Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:05:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330373 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #90 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2012, 05:26:56 pm »

Đề án 661 “Anchar” (lớp Papa - Papa class)


Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: -

Ngày 28 tháng 8 năm 1958, đã tiếp nhận quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô mệnh lệnh “Về việc chế tạo tàu ngầm tốc độ mới với kiểu thiết bị năng lượng mới và phát triển các công việc thiết kế, thiết kế - thí nghiệm và nghiên cứu – khoa học cho các tàu ngầm”. Trong đó, nhiệm vụ đầu tiên là nhiệm vụ tăng cường tốc độ của tần ngầm và độ lặn sâu so sánh với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ nhất tăng gấp rưỡi (1,5) đến 2 lần. Việc chế tạo dự kiến là thiết bị năng lượng có kích thước giảm với sự giảm khối lượng riêng của các lò phản ứng và tuabin từ 1,5-2 lần, tổ hợp tên lửa chống tàu kích thước nhỏ mới với sự khởi động ngầm, các ngư lôi hai mặt phẳng (tầm – hướng) tốc độ cao và tầm bắn xa có khả năng sử dụng được ở độ lặn sâu lớn (của tàu), lớn gấp đôi, hơn là trên các tàu ngầm thuộc các Đề án đã có. Dự định áp dụng các vật liệu thiết kế mới, cho phép, trong tổ hợp với sự tiếp nhận các phương pháp khác để làm giảm lượng choán nước và kích thước tàu ngầm nguyên tử. Tất cả phải đảm bảo sự vượt trội thực tế của các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đối với các tàu ngầm nguyên tử triển vọng trong tương lai của Mỹ.

Trong các khuôn khổ của mệnh lệnh này, ở Phòng Thiết kế Trung ương số 16 thuộc Ủy ban Nhà nước về đóng tàu (nay là Phòng lắp ráp xe máy Hải quân Saint Peterburg “Malakhit”) đã bắt đầu thiết kế tàu ngầm nguyên tử cao tốc thí nghiệm Đề án 661 (mã số “Anchar”). Các công việc về chương trình này được nghiên cứu bởi lãnh đạo công nghiệp đóng tàu và xem như là sự ưu tiên hàng đầu. Nhiệm vụ tác chiến của tàu ngầm là chống lại các tàu sân bay và các tàu hộ vệ cao tốc của địch.

Trong các công việc trên Đề án 661 đã tiếp nhận sự tham gia tích cực của Viện nghiên cứu khoa học Trung ương số 45 (nay là Viện nghiên cứu khoa học mang tên Viện sĩ A.N.Krưlov). Viện đã nghiên cứu những câu hỏi “thuộc về tàu” một cách đúng nghĩa liên quan với sự chê tạo tàu ngầm nguyên tử mới, cũng như là những câu hỏi về hiệu quả chiến đấu của tàu ngầm cao tốc.

Ba giải pháp về vật liệu thiết kế cơ bản đã được nghiên cứu để chế tạo thân trong của tàu – thép, nhôm và titan. Kết quả là titan đã được lựa chọn. Điều này cho phép giảm khối lượng thân tàu rất nhiều (đồng nghĩa với lượng choán nước của tàu). Bằng cách này, một trong số những dấu hiệu ngụy trang quan trọng nhất của tàu ngầm đã bị giảm đi đáng kể - trường từ tính của tàu.

Sau khi xem xét hai kiểu lò phản ứng – đơn giản hơn nước – nước và kim loại lỏng trong tương lai (triển vọng) (chất tải nhiệt của đường bao thứ nhất – hợp kim chì và bitmut) – kiểu đầu tiên được lựa chọn như là thực hế hơn theo thời gian chế tạo, mặc dù các tham số riêng thấp hơn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #91 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2012, 06:03:16 pm »


Đã có 14 phiên bản chính và 6 phiên bản bổ sung thuộc các đề án phác thảo được nghiên cứu. Các phiên bản trang bị vũ khí của tàu cũng được nghiên cứu: các tên lửa có cánh với sự phóng ngầm “Ametist” được chế tạo dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.N.Chelomen, các tên lửa có cánh với sự phóng nổi (Tổng công trình sư G.M.Beriev) hoặc các ngư lôi mới uy lực mạnh mà ở thời điểm đó đang ở trong giai đoạn phát triển (thiết kế).

Việc lựa chọn vũ khí chính yêu cầu so sánh hiệu quả các phiên bản tàu ngầm nguyên tử. Kết quả các nghiên cứu được thực hiện ở Viện nghiên cứu khoa học số 45, sự ưu tiên dành cho phiên bản với các tên lửa “Ametist”. Mệnh lệnh của Nhà nước về sự thiết kế lần đầu tiên trên thế giới tện lửa có cánh với sự khởi động ngầm được đưa ra ngày 1 tháng 4 năm 1959, còn ngày 9 tháng 4 cùng năm đã thông qua đề án phác thảo của tàu ngầm.

Việc thiết kế đề án kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 661 đã hoàn thành trong tháng 12 năm 1960. Hệ thống năng lượng nguyên tử mạnh kết hợp với hình dạng mới của thân tàu đảm bảo cho tàu ngầm các thông số tốc độ độc đáo. Trong sự tương ứng với Đề án, tàu phải đạt tốc độ dưới nước không thấp hơn 37-38 hải lý, vượt trội tốc độ của bất cừ tàu chiến nào của Hải quân Mỹ.

Việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.N.Isanin (sau đó, thay thế ông là N.F.Shulzhenko). Giám sát viên chính từ phía Hải quân là Yu.G.Ilinsky, sau đó – V.N.Markov. Trong các công việc theo chương trình đã kéo theo sự tham gia của hơn 400 tổ chức và xí nghiệp.

Trong quá trình thiết kế và đóng tàu đã xử lý công nghệ hàn thiết kế thân tàu từ hợp kim titan độ bền cao, được chế tạo từ sự đúc, rèn chúng, dụng cụ và các linh kiện khác. Để làm việc với titan, ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Severodvinsk đã được yêu cầu thành lập các phân xưởng đặc biệt và các phòng khác. Để tiến hành các thí nghiệm động lực và tĩnh lực đã chế tạo các buồng nửa ngoài trời SMT60-1 và DMT-60-2 (buồng đầu tiên được thí nghiệm trên ụ, còn thứ hai – trên trường bắn Hải quân).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #92 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2012, 06:43:06 pm »

Các khoang 1 (trên) và 2 (dưới), có hình dáng mặt cắt của số 8, tạo thành 2 vòng tròn giao nhau đường kính 5,9 mét (trong đó bố trí các thiết bị ngư lôi với cơ số đạn dự trữ cùng các khí tài nạp đạn nhanh);

3 – khoang cho người ở, buồng sỹ quan, pin ắc quy

4 – trạm chỉ huy, trạm điều khiển thiết bị năng lượng, khối cho người sinh hoạt

5 – lò phản ứng

6 – tuabin

7 – máy phát điện tuabin

8 – khoang các máy móc hỗ trợ (máy làm lạnh, máy nén khí, thiết bị lọc nước biển (nước mặn))

9 – thiết bị dẫn động bánh lái (chân vịt) và khoang chứa.

Phần cuối mạn tàu được chế tạo trong dạng tách đôi của 2 của mũ chụp đối xứng dạng hình nón  các trục với khoảng cách giữa chúng là 5 mét. Sự tối ưu hóa thủy động lực hình dáng phần cuối mạn tàu đạt được do kết quả kéo dài nó với các góc nhỏ xuống dốc của rãnh mớn nước trong mặt phẳng đường kính và sự tiếp nhận trục chân vịt kéo dài với các mũ chụp, cho phép lắp trục chân vịt có đường kính tối ưu với tần sô quay cho phép.

Trong vách ngăn của các thiết bị di động của tàu ngầm đã lắp các thùng nổi, dự kiến dung cho việc cứu nạn toàn bộ thủy thủ đoàn bằng phương pháp “khô”.

Thiết bị năng lượng tổng công suất trên các trục 80 000 sức ngựa gồm có 2 nhóm tự động (các thành bên phải và trái). Mỗi nhóm liên koees với thiết bị sản xuất hơi nước tự động V-5R, thiết bị tuabin răng cưa GZTA-618 và thiết bị phát điện tuabin tự động xoay chiều 3 pha OK-3, công suất 3000kW. Công suất nóng tiêu chuẩn của hai lò phản ứng nguyên tử dạng nước – nước là 117,4mW, còn thiết bị sản xuất hơi nước PPU trong công suất tiêu chuẩn của lò phản ứng là 2x250 tấn hơi nước/giờ.

Các lò phản ứng được thiết kế cho tàu ngầm Đề án 661 có hàng loạt các điểm đặc biệt khác thường. Chi tiết, sự lặc của thiết bị tải nhiệt thuộc đường bao thứ nhất được thiết kế theo sơ đồ “ống trong ống”, đảm bảo sự hợp lý của thiết bị năng lượng nguyên tử khi cường độ cao. Khi đó, các lò phản ứng làm việc không chỉ trên nơ trôn nhiệt năng và với sự tham gia phản ứng tách “nhiên liệu” hạt nhân của các nơ trôn nhanh (?).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #93 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2012, 07:24:02 pm »

Để cung cấp năng lượng tiêu thụ chính là năng lượng điện được lấy từ dòng điện xoay chiều ba pha hiệu điện thế 380V và tần số 50Hz. Sự áp dụng mới cơ bản đã bỏ được việc sử dụng các máy phát điện – diesel: trong vai trò nguồn điện khẩn cấp, sử dụng các pin ắc quy. Tổ hợp điều khiển thiết bị điện “Kaktus-61” được thiết kế tại Phòng Thiết kế Trung ương số 61 ở Rostov sau này được các thủy thủ đánh giá cao nhất.

Trên thành tàu có tổ hợp đạo hàng mọi vi độ “Sigma-661”, đảm bảo sự bơi dưới nước và dưới băng. Sự điều khiển tự động tàu ngầm được thực hiện bằng hệ thống điều khiển theo hướng và độ sâu “Shpat”, hệ thống ngăn ngừa các lỗi khẩn cấp và sụt “Turmalin”, đồng thời hệ thống điều khiển các hệ thống tàu tổng hợp, các khí tài và các lỗ ngoài mạn tàu “Signal-661”.

Tổ hợp thủy âm MGK-300 “Rubin đảm bảo sự phát hiện các mục tiêu có tiếng ồn khi có sự phối hợp tự động đồng thời 2 trong số chúng với sự phân phối các thông tin tới các hệ thống điều khiển vũ khí tên lửa và ngư lôi. Đảm bảo sự phát hiện vòng các tín hiệu của đài thủy âm trên tàu địch, làm việc trong chế độ tự động, đồng thời nhận dạng chúng với sự xác định góc phương vị và cự ly. Để phát hiện các loại mìn neo có đài thủy âm “Radian-1”.

Để quan sát tính trạng không khí và trên mặt nước của tàu ngầm, có trang bị kính tiềm vọng truyền sáng phòng không PZNS-9 với máy tính toán quang học các tọa độ. Khí tài nâng cho phép nâng kính tiềm vọng từ độ sâu 30 mét khi tốc độ tàu 10 hải lý và sóng cấp 5. Có đài ra đa định vị RLK-101 và MTP-10, đồng thời hệ thống phân biệt bạn – thù “Nikhrom”.

Đối với sự thông tin liên lạc vô tuyến hai chiều bảo mật tốc độ siêu nhanh với các trạm chỉ huy trên bờ, với các tàu khác và phối hợp với tàu ngầm bằng các máy bay có các tổ hợp khí tài thông tin liên lạc vô tuyến hiện đại (theo tiêu chuẩn của những năm 1960). Tàu được trang bị hệ thống trinh sát vô tuyến, đảm bảo sục sạo, phát hiện và định vị các đài vô tuyến của địch đang hoạt động.

Vũ khí cơ bản của tàu ngầm là tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 “Ametist” với 10 tên lửa có cánh, được bố trí trong các thùng nghiêng bố trí theo thành ngoài thân trong ở bộ phận mũi tàu. Ở thân ngoài đối với mỗi thùng phóng có cửa ra vào cá nhân, nắp mở ở dưới.

Tầm bắn tối đa của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 là 70km. Sự khởi động tên lửa thực hiện dưới nước từ độ sâu 30 mét từ thùng phóng ngoài thành bị làm ngập nước sơ bộ. Ngay sau khi rời khỏi thùng phóng, động cơ tên lửa khởi động và mở cánh, còn ở ví trí nổi trên mặt nước là động cơ chính nhiên liệu rắn.

Trong thành phần tổ hợp tên lửa có đồng thời các khí tài kiểm tra trước phóng, các khí tàu của hệ thống điều khiển bắn tên lửa mang theo, cùng với tổ hợp thủy âm, tổ hợp điều khiển bắn ngư lôi, tổ hợp đạo hàng, đồng thời thiết bị cân bằng điều khiển hướng và độ sâu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #94 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 03:36:33 pm »

Thiết bị phóng đảm bảo sự bảo quản, vận chuyển, chuẩn bị khởi động từ xa và khởi động các tên lửa có cánh mà không cần tiếp cận gần thùng phóng. Các tên lửa được tiếp nhận tới thành tàu trong trạng thái đã sẵn sàng để chuẩn bị khởi động. Sự bảo quản đáng tin cậy đảm bảo sự phóng của chúng trong thời gian 3 tháng trên biển.Toàn bộ tổ hợp đạn tên lửa có thể phóng trong hai loạt, khoảng cách khởi động giữa các loạt là 3 phút. Theo ý kiến của các chuyên gia, đây là điểm yếu chiến thuật chính của đề án, rất khó đạt hiệu quả cho tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh vào các mục tiêu chính – các tàu sân bay. Ngoài ra, tên lửa P-70 có nhược điểm này, đó là luồng khói mạnh (đặc) từ động cơ, làm mất sự ngụy trang của tàu trong thời gian bắn.

Trong bộ phận cuối mũi của tàu ngầm bố trí 4 thiết bị ngư lôi 533mm (cơ số ngư lôi – 8 đạn), đảm bảo sự bắn từ độ sâu 200 mét. Sự điều khiển bắn ngư lôi được thực hiện bằng hệ thống tự động “Ladoga-P-661”.

Trong quá trình thí nghiệm tàu ngầm nguyên tử Đề án 661, nhận số hiệu K-162, khi 92% công xuất của thiết bị động lực đạt được một cách tương đối ở bãi tập vùng nước nông (độ sâu khu mặt nước – 200 mét, độ sâu hành quân – 100 mét) đã nhận được tốc độ tối đa dưới mặt nước, bằng 42 hải lý, tăng đáng kể so với các tham số được tính toán (38 hải lý). Theo đó, đã lập kỷ lục thế giới về tốc độ của tàu ngầm, trước đó được thiết lập bởi các tàu Đề án 671 (33,5 hải lý). Tốc độ lớn nhất của tàu ngầm nguyên tử Mỹ chỉ là 30 hải lý. Sau đó, khi thiết bị năng lượng chính đạt công suất tối đa và độ nước sâu trên bãi tập, đã nhận được kết quả cao hơn – 44,7 hải lý (khi tăng cường thiết bị năng lượng đã đạt tốc độ 45 hải lý trong thời gian ngắn). Con số này và đến thời điểm này là kỷ lục tuyệt đối về tốc độ của các tàu ngầm. Tuy nhiên, khi đó cũng đã xuất hiện những vấn đề không mong đợi đối với các công trình sư: ở tốc độ cao, lực ma sát với nước vào thân tàu ngầm sẽ tạo ra tiếng ồn lớn, và tàu ngầm thực tế bị “điếc” do những sự nhiễu tiếng ồn mạnh.

Trong các thí nghiệm của K-162 đã thể hiện tính cơ động cao như trong các mặt phẳng tầm – hướng. Có các thông só tốc độ và cơ động riêng, kết hợp với tổ hợp thủy âm mạnh với tầm phát hiện mục tiêu xa, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 661 có thể thực hiện việc triển khai nhanh ở khu vực hoạt động chiến đấu, đồng thời lựa chọn trận địa thuận lợi để sử dụng vũ khí và thực hiện cuộc tấn công lần nữa, mở rộng một cách đáng kể khả năng chiến đấu của tàu theo so sánh với các tàu ngầm thuộc Đề án khác.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Giêng, 2012, 03:47:52 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #95 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 03:48:28 pm »

Biến thể


Năm 1970, khi tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 661 đã trải qua thêm các thí nghiệm, phục vụ câu hỏi về việc khởi công đóng loạt tàu ngầm nguyên tử theo Đề án nâng cấp – 661-M. Đã có 3 phiên bản, khác nhau ở lượng choán nước (từ 5179 đến 6208 tấn), tốc độ ngầm (39-42 hải lý), thiết bị năng lượng chính (43 000–55 000 sức ngựa) và các tham số khác. Tuy nhiên, tới thời điểm này, đã triển khai đóng loạt có các thông số về tốc độ không bằng, nhưng có giá thành rẻ và tiếng ồn thấp hơn đáng kể là Đề án 670, có sức tấn công tương đương. Ngoài ra, yêu cầu áp dụng những sự thay đổi thực tế trong hệ thống điều khiển bắn tên lửa của Đề án 661, một lần nữa cần thời gian và tài chính đáng kể.

Tiếng ồn lớn ở dưới nước của tàu không làm cho Hải quân hài lòng. Cấp độ cao của những sự nhiễu thủy âm riêng gây khó khăn co hoạt động của tổ hợp thủy âm. Trong các điều kiện này việc triển khai đóng hàng loạt các tàu ngầm nguyên tử Đề án 661 không được chấp nhận. Sự phát triển và dự định nâng cấp K-162 không được tiếp nhận, bao gồm cả việc lắp tổ hợp tên lửa P-120 với sự thay thế sau đó bằng tổ hợp “Granit”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #96 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 04:02:37 pm »

Chương trình đóng tàu


Năm 1962, ở xí nghiệp lắp xe máy phương Bắc (số 402) đã bắt đầu chế tạo các khung thân trong đầu tiên của tàu ngầm Đề án 661. Tuy nhiên, các thí nghiệm đầu tiên của các phần từ thiết kế thân tàu từ hợp kim titan đã kết thúc không thành công, yêu cầu tiến hành các công việc bổ sung. Kết quả là việc khởi công chính thức tàu ngầm Đề án 661 chỉ được thực hiện ở Severodvinsk vào 28 tháng 12 năm 1963.

Cấp độ cao của tàu ngầm mới và sự phực tạp của đề án đã kéo dài quá trình thực hiện đóng tàu. Các công việc về chế tạo tàu được tiếp tục, và trong sự phức tạp như vậy, kéo dài hơn 11 năm. Sự cản trở lớn trong quá trình đóng tàu là tốc độ thấm của việc thiếu titan trong thời gian đó – cũng cần thiết để đóng máy bay và tên lửa. Kết quả là tàu ngầm, nhận số hiệu chiến thuật K-162, chỉ được hạ thủy vào 21 tháng 12 năm 1968. Ngày 13 tháng 12 năm 1969, tàu được đưa vào các thí nghiệm vận động cấp xưởng.

Ban đầu, dự định, rằng sau khi đóng tàu đầu tiên (thí nghiệm) thuộc Đề án 661, sau đó sẽ khởi công thêm 10 tàu trong lớp. Tuy nhiên, sau đó số lượng tàu bị rút xuống còn 5, sau đó là 3, còn trong năm 1964, kế hoạch 5 năm mới quyết định hạn chế việc đóng mới tàu chỉ là 1. Việc này được giải thích là ở Liên Xô không đủ titan, đồng thời những khó khăn về công nghệ, thời gian đóng tàu kéo dài đáng kể chỉ để đóng tàu duy nhất. Năm 1970, một lần nữa, lại đặt ra câu hỏi về khởi công loạt tàu ngầm nguyên tử Đề án nâng cấp 661-M, nhưng ở thời điểm đó đã triển khai đóng hàng loạt các tàu thuộc Đề án 670.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #97 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 04:31:05 pm »

Tình hình đến 2007

Sự khai thác sử dụng thí nghiệm của tàu được bắt đầu năm 1970 và kết thúc tháng 12 năm 1971. Tháng 9 năm 1971, K-162 đã có lần trực chiến đầu tiên, trong cuộc hành quân đó, tàu đã đi qua biển Greenland đến rãnh (vùng trũng) Brazil, tới khu vực xích đạo, thực hiện hàng loạt các nhiệm vụ cùng với các tàu ngầm và tàu nổi khác. Thực hiện sự giám sát tàu sân bay “Saratoga”. Các tàu Mỹ khí đó nhiều lần cố gắng thoát khỏi các tàu ngầm, tăng tốc độ lên hơn 30 hải lý, tuy nhiên kết quả mong đợi không thực hiện được. Hơn nữa, tàu ngầm nguyên tử đã tiến hành cơ động, thỉnh thoảng, nó vượt qua cả tàu Mỹ. Trong hai tháng rưỡi tiến hành cuộc hành quân, tàu đã nổi lên mặt nước tổng cộng một lần.

Sau khi hoàn thành thí nghiệm khai thác sử dụng, K-162 đã trải qua sửa chữa ở Severodvinsk và năm 1974 một lần nữa quay trở lại biên chế chiến đấu Hải quân. Tàu được giới thiệu là thư viện độc đáo, ở đó, trong các điều kiện tự nhiên đã thực hiện việc xử lý các mẫu vũ khí và trang bị mới. Nhiều trong số đó, được chế tạo dành cho tàu ngầm thí nghiệm này, sau đó, sử dụng trên các tàu mới thuộc đề án khác. Ở phương Tây, Đề án 661 nhận tên gọi “Papa class”. Trong Hải quân Liên Xô, nó được gọi là “Cá vàng” (một thời gian trước, đây là biệt danh của tàu ngầm nguyên tử Đề án 645), cũng như là sự tương đồng (giống nhau) bên ngoài của titan và vàng, cũng như chi phí cao của Đề án.

Năm 1978, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo đề án K-162 đổi tên thành K-222. Tàu nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc đến năm 1988, sau đó bị đưa vào danh sách dự bị, tiếp đó – đưa đi tháo dỡ.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-162, từ năm 1978 là K-222 (số hiệu xưởng 501); khởi công 28 tháng 12 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 21 tháng 12 năm 1968; 13 tháng 12 năm 1969 đã bắt đầu các thí nghiệm vận động cấp xưởng, đạt tốc độ kỷ lục của tàu ngầm là 42 hải lý và 31 tháng 12 năm 1969 gia nhập biên chế; đầu năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1970 ở khu vực nước sâu của bãi tập đã thiết lập kỷ lục tuyệt đối của tàu ngầm là 44,7 hải lý (không chính thức); từ tháng 1 năm 1970 đến tháng 12 năm 1971, tàu trong quá trình khai thác sử dụng thí nghiệm, đi qua 40 000 dặm (trong đó gần 30 000 dặm dưới nước), từ tháng 9 năm 1971 đã hoàn thành cuộc hành quân tới Đại Tây Dương hoàn toàn tự động với tốc độ cao, theo dõi tàu sân bay tấn công “Saratoga” của Hải quân Mỹ; từ năm 1972 đến 1974 đã trải qua sửa chữa ở xưởng số 402; năm 1988 bị đưa vào danh sách dự bị; đầu những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân; giải tán và chuyển giao để tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #98 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 04:51:30 pm »


Chú thích

Các thông số kỹ chiến thuật chính của tàu ngầm K-162 Đề án 661: lượng choán nước tiêu chuẩn: 5179 tấn; tốc độ nổi: 16 hải lý; tốc độ ngầm: hơn 38 hải lý; 10 tên lửa có cánh tổ hợp “Ametist”, 4 thiết bị ngư lôi 533mm, 12 ngư lôi; tổ hợp đạo hàng “Sigma-661”; kính tiềm vọng – P(?)NS-9; đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi RLK-101; máy hỏi của đài ra đa định vị nhận dạng “Nikhrom”; tổ hợp thủy âm “Rubin”; đài thủy âm MG-509 và MG-29; thiết bị năng lượng – 2 lò phản ứng V-5 công suất 177 mW; tổ hợp tuabin răng cưa 618- 2 theo 40 000 sức ngựa; máy phát điện tuabin – 3 theo 3000kW; độ lặn sâu giới hạn: 400 mét; thời gian hoạt động: 70 ngày; chiều dài: 106,9 mét; chiều rộng thân ngoài: 11,5 mét; chiều rộng theo bộ phận cân bằng: 16,7 mét; chiều cao theo nóc vách ngăn mui: 14,5 mét; lượng mớn nước: 8 mét; thủy thủ đoàn: 75 người.

Các số hiệu

1.Các thiết bị ngư lôi ở mũi; 2.Các ngư lôi dự trữ; 3.Khoang mũi; 4.Khoang số 3; 5. Khoang trong; 6.Thùng nổi cứu nạn; 7.Trạm trung tâm; 8.Cửa ra vào vận chuyển – khẩn cấp; 9.Các thiết bị tuabin răng cưa chính; 10. Các máy phát điện tuabin; 11-Khoang các máy móc hỗ trợ; 12-Khoang thiết bị bánh lái; 13. Bánh lái quạt gió; 14. Chân vịt; 15. Trạm la bàn; 16.Tổ hợp thủy lực 17.Khoang thủy âm (?); 18.Thùng phóng tên lửa; 19.Các bánh lái nằm ngang cơ động ở mũi tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #99 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 04:57:09 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 5197

+ ngầm: 8000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế) 106,92 (-)

+ chiều rộng nhất: 11,5

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,06

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ thiết bị sản xuất hơi nước B-5R; 2 lò phản ứng nước, công suất, mW: 177,4

+ 2 thiết bị tuabin răng cưa 618; 2 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 80 000 (58 000)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-3, công suất, kW: 2x3000

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 16

+ ngầm (tốc độ tối đa đạt được): 42 (45)

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 300

+ giới hạn: 400

Thời gian hoạt động: 70 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 85 (-)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM