Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:42:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329809 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #450 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2012, 12:57:29 pm »

Các biến thể


Bắt đầu từ tàu thứ ba (“Chervona Ukraina”), thay cho đài ra đa định vị “Fregat-M” đã lắp đài mới MR-750 “Fregat-MA” với lưới ăng ten mảng pha, đồng thời các khí tài đối kháng điện tử được nâng cấp. Sau khi nâng cấp vào cuối những năm 1990, toàn bộ ba tàu tuần dương đang hoạt động của đề án 1164 đã được trang bị lại bằng các tên lửa có cánh P-1000 “Vulcan” với tầm bắn 1000km, đồng thời hệ tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ được nâng cấp “Osa-M2”.

Tàu thứ tư (không được đóng xong “Đô đốc Hải quân Lobov”) khác biệt bên ngoài ở hình dáng ống khói, được làm thành một, không chia thành hai khối như các tàu khác. Cần cẩu nâng khi đó được chuyển tới thành bên phải.

Trên cơ sở đề án 11641, được đề xuất dự kiến bắt đầu từ tàu thứ 5, đã quyết định bỏ đường bao cách nhiệt phức tạp. Chiều dài tàu tuần dương tăng lên 6 mét (192 mét), lượng choán nước hoàn toàn tăng lên 11530 tấn (tiêu chuẩn 9500 tấn), nhưng sự thay đổi không lớn – trước hết là thay đổi các hệ thống vũ khí cũ bằng các loại vũ khí mới hoặc nâng cấp: tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazatlt” thay bằng P-1000 “Vulcan”, tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M” bằng “Osa-MA”, tổ hợp ra đa định vị “Flag” – bằng “Flag-M”, hệ thống “Korvet” bằng “Korall-BN-2”, đài ra đa định vị đạo hàng “Vaigach” thành “Vaigach-U”. Hệ thống đối kháng điện tử “Kantana” được lắp và các thiết bị phóng bổ xung PK-10 để bắn nhiễu, từ đài thủy âm đã lấy ra ăng ten lai không cần thiết cho lớp tàu này. Sự khác biệt chính trong thiết bị năng lượng là không có đường bao cách nhiệt (TUK) – làm cho phức tạp trong thiết kế và không thực tế trong khai thác sử dụng, còn công suất của tuabin lên 27 500 sức ngựa. Trên tàu tuần dương dự định đồng thời có chỗ đóng căn cứ cho trực thăng chỉ thị mục tiêu mới Ka-252RTs.

Kết quả là tàu tuần dương đề án 11641 (nhận tên gọi biểu tượng “Nước Nga”) phải được khởi công vào cuối những năm 1980. Đối với nó, thậm chí đã chế tạo các khối đầu tiên của thân tầu, nhưng tới thời điểm đó, toàn bộ đất nước đã bước vào “cải cách”, bắt đầu “chống lại các tàu tuần dương tên lửa”, và nhanh chóng, tàu bị ngừng đóng cùng với thân tàu cùng loại thứ 6.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #451 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2012, 01:16:40 pm »

Chương trình đóng tàu


Các tàu tuần dương đề án 1164 được đóng ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã Pari (số 445) ở thành phố Nicolaev từ năm 1976. Tàu đầu tiên, nhận tên gọi “Slava” được khởi công năm 1976, hạ thủy năm 1979 và gia nhập biên chế Hải quân năm 1982. Tàu thứ 2 và 3 gia nhập biên chế tương ứng với các năm 1986 và 1989. Tàu thứ 4 – “Đô đốc Hải quân Lobov” – sau khi Liên Xô tan rã đã thuộc quyền sở hữu của Ukraina và đang ở trong tình trạng 75% hoàn thành về kỹ thuật đã bị ngừng đóng. Nó được đổi tên thành “Galitchina”, sau đó là “Ukraina”. Theo kế hoạch đóng các tàu thứ 5 và 6 đã không thành hiện thực, mặc dù đã chế tạo các khối đầu tiên dành cho chúng.

Tình hình đến năm 2007

Sau khi gia nhập biên chế Hải quân, các tàu đề án 1164 được bố trí như sau: “Slava” (hiện nay là “Moskva”) – Hạm đội Biển Đen, “Chervona Ucraina” (sau đó là “Varyag”) – Hạm đội Thái Bình Dương và “Nguyên soái Ustinov” – Hạm đội Phương Bắc – tức là mỗi hạm đội có một tàu.

Trong thời gian Liên Xô tan rã, tàu tuần dương “Slava” vào năm 1991 đã được mang đi sửa ở Nicolaev, nhưng do không đủ tài chính, đồng thời do sự không xác định việc phân chia Hạm đội Biển Đen đã suýt bị loại khỏi biên chế. Tuy nhiên sau 7 năm dài, cuối cùng đã tìm được tài chính sửa chữa. Người đóng vai trò chính trong việc này là nguyên thị trưởng Moskva Lyzhkov, vì thế, tới thời điểm đó, tàu được đổi tên thành “Moskva” (tên của tàu tuần dương tên lửa được lấy từ tàu đề án 1123 bị loại khỏi biên chế năm 1996).

Tổng cộng, các tàu tuần dương đề án 1164 đều nằm trong biên chế Hải quân Nga dưới cờ Andrei, tham gia một cách tích cực trong các cuộc diễn tập, làm nhiệm vụ trực chiến và tham quan các cảng của nước ngoài, trong đó có Mỹ. Trong một số tài liệu, các tàu này được gọi là “kẻ hủy diệt tàu sân bay” do nhiệm vụ các thông số bên ngoài của chúng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #452 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2012, 01:31:36 pm »


Chú thích bản vẽ thiết kế tàu tuần dương tên lửa đề án 1164

1.Thiết bị pháo 130mm AK-130

2.Tổ hợp pháo phòng không nâng cấp 30mm AK-630M

3.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

4.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị MR-123

5.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực pháo MR-184

6.Trạm ăng ten của hệ thống “Argon-1164” (tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt”)

7.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị “Fregat-MA” của tổ hợp ra đa định vị “Flag”

8.Ăng ten thông tin liên lạc vũ trụ

9.Trạm ăng ten của đài ra đa định vị “Voskhod” thuộc tổ hợp ra đa định vị “Flag”

10.Cần cẩu đa năng tải tên lửa phòng không và khí tài nổi nâng – hạ

11.Trạm ăng ten hệ thống điều khiển “Fort” của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F

12.Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-MA”

13.Các trạm ăng ten của hệ thống điều khiển 4K33A “Osa-M”

14.Các trạm ăng ten của đài đối kháng điện tử “Gurzuf”

15.Các trạm ăng ten của đài đối kháng điện tử “Ograda”

16.Trạm ăng ten của đài trinh sát vô tuyến

17.Chỗ bốc dỡ thiết bị ngư lôi

18.Thiết bị phóng B-204 của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F

19.Các thiết bị phóng bắn nhiễu ZIF-121

20.Đường ray để vận chuyển hàng hóa

21.Trạm ăng ten của hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu vũ trụ cho Hải quân “Korvet-5”

22.Các thiết bị phóng CM-248 của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt”

23.Khu vực bốc dỡ ăng ten lai của tổ hợp thủy âm “Platina”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #453 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2012, 02:03:05 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ (* - các tàu còn đang phục vụ trong biên chế)

+* “Slava” (số hiệu xưởng 2008); từ 16 tháng 5 năm 1995 là “Moskva”; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 20 tháng 5 năm 1974; khởi công 5 tháng 11 năm 1979 ở xưởng số 200; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1979; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1982; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 7 tháng 2 năm 1983; năm 1983 đã hoàn thành cuộc hành quân qua Địa Trung Hải quanh Châu Âu tới Hạm đội Phương Bắc, sau đó quay ngược trở lại; năm 1986 đã làm nhiệm vụ trực chiến trên Địa Trung Hải liên quan đến tình hình phức tạp quanh Libia, trong đó 18-22 tháng 11 năm 1986 đã thăm Pirei (Hy Lạp); tháng 8 năm 1990 tham gia cuộc họp quốc tế ở Yanta theo sự kiểm soát vũ khí hạt nhân trên boong tàu; 21 tháng 3 năm 1991 được đưa vào đại tu ở Nicolaev, quá trình sửa chữa kéo dài do không đủ tài chính đến năm 1998.

+* “Đô đốc Hải quân Lobov” (số hiệu xưởng 2009); từ 5 tháng 11 năm 1986 là “Nguyên soái Ustinov”; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 17 tháng 9 năm 1997; khởi công 5 tháng 10 năm 1978 ở xưởng số 200; hạ thủy 25 tháng 2 năm 1982; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1986; từ 27 tháng 2 đến 17 tháng 3 năm 1986 đã hoàn thành cuộc hành quân tới Severodvinsk và 5 tháng 11 năm 1986 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; từ 7 tháng 12 năm 1987 đến 23 tháng 6 năm 1988 đã thực hiện lần trực chiến đầu tiên ở Địa Trung Hải trong biên chế đội tàu chiến, bơi quan 17 000 dặm; từ 30 tháng 6 đến 14 tháng 12 năm 1989 tiếp tục hành quân; 21-27 tháng 7 năm 1989 thăm Norfolk (Mỹ), sau đó thực hiện nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải với việc ghé vào Tartus (Siry) và Algieri; 16-20 tháng 7 năm 1991 đã thăm Meiport (Mỹ); 30 tháng 6 đến 5 tháng 7 năm 1993 – Halifacs (Canada) và 7 đến 11 tháng 7 năm 1993 – Boston (Mỹ); từ 1 tháng 9 năm 1994 đến 14 tháng 12 năm 1997 đã trải qua sửa chữa ở “xưởng phía Bắc” tại Saint Peterburg, sau đó 21 tháng 1 năm 1998 một lần nữa tới Severodvinsk.

+* “Chervona Ucraina” (số hiệu xưởng 2010); từ 9 tháng 2 năm 1996 là “Varyag”; khởi công 31 tháng 7 năm 1979 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 11 năm 1992; hạ thủy 28 tháng 8 năm 1983; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1989; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 28 tháng 2 năm 1990 và hoàn thành cuộc hành quân xuyên đại dương tới Viễn Đông, kết thúc 5 tháng 11 năm 1990; trong đó tàu đã ghé vào Cam Ranh (Việt Nam); 25 tháng 9 năm 1991 đã thực hiện bắn tổ hợp tiên công với đánh giá “xuất sắc”; 30 tháng 8 năm 1995 đã tới Vladivostoc để tham gia cuộc duyệt binh quốc tế kỷ niệm 60 năm Hạm đội Thái Bình Dương; từ 3 đến 9 tháng 2 năm 1996 thăm Hàn Quốc và qua khu vực vinh quan ở vịnh Đối Mã và Chempulo (?); tháng 8 năm 1997 tham gia các cuộc diễn tập, bắn cháy mục tiêu huấn luyện trực tiếp bằng tên lửa chống tàu có cánh với tầm xa giới hạn, theo kết quả của các cuộc diễn tập, nhận giải thưởng từ Tư lệnh Hải quân; sau năm 2000, được đưa vào sửa chữa.

+ “Komsomolets” (số hiệu xưởng 2011); từ 23 tháng 3 năm 1985 là “Đô đốc Hải quân Lobov”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 6 năm 1980; khởi công 29 tháng 8 năm 1984 ở xưởng số 200; hạ thủy 11 tháng 8 năm 1990; đừng đóng 18 tháng 3 năm 1993; giải tán 1 tháng 10 năm 1993.

+ “Rossia” (số hiệu xưởng 2012); từ 30 tháng 12 năm 1987 là “Cách mạng tháng Mười”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 11 tháng 8 năm 1987; dừng đóng 4 tháng 10 năm 1990.

+ “Đô đốc Hải quân Liên Xô “Gorshkov” (số hiệu xưởng 2013); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 11 năm 1988; dừng đóng 4 tháng 10 năm 1990.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #454 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2012, 04:37:14 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 9300

+ hoàn toàn: 11 280

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 186 (170)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 20,8 (19,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 8,4 (7,9)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin hơi nước M-21

+ 2 tuabin khí M-70, tổng công suất, sức ngựa (kW): 20 000 (14 700)

+ 4 tuabin khí M-8KF, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

+ 2 động cơ tuabin khí hỗ trợ (TUK), tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8 820)

+ các máy phát điện tuabin TD-1500, công suất, sức ngựa, kW: 3x1500

+ các máy phát điện tuabin TD-1250, công suất, sức ngựa, kW: 3x1250

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 32,5

+ tuần tra: 18

Tầm bơi xa, dặm (với tốc độ, hải lý)

+ 7 500 (18)

+ 2 500 (32)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 485 (66).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #455 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2012, 04:44:51 pm »

Vũ khí

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng SM-248 cho tổ hợp tên lửa chống tàu P-500 “Bazalt”: 8x12

+ tên lửa chống tàu có cánh 4K80 “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”): 16

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng thẳng đứng B-204 của tổ hợp tên lửa phòng không S-300F “Fort”: 8x8

+ tên lửa phòng không 5V55RM (SA-N-6 “Grumble”): 64

+ thiết bị phóng Zif-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M/MA2”: 2x2

+ tên lửa phòng không 9M33M/MA2 (SA-N-4 “Gecko”): 40

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm AK-130: 1x2

+ tổ hợp pháo 30mm AK-630: 6x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi PTA-53-1134: 2x5

Chống ngầm

+ thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ bom chìm phản lực: 144

Không quân

+ trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”) hoặc Ka-27 (“Helix B”): 1.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #456 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2012, 05:17:04 pm »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorub-1164”

Đài ra đa định phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1xMR-600 “Voskhod” + MR-500 “Kliver” (Top Pair: Top Sail + Big Net)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-700 “Fregat-M” (Top Steer) hoặc

+ 1xMR-750 “Fregat-MA” (Top Plate) trên “Varyag”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 3x”Vaigach” (Don Kay) hoặc “Volga” (Palm Frond)

Đài thủy âm

+ “Platina” với ăng ten hình cầu (Bull Horn) và ăng ten lai (Mare Tail)

Các khí tài đối kháng điện tử

+ MRP-3 “Koltso” (2 Bell Slam) máy rải nhiễu

+ “Gurzuf-A/B” (8 Side Globe) trinh sát vô tuyến

+ MP-150 “Start” (4 Rum Tub)

+ MP-152 “Ograda” (2 Bell Tap)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

Các khí tài quang – điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

+3x(Tilt Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Argon-1164” (Front Door)

+ 2x”Korvet-5” (Punch Bowl) thu sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

+ 2x”Volna” (Top Dome) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Fort”

+ 2x4P33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+1xMR-184 “Lev-218M” (Kite Screech) cho thiết bị pháo 130mm

+3xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

Khí tài thông tin liên lạc

+ “Typhoon-2”

+ “Tsunami-BM” thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ (Salt Pot A và B; Long Head).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #457 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2012, 12:27:40 pm »

Các tàu tuần dương tên lửa lớp “Kirov” – Đề án 11442 “Orlan”


Tổng số tàu đã đóng: 3+1.

Tàu thứ hai trong lớp “Kirov” ban đầu dự định như “sự tăng cường mạnh mẽ” trong trong thời gian đóng tàu đầu tiên. Theo đề án đã sở hữu số hiệu 11442 và dự định rằng theo nó sẽ đóng toàn bộ các tàu tuần dương sau này. Việc Tổng công trình sư của đề án 1144 B.I.Kupensky qua đã chuyển chức vụ này cho V.A.Perevalov thay thế. Giám sát viên chính từ phía Hải quân là A.A.Savin, nhưng, bởi vì ông khi đó đang bận chức phụ phó chủ nhiệm (sau đó là, từ năm 1985 là chủ nhiệm) của Cục tàu nổi thuộc Viện nghiên cứu khoa học trung ương đóng tàu chiến (TsNIIVK). Trong một số trường hợp, nhiệm vụ của ông trùng lặp với A.N.Blinov (giám sát viên chính theo tàu tuần dương tên lửa đề án 1164). Những sự thay đổi trong biên chế vũ khí của các tàu thứ 2, 3, 4 trong lớp “Kirov” được xác định rằng, số lượng lớn các tổ hợp và hệ thống vuxkhis không được chuẩn bị sẵn sàng ở thời điểm đóng tàu đầu tiên. Nhưng do thời gian tiếp nhận chúng vào biên chế bị kéo dài hàng năm, toàn bộ ba tàu đề án 11442 đã nhận được vũ khí trang bị khác nhau.

Bắt đầu từ thân tàu thứ hai (tàu tuần dương tên lửa hạt nhân “Frunze”), và trên toàn bộ các tàu sau, thay cho 2 thiết bị pháo AK-100 trên mạn tàu đã lắp một thiết bị pháo 2 nòng 130mm AK-130 (như theo đề án ban đầu) với hệ thống điều khiển “Lev-218M”. Đồng thời, trên các tàu tuần dương này thay cho tổ hợp chống ngầm “Metel” và các thiết bị ngư lôi – trên vị trí của chúng lắp tổ hợp ngư lôi – tên lửa đa chức năng “Vodopad-NK” (theo 5 thiết bị phóng cố định 1 ống trên tàu). Các thiết bị phóng của tổ hợp được sử dụng, như để bắn các ngư lôi – tên lửa (PLUR), cũng như các ngư lôi 533mm thường (tổng cơ số đạn – 10 ngư lôi). Để tăng cường khả năng phòng thủ chống ngư lôi, bắt đầu từ tàu thứ 3 (tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng “Kalinin”), thay cho hệ thống phóng bom phản lực RBU-6000, trên các tàu tuần dương đã lắp tổ hợp mới được thiết kế đặc biệt “Udav-1” (RBU-12000, ban đầu theo kế hoạch sẽ lắp từ tàu đầu tiên). Trên các tàu thứ 3 và 4, thay cho các cụm pháo tự động 30mm AK-630M đã lắp 2 tổ hợp pháo – tên lửa phòng không tự vệ “Kortik”. Trong mỗi tổ hợp gồm có 3 modul chiến đấu (mỗi modul có 2 khối pháo 30mm sáu nòng, 2 thiết bị 4 thùng phóng của các tên lửa phòng không và hệ thống điều khiển hỏa lực) và 1 modul điều khiển với đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu “Pozitiv”. Các modul chiến đấu được bố trí ở vị trí của các cụm pháo tự động 30mm AK-630M, còn đài ra đa định vị - trên thượng tầng mũi.

Trên tàu thứ 4 đề án 11442 – “Pie Đại Đế” (khi đó là “Yuri Andropov” – thay cho các tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” và “Osa-MA” trong hệ thống phòng không gồm có các tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh hiện đại hơn “Kinzhal” với các thiết bị phóng đứng dạng rulo (ổ quay) dưới boong với tổng cơ số đạn 64 tên lửa (trên cơ sở tổ hợp tên lửa phòng không “Tor-M1” thuộc quân đội). Trạm ăng ten của đài dẫn bắn tên lửa với ăng ten mảng pha được lắp trên thượng tầng mạn tàu. Tổ hợp tên lửa phòng không này theo kế hoạch được lắp bắt đầu từ thân tàu thứ 2, nhưng do sự đổ vỡ (không đúng kế hoạch) các thời hạn cung cấp, tổ hợp này không được lắp (trùng thời gian bàn giao) trên các tàu tuần dương hạt nhân hạng nặng cũng như trên nhiều tàu nổi khác trong Hải quân Nga. Vì thế, các tàu thứ 2 và 3 của đề án 11442 chỉ có các vị trí dự bị dưới các thiết bị phóng trên boong lái trên, từ đó – các pháo tự động AK-630M được chuyển tới thượng tầng mạn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #458 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2012, 12:29:26 pm »

Các bản vẽ và hình vẽ tàu tuần dương tên lửa hạng nặng đề án 11442







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #459 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2012, 12:35:03 pm »



Hình dáng thượng tầng tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Frunze" đề án 11442




Hình dáng phần mạn tàu tuần dương hạt nhân hạng nặng "Frunze" đề án 11442. Các cánh cửa của thang nâng được nâng lên, giữa chúng là trực thăng




Trực thăng Ka-25RTs trên bãi đáp cất - hạ cánh của tàu tuần dương tên lửa hạt nhân hạng nặng "Frunze"
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM