tàu ngầm trong trạng thái nổi vào ban đêm đã tới vùng nước nông ở khu vực Thủy Điển một cách trực tiếp gần căn cứ Hải quân Karlscrun. Bản thân S-363 không thể tự dời khỏi khu nước nông, vì thể thủy thủ đoàn đã phải đợi sự hỗ trợ các tàu Liên Xô. Theo thông báo, chỉ huy tàu đã nhận lệnh của chỉ huy Liên Xô phá hủy tàu trong trương hợp quân địch cố gắng chiếm tàu, bởi vì trên thành tàu mang ngư lôi đầu đạn hạt nhân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #286 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:44:56 pm » |
|
Các thông số kỹ - chiến thuật chính Lượng choán nước, tấn + nổi: 1080 + ngầm: 1350 Các kích thước chính, mét + chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 75,95 (-) + chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,6 (6,3) + lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 4,55 Thiết bị năng lượng chính: điện – diesel + 2 động cơ diesel 37D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 4 000 (2940) + 2 máy phát điện diesel PG-101, tổng công suất, sức ngựa (kW): 2700 (1985) + 2 máy phát điện diezel dự bị PG-103, tổng công suất, sức ngựa (kW): 100 (74) + pin ắc quy 46SU, số nhóm x số lượng phần tử: 2x112 2 trục. 2 bánh lái chân vịt Tốc độ, hải lý + nổi hoàn toàn: 18,25 + nổi dự trữ: 10 + dưới khí tài đảm bảo hoạt động cho động cơ diesel: 5,5 + ngầm hoàn toàn: 13,1 + ngầm dự trữ: 1,97 Tầm bơi xa (tốc độ, hải lý) + ở tư thế nổi: 13 000 (  ; 8580 (10) + dưới khí tài đảm bảo hoạt động: - + trong tư thế ngầm: 352 (1,97); 13 (13,1) Độ lặn sâu, mét + hoạt động hiệu quả: 170 + giới hạn: 200 Thời gian hoạt động: 30 ngày Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 52… 54 (-).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #287 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:51:01 pm » |
|
Vũ khí Ngư lôi + thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi (đạn, ngư lôi): 4 (10) + thiết bị ngư lôi 533mm mạn tàu (đạn, ngư lôi): 2 (2) Pháo + pháo 57mm SM-24-ZiF (sau bị tháo): 1x2 + pháo 25mm 2M-8 (sau bị tháo): 1x2 Mìn: có thể mang theo mìn AMD-1000 thay cho 10 ngư lôi: 20 Trang bị vô tuyến điện Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate) Đài thủy âm + “Mars-24KIG” hoặc “Feniks” + “Tamir-5L” – đài thủy âm định vị Các khí tài tác chiến điện tử + “VAN” (Stop Light) – RTR + “Nakat” (Park Lamp D/F): trinh sát vô tuyến Tổ hợp đạo hàng: tổ hợp các khí tài Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài Đài ra đa định vị hội thoại nói: -
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #288 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 04:01:35 pm » |
|
Đề án 611 – lớp Zulu-1 Tổng số tàu đã đóng: 26 Các biến thể + 611 (lớp Zulu-I) – đề án cơ sở tàu ngầm đại dương (1953) + 611 (lớp Zulu-II) – đề án tàu ngầm đóng loạt với sự tháo vũ khí pháo (1956) + 611 (lớp Zulu-III) – đề án tàu ngầm đóng loạt với khí tài thủy âm mới + V-611 (lớp Zulu-IV) – tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo trên cơ sở tàu ngầm ngư lôi Đề án 611 để thí nghiệm tên lửa đạn đạn R-11FM (1954) + AV-611 (lớp Zulu-V) – biến thể đóng loạt của Đề án 611 với 2 tên lửa đạn đạo R-11FM (1957) + P-611 – tàu ngầm thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa có cánh P-10 (1957) + PV-611 – tàu ngầm diezel thí nghiệm để xử lý tên lửa đạn đạo khởi động ngầm (1958) + 611-RE – tàu ngầm diezel thí nghiệm để thí nghiệm tổ hợp thủy âm “Kerch” (1965) + 611-P – tàu ngầm diezel đặc biệt – thiết bị mang các tổ hợp cho người ở lâu ngày + “Lira” – 3 tàu ngầm diezel được tháo vũ khí và trang bị lại để thực hiện các thí nghiệm khoa học và địa lý đại dương.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #289 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2012, 11:19:45 am » |
|
Đề án 615/A-614 – Lớp Quebec Tổng số tàu đã đóng: 1/29 Các biến thể + 615 – đề án tàu ngầm cơ sở trước khi đóng loạt với động cơ diezel chu kỳ khép kín (1953) + A-615 – biến thể đóng loạt trên cơ sở Đề án 615 (1955) + 637 – tàu ngầm thí nghiệm với động cơ diezel chu kỳ khép kín trên nguyên tắc các công việc mới (1959).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|