Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:16:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329676 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #220 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2012, 02:29:35 pm »

Chương trình đóng tàu


Tàu đầu tiên thuộc Đề án 971 nhận số hiệu K-284 (số hiệu xưởng 501) được khởi công ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur. Trong quá trình thí nghiệm đã xuất hiện những sự hoàn thiện nhằm nâng cao cấp độ “êm” của thủy âm hơn so với các tàu ngầm nguyên tử trước. Cấp độ tiếng ồn của K-284 là thấp gấp 4-4,5 lần so với các tàu ngầm tiền nhiệm có tiếng ồn “thấp” nhất của Liên Xô – Đề án 671-RTM, đã mang đến cơ sở để nói về địa vị hàng đầu thế giới của Liên Xô/Nga theo chỉ số quan trọng bậc nhất của ngành đóng tàu.

Việc đóng tàu dòng này được tiếp tục nhanh – chậm đều đặn đến đầu năm 1990, nhưng sau khi Liên Xô tan rã và khủng hoảng kinh tế ở Nga, tình hình bị đình trệ đáng kể. Năm 1995, đã thành công trong việc đưa vào biên chế 7 tàu ngầm đóng ở xưởng 199 tại Amur và 6 tàu ở xưởng số 402 tại Severodvinsk. Sau khi được đóng tiếp đến năm 2001, tàu ngầm nguyên tử “Gepard” (K-335) – số 14 theo tính toán, còn “Nerpa” (K-152) đã tiếp nhận sự đóng tiếp theo Đề án 971-I để bàn giao cho Ấn Độ (thuê trong 10 năm). Thêm 5 tàu trong giai đoạn chuẩn bị khác nhau đã bị dừng lại, ngoài ra, còn ở trong các xưởng có thiết kế thân tàu còn chưa được khởi công. Theo đó, tổng cộng loạt có 15 tàu, mặc dù theo kế hoạch ban đầu lớn hơn rất nhiều.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #221 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2012, 02:53:07 pm »

Tình hình đến năm 2009


Tới thời điểm này, trong biên chế Hải quân Nga còn 13 trong số 15 tàu thuộc Đề án 971, trong đó có 1 tàu Đề án 971-I, đóng cho Hải quân Ấn Độ. “Akula” và “Ak Bars” đã bị loại khỏi biên chế vì vấn đề tài chính chứ không phải hết thời gian phục vụ.

Hiện nay, toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử đa chức năng thuộc Đề án này nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc (đóng căn cứ ở Yagelnưi) và Thái Bình Dương (Ruwbachy). Chúng được sử dụng một cách hiệu quả trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu (so với thời điểm hiện nay). Năm (5) tàu chưa được đóng đã được bảo quản lâu dài trên các xưởng đóng tàu, nhưng sau năm 2000, việc đóng chúng bị dừng lại, còn đơn đặt hàng thì bị bãi bỏ. Các thiết kế, 2 trong số chúng (“Rưs” và “Kuguar”) được sử dụng khi đóng tiếp tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa có cánh “Yuri Dogoruki” Đề án 955.

Đến mùng 2 tháng 11 năm 2008, trong thời gian thí nghiệm ở biển Nhật Bản, trên tàu ngầm nguyên tử “Nerpa” Đề án 971-I đã xuất hiện tai nạn. Lúc 3 giờ 30 phút sáng (20 giờ 30 phút giờ Moskva), ở khoang mũi tàu bất ngờ hệ thống chữa cháy bị hỏng: cửa bị đóng kín, mọi người chỉ kịp rời khỏi buồng, và trong các buồng bị đóng, freon bắt đầu tràn vào. Kết quả là 20 người bị ngạt thở (3 quân nhân và 17 người trong đội bàn giao) và 21 người bị nhiễm độc Freon (tổng cộng trên “Nerpa” có 208 người, trong số đó, 81 quân nhân). Tàu chống ngầm loại lớn “Admiral Tributs” đã tiếp cận tàu ngầm, ở đó các hoạt động quân y đã bắt đầu cấp cứu các bệnh nhân. Trong các bệnh viện của Hạm đội Thái Bình Dương ở Vladivostoc đã tiếp nhận bệnh nhân với các tình trạng nhiễm độc khác nhau. Chính tàu ngầm như là “nạn nhân” của vụ tai nạn không bị thương tích, lò phản ứng hoạt động trong chế độ bình thường. Các thí nghiệm sau đó đã dừng lại, và tàu ngầm tự hoạt động, cùng với tàu cứu nạn đã trở về căn cứ tạm thời ở Primore.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #222 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 12:41:06 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - các tàu còn phục vụ trong biên chế)


+ K-284, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Akula” (số hiệu xưởng 501); khởi công 11 tháng 11 năm 1983 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như là phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn (6 tháng 11 năm 1983 việc lắp các ụ con đóng tàu được bắt đầu); là tàu đầu tiên trong Đề án; 16 tháng 6 năm 1984, được đưa tới ụ vận tải – hạ thủy “Amur”; 16-25 tháng 10 năm 1984 được vận chuyển tới căn cứ bàn giao ở vịnh Đá Lớn, sau đó, từ vịnh con Chikhareva, tàu được kéo từ ụ, gồm có khởi động vật lý lò phản ứng; 30 tháng 12 năm 1984, gia nhập biên chế; trong giai đoạn từ năm 1985 đến 1989, nằm ở căn cứ bàn giao Đá Lớn để tiến hành các công việc khác nhau, trong đó có sự khắc phục sự phê bình và nhận xét của ủy ban nghiệm thu (1985-1988), tinh sửa lần cuối và sơn (1986), kiểm tra khối lượng công việc và công nghệ tiến hành sửa chữa ở bến chữa tàu và hàng hải (1987, 1989), sự tinh chế thủy âm (1985-1986), các thí nghiệm hiệu chỉnh và thí nghiệm cấp xưởng của tổ hợp thủy âm “Skat-3” (1985-1986), các thí nghiệm cấp Nhà nước của tổ hợp thủy âm “Skat-3”, gồm có sự kiểm tra trong các điều kiện đại dương (1986-1987), hoàn thiện tổ hợp thủy âm theo sự phê bình và góp ý của ủy ban cấp Nhà nước (1988), tiến hành hoạt động riêng rẽ đối với tổ hợp tên lửa “Granat”; từ năm 1986, tàu được sử dụng để đảm bảo thí nghiệm của loạt tàu ngầm; năm 1990, chuyển tới căn cứ thường trực ở Kamchatka và 28 tháng 2 năm 1990, gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; cuối những năm 1990, bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân.

+ K-480, từ 24 tháng 7 năm 1991 là “Bars”, từ 13 tháng 10 năm 1997 là “AK Bars” (số hiệu xưởng 821); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 3 năm 1984 như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; khởi công 22 tháng 2 năm 1985 ở phân xưởng xí nghiệm lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); 16 tháng 4 năm 1988 – hạ thủy; 29 tháng 12 năm 1988 kéo cờ và 31 tháng 12 năm 1988 gia nhập biên chế; 1 tháng 3 năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 8 năm 1989 gia nhập biên chế các lực lượng trực chiến thường trực và thực hiện nhiệm vụ trực chiến cấp 1; 6 tháng 4 năm 190 đã hoàn thành cuộc lặn sâu ở độ sâu giới hạn; theo kết quả năm 1990, đã nhận thành tích “tàu xuất sắc”, đồng thời tàu tốt nhất Hạm đội Phương Bắc về khả năng sống còn khi chốn lại mìn và huấn luyện chống ngầm; năm 1990 và 1993, bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác, bảo quản lâu dài và neo đậu ở Gadzhievo.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #223 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 03:02:31 pm »


*+ K-263, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Delphin”; (số hiệu xưởng 502); khởi công 9 tháng 5 năm 1985 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; hạ thủy 28 tháng 5 năm 1986; 30 tháng 12 năm 1987 gia nhập biên chế; năm 1988 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; đầu những năm 1990 đã trải qua sửa chữa; trong thời gian mùa đông năm 1996-1997 đã thực hiện các nhiệm vụ tập – huấn luyện, thực hiện bắn tên lửa và ngư lôi huấn luyện, rải mìn (cùng với thủy thủ đoàn tàu ngầm “Drakon” trên thành); năm 1997 đã đến căn cứ thường trực ở Viliuchinsk.

*+ K-322, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Kashalot” (số hiệu xưởng 513); khởi công 5 tháng 9 năm 1986 ở phần xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như là tàu ngầm loại lớn; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1987; 30 tháng 12 năm 1988 gia nhập biên chế; năm 1989 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương.

*+ K-317, từ 10 tháng 10 năm 1990 là “Pantera” (số hiệu xưởng 822); khởi công 6 tháng 11 năm 1986 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Severodvinsk (số 402); 10 tháng 3 năm 1987 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 21 tháng 5 năm 1990 – hạ thủy; 28 tháng 9 năm 1990 đã hoàn thành lần ra khơi đầu tiên; 2 tháng 10 năm 1990 đã hoàn thành cuộc lặn sâu đầu tiên; 27 tháng 12 năm 1990 gia nhập biên chế và 30 tháng 12 năm 1990 đã kéo cờ Adrei và cờ Hải quân công nông đỏ năm 1919; 14 tháng 3 năm 1991 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 5 đến 22 tháng 6 năm 1992 đã thực hiện cuộc hành quân giai ngày, ở đó đã tham gia vào chiến dịch sục sạo chống ngầm của Hạm đội Phương Bắc ở Đông – Bắc Đại Tây Dương, 28 tháng 11 năm 1991 theo mệnh lệnh của Tổng thống Liên Xô, 17 thành viên thuộc thủy thủ đoàn tặng huân và huy chương; 2 tháng 1 năm 1992 là tàu ngầm xuất sắc và tàu tốt nhất trong Hạm đội Phương Bắc trong huấn luyện chống ngầm; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 2 tháng 1 năm 1993, theo kết quả huấn luyện chiến đấu trong năm đã qua đã trở thành tàu tốt nhất trong đơn vị và trong Hạm đội Phương Bắc do các hoạt động tìm kiếm; trong thời gian năm 1993 đã thực hiện một lần phục vụ sẵn sàng chiến đấu; 3 tháng 11 năm 1993 theo mệnh lệnh của Tổng thống Nga, 24 thành viên thủy thủ đoàn đã được tặng huân chương và huy chương, thủy thủ đoàn được tặng giải của Bộ tư lệnh Hải quân “Vì sự giám sát tàu ngầm nước ngoài”; 15 đến 26 tháng 3 năm 1996 đã tham gia cuộc tập trận chỉ huy – tham mưu dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Hải quân, nhận đánh giá “tốt”; 28 tháng 11 năm 1998, thủy thủ đoàn trở thành tập thể xuất sắc trong đơn vị, chiếm vị trí số 1 về huấn luyện chiến đấu; 11 tháng 1 năm 1999, chỉ huy Thuyền trưởng cấp 1 S.V.Spravtsiev theo mệnh lệnh của tổng thống Nga đã được tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga; 6 tháng 9 năm 2000, đã được tàu cứu nạn “Nikolai Chiker” kéo về Severodvinsk để sửa chữa ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc; 2 tháng 11 năm 2006 trong thời gian sửa chữa, do sự hàn không cẩn thận, ở khoang số 3 sàn lát gỗ và giẻ đã bốc cháy và sau đó là ống cáp; những người quản lý xưởng đã quyết định đóng kín khoang nóng với tính toán rằng không có không khí, lửa sẽ tự dập tắt; khi nhiệt độ trong khoang kín bắt đầu giảm xuống, trong khoang còn 7 người, tuy nhiên, 2 trong só đó chưa bị thương ngay lập tức do sản phẩm của lửa và di chuyển một cách khó nhọc tới bệnh viện; 28 tháng 1 năm 2008, sau khi kết thúc sửa chữa đã tiếp nhận vào thành phần chiến đấu của Hải quân.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #224 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 03:22:34 pm »


*+ K-461, từ 25 tháng 6 năm 1991 là “Volk” (số hiệu xưởng 831); khởi công 14 tháng 11 năm 1987 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 20 tháng 12 năm 1989 như tàu ngầm nguyên tử lớn; 11 tháng 6 năm 1991 – hạ thủy; 29 tháng 12 năm 1991 gia nhập biên chế; 27 tháng 1 năm 1992 kéo cờ Hải quân và 11 tháng 2 năm 1992 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; mùa xuân năm 1993 tham gia chiến dịch cứu nạn; trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1993 đến tháng 1 năm 1994 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; trong gia đoạn từ tháng 12 năm 1995 đến tháng 2 năm 1996 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Địa Trung Hải (cùng với thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử “Pantera”, theo các kết quả đó, chỉ huy tàu Burilichev A.V được tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga; năm 1996 đã thực hiện 1 nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; 29 tháng 1 năm 2000 khi đang xử lý các nhiệm vụ ở bãi tập huấn luyện chiến đấu trong thời gian bão đã làm hy sinh 2 sỹ quan – trợ lý lâu năm và chỉ huy bộ phận chiến đấu số 3.

*+ K-391, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Kit”, từ 1 tháng 9 năm 1997 là “Bratsk” (số hiệu xưởng 514); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 3 năm 1984; khởi công 23 tháng 2 năm 1988 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử lớn; 14 thnags 4 năm 1989 hạ thủy; 29 tháng 12 năm 1989 gia nhập biên chế; 28 tháng 2 năm 1990 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương.

*+ K-328, từ 24 tháng 1 năm 2001 là “Leopard” (số hiệu xưởng 832); khởi công 26 tháng 10 năm 1998 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); 15 tháng 1 năm 1990 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử lớn; theo chỉ thị của Bộ tham mưu Hải quân từ 21 tháng 5 năm 1991, tàu đã được chuyển giao Huân chương Cờ đỏ số 544341 từ tàu ngầm K-181 Đề án 627-A (tàu ngầm nguyên tử đầu tiên, có mặt ở cực Bắc), còn 29 tháng 4 năm 1991 đã thừa hưởng Cờ đỏ Hải quân từ tàu ngầm K-181 (Đề án 627-A); 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 28 tháng 6 năm 1992 hạ thủy; 1 tháng 9 năm 1992 khởi động lò phản ứng; 15 đến 30 tháng 10 năm 1992 đã trải qua các thí nghiệm vận động cấp xưởng; 15 tháng 12 năm 1992 đã hoàn thành thí nghiệm cấp Nhà nước và 30 tháng 12 năm 1992 gia nhập biên chế; 15 tháng 1 năm 1992 kéo cờ và 26 đến 29 tháng 1 năm 1992 đã hoàn thành cuộc di chuyển từ Severodvinsk tới vị trí đóng căn cứ thường trực; 5 tháng 2 năm 1993 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1994 được nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2002 đã thực hiện 4 lần sẵn sàng chiến đấu (năm 1998, các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu đã thực hiện cùng thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử “Pantera”).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #225 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 03:50:42 pm »


*+ K-154, từ 24 tháng 7 năm 1991 là “Tigr” (số hiệu xưởng 833); khởi công 10 tháng 9 năm 1989 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severdovinsk (số 402); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 31 tháng 1 năm 1991 như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 26 tháng 6 năm 1993 hạ thủy; 7 tháng 9 năm 1993 thực hiện khởi động lò phản ứng; 14 tháng 11 năm 1993 trong thời gian thí nghiệm vận động đã hoàn thành cuộc lặn sâu đầu tiên; 19 tháng 11 năm 1993 đã thực hiện cuộc bắn ngư lôi đầu tiên; 24 tháng 11 năm 1993 – bắn tên lửa; 29 tháng 12 năm 1993 gia nhập biên chế; 5 tháng 1 năm 1994 kéo cờ và 21 tháng 1 năm 1994 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1995 và 1996 được tặng giải của Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ 1998 đến 2002 trải qua sửa chữa bổ sung ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc; trong gian đoạn từ 2002 đến 2003 đã thực hiện 2 lần trực chiến.

*+ K-331, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Narval” (số hiệu xưởng 515); khởi công 28 tháng 12 năm 1989 ở phân xưởng thuộc xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin tại Komsomol-na-Amur (số 199) như là tàu ngầm nguyên tử lớn; hạ thủy 23 tháng 6 năm 1990; 31 tháng 12 năm 1990 gia nhập biên chế; năm 1991 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương.

*+ K-157, từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Vepr” (số hiệu xưởng 834); khởi công 13 tháng 7 năm 1990 tại phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Severodvinsk (số 402); ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1992 như tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 10 tháng 12 năm 1994 hạ thủy; trong giai đoạn từ 29 tháng 6 năm 1995 đến 3 tháng 11 năm 1995 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng, sau đó là thí nghiệm cấp Nhà nước; 25 tháng 11 năm 1995 gia nhập biên chế; 30 tháng 11 năm 1995 kéo cờ và 10 tháng 12 năm 1995 đã tới chỗ đóng căn cứ thường trực ở Gadzhieveo; 29 tháng 12 năm 1995 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 11 tháng 9 năm 1998 trên tàu đã xảy ra tình trạng khẩn cấp; thỉu thủ Kuzmin một cách bình thản đã giết hại 8 thủy thủ và làm bị thương 1 sỹ quan, sau đó khóa khoang mũi tàu, đe dọa kích nổ ở đó một trong số các tên lửa; qua 23 giờ, sau khi bắt đầu cuộc đụng độ của phân đội đặc nhiệm FSB và Hạm đội phương Bắc đã thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, kết quả là thủy thủ trên đã bị bắn hạ; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1998 đến tháng 2 năm 1999 đã thực hiện nhiệm vụ phục vụ sẵn sàng chiến đấu, thủy thủ đoàn chiếm vị trí số 1 trong Hải quân về giám sát lâu dài tàu ngầm nước ngoài; tháng 4 năm 1999 trong quá trình diễn tập chỉ huy – tham mưu theo sự di chuyển các lực lượng trong đơn vị tới cấp độ huấn luyện cao hơn, tàu đã được kiểm tra bởi Phòng thanh tra Quân đội thuộc Ủy ban An toàn Liên bang, được đánh giá “tốt”; tháng 9-10 năm 1999 đã trải qua các thí nghiệm thủy âm mở rộng ở biển Trắng; năm 1999 được tặng giải thưởng từ Bộ Tư lệnh Hải quân về huấn luyện chống ngầm; trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2003 đã thực hiện 1 lần phục vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến dịch cứu hộ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #226 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 04:02:33 pm »


*+ K-335, từ 22 tháng 2 năm 1993 là “Gepard” (số hiệu xưởng 835); khởi công 23 tháng 9 năm 1991 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402); 22 tháng 2 năm 1993, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 4 tháng 12 năm 1997, thừa hưởng cờ Cận vệ từ tàu ngầm K-22 (Đề án 675-MVK); 17 tháng 9 năm 1999 hạ thủy; 20 tháng 7 năm 2001 đã hoàn thành các thí nghiệm cấp nhà nước; 4 tháng 12 năm 2001 kéo cờ và 5 tháng 12 năm 2001 gia nhập biên chế; năm 2002 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 2004 trở thành tàu xuất sắc của Hạm đội Phương Bắc do gia đoạn huấn luyện mùa đông; năm 2007, đưa vào sửa chữa.

+ K-337, từ 22 tháng 1 năm 1998 là “Kuguar” (số hiệu xưởng 836); khởi công 18 tháng 8 năm 1992 ở phân xưởng thuộc xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk (số 402) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 22 tháng 1 năm 1989 bị loại khỏi danh sách tàu Hải quân và dừng đóng; 1 tháng 5 năm 1988 bị giải thể và bảo quản; sau đó các thiết kế kim loại đã hoàn thnahf của tàu được bắt đầu đóng tiếp thành tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh đầu tiên thuộc Đề án 955 (“Yuri Dolgoruki”).

*+ K-295, từ 29 tháng 12 năm 1995 là “Drakon”, từ 30 tháng 8 năm 1999 là “Samara” (số hiệu xưởng 517); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 4 năm 1990 như tàu ngầm nguyên tử lớn; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; khởi công 7 tháng 11 năm 1993 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur ở Komsomol-na-Amur (số 199); 5 tháng 8 năm 1994 hạ thủy; 17 tháng 7 năm 1995 gia nhập biên chế; 29 tháng 12 năm 1995 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 4 tháng 12 năm 1997 thừa hưởng cờ Cận vệ Andrei từ tàu ngầm K-133 Đề án 627-A.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #227 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 04:20:44 pm »


*+ K-152, từ 13 tháng 4 năm 1993 là “Nerpa” (số hiệu xưởng 518); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 1 năm 1991 như tàu ngầm nguyên tử lớn; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; khởi công năm 1993 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur tại Komsomol-na-Amur (số 199); 4 tháng 12 năm 1997 thừa hưởng cờ Cận vệ Andrei từ tàu ngầm K-56 Đề án 675; tháng 1 năm 2002 dừng đóng tàu do thiếu tài chính khi hoàn thành kỹ thuật 68%; tháng 1 năm 2004 ký hợp đống đóng tiếp theo Đề án 971-I với sự thuê sau đó của Hải quân Ấn Độ; 24 tháng 6 năm 2006 hạ thủy; 11 tháng 6 năm 2008 bắt đầu chương trình thí nghiệm trước khi đưa vào khai thác sử dụng; 31 tháng 10 năm 2008, tàu đã hoàn thành cuộc lặn sâu lần đầu tiên; theo sự hoàn thành các thí nghiệm vận động đã lên kế hoạch bắt đầu quá trình bàn giao tàu ngầm nguyên tử của Ủy ban quốc gia và bàn giao cho Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 8 tháng 11 năm 2008; gần 20 giờ 30 (13 giờ 30 giờ Moskva) theo giờ địa phương khi đang tiến hành các thí nghiệm vận động trên tàu đã xảy ra tai nạn của hệ thống chữa cháy trong bộ phận mũi, kết quả tai nạn, 20 người hy sinh (trong số đó có 3 quân nhân), gần 20 người bị thương, tàu không bị thương; theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân; các thí nghiệm dừng lại, tàu theo hải trình về trạm thuộc căn cứ chiến đấu; bắt đầu khắc phục tai nạn; 9 tháng 11 năm 2008, tàu quay lại căn cứ thường trực ở vịnh Đá Lớn.

+ K-333, từ 7 tháng 2 năm 1995 là “Rưs” (số hiệu xưởng 837); khởi công 31 tháng 8 năm 1993 ở phân xưởng thuộc xí nghiệm lắp ráp xe máy tại Severodvinsk (số 402) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương, do không có tài chính, 6 tháng 10 năm 1997 bị loại khỏi danh sách tàu Hải quân và dừng đóng; 1 tháng 12 năm 1997 giải thể và bảo quản; sau đó các thiết kế đã được hoàn thiện của tàu chuyển sang đóng tiếp tàu đầu tiên trong tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh đầu tiên Đề án 955 (“Yuri Dolgoruki”).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Hai, 2012, 04:39:28 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #228 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 04:39:09 pm »


+ Thân tàu thứ 18; từ năm 1995 là “Irbis” (số hiệu xưởng 519); khởi công năm 1990 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; việc đóng tàu được tiến hành chậm chạp đến năm 2000; tháng 1 năm 2002 tình trạng chuẩn bị kỹ thuật của tàu là 42%; số phận sau này của tàu đang đặt dưới dấu hỏi.

+ Thân tàu số 19 (số hiệu xưởng 520); khởi công năm 1990 ở phân xưởng tại xưởng đóng tàu Amura tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 18 tháng 3 năm 1992 do thiếu tài chính, việc đóng tàu bị dừng lại và loại khỏi danh sách tàu Hải quân khi tình trạng kỹ thuật đã hoàn thành 25%.

+ Thân tàu số 20 (số hiệu xưởng 512); khởi công năm 1991 ở phân xưởng thuộc xưởng đóng tàu Amur tại Komsomol-na-Amur (số 199) như tàu ngầm nguyên tử tuần dương; 18 tháng 3 năm 1992 do thiếu tài chính đã dừng việc đóng và loại khỏi danh sách tàu Hải quân trong khi tình trạng kỹ thuật hoàn thành 12%.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #229 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 07:10:18 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lớp Akula

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 8140

+ ngầm: 12 770

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 110,3 (-)

+ chiều rộng nhất thân tàu: 13,6

+ chiều rộng theo bộ phận cân bằng ngang: 15,4

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 9,68

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước OK-650M.01 (tàu đầu tiên) hoặc OK-9VM (trên các tàu còn lại), công suất, mW: 190

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước kiểu OK-300 (1 lò phản ứng nước và 4 máy phát điện hơi nước); 1 tổ hợp tuabin răng cưa chính

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 50 000 (36 750)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện-diezel, công suất, kW: 2x750

+ 2 động cơ điện dự bị, công suất, sức ngựa, kW: 2x370

1 trục, 1 chân vịt 7 cánh; 2 thiết bị bánh lái cơ động

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 10

+ ngầm: 33

+ trên các động cơ dự bị: 5

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: 100 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 73 (33).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM