Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:23:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329605 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #370 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 03:08:05 pm »

+ “Novorossisk” (số hiệu xưởng 103); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 24 tháng 6 năm 1975; khởi công 30 tháng 9 năm 1975 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 theo Đề án 1143-M; 28 tháng 6 năm 1977 phân loại lại thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng; hạ thủy 26 tháng 12 năm 1978; đóng tiếp theo Đề án 11433; các thí nghiệm neo đậu từ 1 tháng 9 đến 27 tháng 12 năm 1981; 5 tháng 1 năm 1982 đến Sevastopol; từ 29 tháng 1 đến 12 tháng 4 năm 1982 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng, trên tàu, lúc đầu đã hỏng tổ hợp tuabin tăng áp TNA-3 của một trong số nồi hơi chính, bằng nỗ lực của nhân viên trong xưởng, tổ hợp tuabin tăng áp đã qua việc cắt tạm thời tới hang ga, còn từ đó – tới boong trên các thao tác hãn hữu đã hoàn thành, khi nằm trong giai đoạn đóng tiếp tàu tuần dương “Bacu” Đề án 11434, trong chiều ngược lại, đã lắp tổ hợp tubin tăng áp TNA-3 đồng dạng; từ 12 tháng 4 đến 28 tháng 5 đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước trên các bãi tập huấn luyện chiến đấu của Hạm đội Biển Đen với quãng nghỉ để tham gia duyệt binh Ngày Chiến Thắng; trong thời gian các thí nghiệm cấp Nhà nước, các máy bay cất – hạ cánh thẳng Yak-38 và Yak-38U đã thực hiện 112 chuyến bay, trực thăng Ka-27 – 108, Ka-25 – 51, Mi-6 – 10 và Mi-8 – 139 lần bay (trong tháng 4, trên boong đã rơi 1 Ka-27, 1 thủy thủ hy sinh); gia nhập biên chế 14 tháng 8 năm 1982; 15 tháng 8 năm 1982 kéo cờ Hải quân một cách trọng thể và di chuyển tới Sevastopol; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 24 tháng 11 năm 1982; từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1983 ở bãi tập Hải quân Feodoski, ở đó tiến hành các thí nghiệm hệ thống vũ khí khác nhau; 14 tháng 5 năm 1983 phối hợp vơi tàu khu trục “Nakhodchivưi” và tàu chống ngầm lớn “Sderzhannưi” đã tời Sevastopol và bắt đầu hành quân vòng quanh Châu Âu tới biển Bắc, thực hiện việc theo dõi các tàu Mỹ và NATO; 7 tháng 6 năm 1983 phối hợp với tàu chống ngầm lớn “Obraztsovưi” và tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” và tàu tiếp tế “Dnestr” đã tới bến đỗ tàu trên biển Bắc; tháng 8 năm 1983 đã tham gia cuộc tập trận “Magistral-83” và tháng 9 năm 1983 – “Okean-83” (trong cuộc tập trận sau, 26 tháng 9 năm 1983, cánh quạt một trực thăng Ka-27 đã vướng phải một trực thăng khác, mảnh vỡ của cánh quạt làm một người hy sinh); 17 tháng 10 năm 1983 đã bắt đầu hành quân từ biển Bắc quanh Châu Âu, Châu Phi và Châu Á tới căn cứ thường trực ở Hạm đội Thái Bình Dương trong sự phối hợp với tàu chống ngầm lớn “Nicolaev”, tàu tuần tiễu (hộ vệ) tên lửa “Porưvistưi”, tàu đổ bộ lớn “Alecsandr Nicolaev” Đề án 1174 và tàu tiếp tế, theo đường hành quân, đội tàu đã thực hiện việc ghé vào Luanda (Angola – 12 đến 20 tháng 11 năm 1983), Maputa (Mozambic, 1 đến 8 tháng 1 năm 1984) và Madras (Ấn Độ, 5-10 tháng 2 năm 1984), trong thời gian hành quân đã bơi qua 23 258 dặm, máy bay cất hạ cánh thẳng thực hiện 600 chuyến bay, một Yak-38 bị mất do kết quả tai nạn (9 tháng 11 năm 1983 gần bờ biển Angola), nhưng phi công được cứu thoát; 27 tháng 2 năm 1984 đã tới vịnh Abrec; tháng 8 năm 1984 đã tham gia cuộc tận trận của Hạm đội Thái Bình Dương “Golubaia Strela” (“Mũi tên xanh da trời”) và “Dlinaia Osen” (“Mùa thu dài”); thagns 3-4 năm 1985 trong biên chế các lực lượng hỗn hợp Hạm đội Thái Bình Dương đã tham gia cuộc diễn tập chiến dịch – chiến thuật của Hạm đội ở khu vực quần đảo Hawai; 9 tháng 5 đến 16 tháng 6 năm 1985 cùng với tàu hộ vệ tên lửa “Revnostnưi” và “Porưvistưi” đã tham gia chiến dịch tìm kiếm ở biển Nhật Bản; 2 tháng 12 năm 1985 theo quyết định của Hội đồng quân sự Hải quân trở thành tàu tiên phong của Hạm đội; năm 1987 đã tiến hành bắn chỉ định bằng tổ hợp tên lửa chính; 12-16 tháng 5 năm 1988, trong biên chế độ các tàu Hạm đội Thái Bình Dương – tàu chống ngầm lớn “Đô đốc Zakharov” và tàu khu trục “Boevoi” đã thăm cảng Bonsan (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên); năm 1992, Yak-38 bị rút khỏi trang bị và tàu tuần dương thực tế trở thành tàu chở trực thăng chống ngầm lớn; từ năm 1988 đến 1990 đã trải qua việc sửa chữa tăng cường hệ thống đạo hàng với việc đưa vào ụ ở “Dalzavod”; 28 tháng 1 năm 191 đã được đánh giá “tốt” khi thực hiện nhiệm vụ luân phiên K-1 và bắt đầu xử lý nhiệm vụ sau, nhưng không thực hiện đầy đủ hoàn toàn; lần ra khởi cuối cùng là tháng 5 năm 1991; trong toàn bộ thời kỳ phục vụ trong Hải quân Liên Xô, trên tàu đã thực hiện 1900 lần bay Uak-38 và 2300 – trực thăng; sau khi Liên Xô tan rã, tàu được đưa đi neo đậu; tháng 1 năm 1993, đám cháy đã làm hỏng một trong số các buồng máy, sau đó tàu nằm ở xưởng một tháng; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế 30 tháng 6 năm 1993; 19-23 tháng 10 năm 1993 phố hợp với xưởng nổi PM-59 tới Sovgavan (vịnh Postovaia); 31 tháng 8 năm 1994 giải tán; tháng 1 năm 1996 bán cho công ty Hàn Quốc đến tháo dỡ, được đưa tới cảng Pusan và sau đó xẻ kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #371 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 03:16:08 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Đề án 1143

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 30 530

+ hoàn toàn: 41 370

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 273,1 (235,9)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 49,2 (31)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 11,05 (8,95)

+ các kích thước hang ga dưới boong: 130x22,5x6,6

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVN 98/64 trong 4 buồng

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa TV-12-3; tổng công suất, sức ngựa (kW): 180 000 (132 300)

+ các máy phát điện tuabin, công suất, kW: 5x1500

+ các máy phát điện – diezel, công suất, kW: 4x1500

4 trục, 4 chân vịt bốn cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 30,7

+ tuần tra: 14,2/18,3

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 8000 (18); 4000 (29)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan)

+ thủy thủ đoàn thường trực: 1433

+ thủy thủ đoàn với bộ tham mưu: 1483

+ nhóm phi công: 430.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #372 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 03:27:20 pm »

Đề án 11433

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 31 900

+ hoàn toàn: 43 220

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 273,1 (235,9)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 49,2 (31)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 11,5 (9,3)

+ các kích thước hang ga dưới boong: 130x22,5x6,6

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVN 98/64 trong 4 buồng

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa TV-12-3; tổng công suất, sức ngựa (kW): 180 000 (132 300)

+ các máy phát điện tuabin, công suất, kW: 5x1500

+ các máy phát điện – diezel, công suất, kW: 4x1500

4 trục, 4 chân vịt bốn cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 30,7

+ tuần tra: 14,2/18,3

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 7160 (18)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan)

+ thủy thủ đoàn thường trực: 1607 (300)

+ thủy thủ đoàn với bộ tham mưu: 1659 (345)

+ nhóm phi công: 430.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #373 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 03:40:10 pm »

Vũ khí

Máy bay

+ máy bay cất hạ cánh thẳng đứng Yak-38/38-U/38-M (“Foger”), các trực thăng Ka-25RTs/25PL/25SP (“Normone”): 36

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng SM-241 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Uragan-1143”: 4x2

+ tên lửa chống tàu có cánh 4K80 (P-500) “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”): 16

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng SM-32 cho tên lửa chống ngầm “Vikhr” (SUW-N-1): 1x2

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 82-R (FRAS-1): 16

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-189 cho tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không 4K60 (B-611) (SA-N-3 “Goblet”): 96

+ thiết bị phóng ZiF-122 cho tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M” (trừ tàu thứ 3): 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33 (SA-N-4 “Gesko”): 40

Pháo

+ pháo 76,2mm AK-726: 2x2

+ tổ hợp pháo 30mm AK-630 (chỉ trên tàu đầu tiên)/630M: 8x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1143 (trừ tàu thứ 3): 2x5

+ các ngư lôi SET-533 hoặc SET-65: 10

Vũ khí chống ngầm

+ thiết bị phóng bom chìm RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RBG-60: 144.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #374 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 04:18:42 pm »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Alleia-2” hoặc “Alleia-2K” (trên tàu thứ 3)

Các đài ra đa định vị

+ 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail)

+ 1xMR-700 “Fregat-M” (Top Steer)

+ 2x”Topaz-IV” (Strut Pair) (chỉ trên tàu thứ 3)

+ 2xMR-360 “Podkat” (chỉ trên tàu thứ 3)

+ 2x”Volga” (Palm Frond) (3- trên tàu thứ 3)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Vaigach-1143” (Don Kay)

+ 1x(Shot Dome)

Đài thủy âm

+ “Orion” (Mouse Jaw và Bull Horn) trong bình hình cầu

+ MG-342 – phát hiện các tàu ngầm tốc độ cao

+ MGS-407K tiếp nhận thông tin từ phao tiêu thủy âm vô tuyến

+ “Platina” (Mage Tail) ăng ten lai và di động hoặc tổ hợp thủy âm “Pilinom” (Horse Jaw/Tail) (trên tàu thứ 3)

Đài phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước

+ MN-110K (theo sự thương phản nhiệt)

+ MN-110R (theo sự bất thường đồng dạng)

Khí tài (chống) tác chiến điện tử

+ “Koltsom” (4 Bell Nip) – rải nhiễu

+ “Gurzuf” (-1) (8 Side Globe) (trên tàu thứ 3)

+ “Ograda” (4 Rum Tub)

+ “Kantata” (2 Bell Bash) (chỉ trên tàu thứ 3)

+ R-678N, R-670M, R-721, SPS-2, R-710, R-714, R-740L – các đài thu trinh sát vô tuyến

+ khí tài bảo vệ thủy âm lai

Tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (ZiF-121)

Các khí tài quang điện

+ 4x- hoặc 5x- (trên tàu thứ 3)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Argon-1143” (Trap Door) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

+ 2x”Korvet” (Punch Bowl) chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh

+ 2x”Grom-M” (Head Lighr C) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm-M”

+ 2x4P33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa “Osa-M”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho pháo 76,2mm

+ 4xMR-123 “Vuwmpel” (Bass Tilt) cho pháo 30mm

Tổ hợp đạo hàng

+ “Salgir-1143” hoặc “Salgir-V” (trên tàu thứ 3)

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Privod-SV” (Top Knot) điều khiển máy bay

Các khí tài thông tin liên lạc

+ “Typhoon-1”

+ “Tsumani-BM” thông tin liên lạc vũ trụ

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Kremni-2M” (High Pole A/B; Salt Pot A/B; Square Head).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #375 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 04:20:41 pm »









Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #376 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 02:52:19 pm »

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Bacu” Đề án 11434 (Modified Kiev)


Tàu chở máy bay thứ 4 “Bacu” (Đề án 11434) hoặc đơn giản là “thứ 4”, trở thành “hậu duệ” cuối cùng của “Kiev”, nhưng có sự khác biệt rất lớn với nguyên mẫu. Sự xuất hiện của nó được giới thiệu là sự thỏa hiệp, bởi vì ý kiến thống nhất về các tàu sân bay ở lãnh đạo cấp cao Liên Xô khi đó không được hình thành. Toàn bộ cho các kế hoạch ban đầu được dự kiến đóng 2 tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 1143, sau đó sẽ chuyển sang chế tạo tàu sân bay với máy phóng và máy bay cất cánh ngang. Ý kiến này đã được cân nhắc một cách kỹ lưỡng bởi Tư lệnh Hải quân Liên Xô S.G.Gorshkov, có những người ủng hộ có uy tín – Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái A.A.Grechko và Bộ trưởng Công nghiệp đóng tàu B.E.Butom. Tuy nhiên, thư ký Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô về quốc phòng D.F.Ustinov, Tổng Tham mưu trưởng nguyên soái N.V.Ogarkov cùng phó Tham mưu trưởng về Hải quân – Đô đốc N.N.Amelko đã bảo lưu quan điểm khác. Họ cho rằng việc chế tạo các tàu sân bay đúng nghĩa là rất đắt đỏ, sẽ trở nên phức tạp bởi không có kinh nghiệm thiết kế (đóng) máy phóng hơi nước. Ngoài ra, các tàu sân bay, gần với các thông số của tàu sân bay Mỹ, rất không phù hợp với học thuyết Hải quân Liên Xô. Hải quân Liên Xô được định hướng một cách đặc biệt đối với chiến tranh hạt nhân toàn cầu, khác với Mỹ, không dự định tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang khu vực trên các lãnh thổ ngoài Liên Xô. Còn trong các điều kiện này, theo quan điểm của những người phản biện tàu sân bay cổ điển, nhiệm vụ chính của máy bay cất cánh trên boong – tiêu diệt các máy bay cảnh báo sớm và chống ngầm trong các khu vực triển khai tàu ngầm hạt nhân – có thể giải quyết bằng khả năng hiệu quả hơn. Ustinov đã khuyến nghị tập trung tiềm lực vào việc đóng tiếp tàu lớp “Kiev” với sự hiện đại hóa máy bay cất hạ cánh thẳng đứng, Đô đốc Amelko đã đễ xuất phương án rẻ hơn – đóng tàu chở máy bay đa năng, chế tạo trên cơ sở các tàu hàng (Đề án “Khalzan”). Kết quả là Đô đốc Gorshkov và những người ủng hộ đã đồng ý với việc đóng tàu thứ 3 (theo Đề án 1143-M, nhưng tàu thứ 4 phải trở thành tàu khác hoàn toàn theo nguyên tắc- tàu sân bay nguyên tử Đề án 1153.

Tuy nhiên, năm 1976, phía những người ủng hộ tàu sân bay thiết kế cổ điển – A.A.Grechko và B.E.Butoma đã từ trần. Vị trí Bộ trưởng Quốc phòng do D.F.Ustinov đảm nhận. Kết quả là các công việc về tàu sân bay Đề án 1153 bị dừng lại, còn tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã quyết định đóng lại – dưới các bãi đáp cho máy bay cất hạ cánh thẳng đứng. Sự thật là, các máy bay và vũ khí của tàu tuần dương (đặc biệt là vô tuyến điện tử) được tính toán hiện đại hơn, trở thành thế hệ mới. Kết quả nhận được là tàu gần như khác hoàn toàn, mặc dù các kích thước thân tàu tương đồng với các tàu trước.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #377 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 02:55:38 pm »

Bản vẽ thiết kế tàu chở máy bay "Bacu":




Bản vẽ thiết kế thượng tầng nhìn từ bên phải và trái:

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #378 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 03:02:56 pm »


Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov” (trước đó là “Bacu” Đề án 1143.4)

Lượng choán nước: 44 500 tấn

Tốc độ: 32 hải lý

Vũ khí:

+ 36 khí tài bay (Yak-38, Yak-41, Ka-25 và Ka-27)

+ 6x2 tên lửa chống tàu “Bazalt”

+ 4 tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 2x100 pháo AK-100

+ 8x pháo tự động 30mm AK-630

+ 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-1200 (10 ống phóng)

Công suất động cơ: 200 000 sức ngựa

Tầm bơi xa: 13 500 dặm

Chiều dài: 274 mét

Chiều rộng: 32,7 mét

Lượng mớn nước 10,2 mét.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #379 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 03:04:26 pm »

Hình vẽ tàu tuần dương "Bacu":




Hình dạng tổng quan tàu tuần dương "Bacu":

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM