Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:44:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329732 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #480 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 01:28:10 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 11 130

+ hoàn toàn: 14 100

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 199 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 18,7 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 6,9 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 6 nồi hơi hơi nước, 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 124 600 (91 580)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 5x -.

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 33,4

+ tiết kiệm năng lượng: 17

Tầm bơi xa, dặm (ở tốc độ, hải lý): 6360 (17)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 1184 (-).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:36:46 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #481 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 01:31:00 pm »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 152mm MK-5-bis: 4x3

+ thiết bị pháo 100mm SM-5-1: 4x2

+ thiết bị pháo 37mm V-11: 14x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-68: 2x5

Mìn

+ có thể mang mìn trên boong trên: 100

Bọc thép

+ thành: 100mm

+ boong chính: 50mm

+ tháp pháo: 175mm

+ mui: 130mm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #482 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 01:36:34 pm »

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Hyuis”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 2x”Rif”

Đài thủy âm

+” Tamir-5N”

Khí tài đối kháng điện tử: không có

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Zalp” cho thiết bị pháo chính

+ 2x”Yakor” đối với thiết bị pháo đa năng

Các trạm chỉ huy tầm xa

+ 2xKDP2-8-III cho thiết bị pháo chính

+ 2xSPN-500 cho thiết bị pháo đa năng

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Fakel-MO/MZ”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #483 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2012, 02:37:12 pm »

Tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis – Lớp Sverdlov


Tổng số tàu đã đóng: 14+7

Các biến thể

+ 68-bis: đề án cơ sở với trang bị pháo (1952)

+ 67-EP: trên một tàu trong loạt thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela” (1955)

+ 67-SI: đề án trang bị lại của đề án 67-EP để cùng thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela” (1956)

+ 67-bis: đề án trang bị lại các tàu tuần dương với sự lắp tổ hợp tên lửa chống tàu P-6 (1957)

+ 71: đề án trang bị cho các tàu tuần dương tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” thay cho bộ phận pháo (1957)

+ 70-E: đề án trang bị lại các tàu tuần dương hệ thống phòng không với việc lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov”

+ 70-E: trên một tàu trong loạt thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” (1958)

+ 64: đề án trang bị các tàu tuần dương tên lửa điều khiển thay cho pháo (1958)

+ 68-A: tăng cường vũ khí phòng không (tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230), trang bị vô tuyến điện mới (trên 3 tàu vào đầu những năm 1970)

+ 68-U1/U2: các tàu tuần dương điều khiển với trang bị vô tuyến điện mới, lắp tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (1966-72)

+ 68-bis-ZiF: trên 8 tàu đã đóng tăng cường pháo và lượng choán nước (không được đóng).

Đồng thời với việc đóng tiếp các tàu thuộc đề án trước chiến tranh vào cuối những năm 1940 đã tiếp tục các công việc nghiên cứu và thực tế theo chế tạo các tàu thế hệ mới mà trong thời gian thiết kế có thể sử dụng tối đa những tính toán và kinh nghiệm của chiến tranh và có thể mang tới  những kiến thức và sản xuất sau chiến tranh. Một cách không hoàn toàn, tính toán này trong tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis được xem là loạt tàu tuần dương thứ 2 đề án 68-K. Tổng công trình sư của tàu là A.S.Savichev, còn giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 1 D.I.Kusev.

Theo so sánh với nguyên mẫu (đề án 68-K), nó khác biệt hoàn toàn bởi thân hàn, boong mũi được kéo dài và tăng cường vũ khí phòng không. Sự tăng cường vũ khí và phòng thủ, tăng cường khu vực cho người ở, tăng cường thời gian hoạt động (30 ngày) và tầm bơi xa (9000 dặm) đã dẫn tới sự tăng lượng choán nước hoàn toàn lên gần 17 000 tấn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #484 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2012, 02:39:30 pm »

Các bản vẽ và hình vẽ tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #485 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2012, 02:46:16 pm »


Hình vẽ tàu tuần dương hạng nhẹ 68-bis



Dàn pháo chính tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis



Thiết bị pháo mạn tàu 152mm MK-5-bis của tàu tuần dương "Đô đốc Ushakov" đề án 68-bis



Trên boong tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis thuộc Hạm đội Phương Bắc
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #486 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2012, 05:12:24 pm »


Để bảo vệ khả năng sống còn các bộ phận quan trọng nhất của tàu trong trận chiến đã tiếp nhận giáp bảo vệ truyền thống: chống đạn cho thành tàu, tháp pháo chính và các khoang chiến đấu; chống mảnh đạn và vỏ đạn – các trạm chiến đấu của boong trên và thượng tầng. Sử dụng giáp đồng nhất cơ sở. Lần đầu tiên áp dụng công nghệ hàn giáp tàu dày mà bản thân nó được áp dụng hoàn toàn trong các thiết kế tàu. Độ dày giáp, được tiếp nhận trong các thiết kế này gồm: thành tàu – 100mm, tường chắn đạn – 120mm, mạn tàu – 100mm, boong dưới – 50mm. Sự phòng thủ thiết kế phần dưới nước khỏi tác động của ngư lôi và thủy lôi của địch bao gồm, ngoài đáy đôi truyền thống, hệ thống các khoang mang theo (chưa hàng hóa dạng chất lỏng) và các vách ngăn dọc. Sự bố trí các khoang phục vụ và cho người sống thực tế ít sự khác biệt so với trên các tàu tuần dương đề án 68-K.

Trong vai trò pháo chính trên các tàu đề án 68-bis đã tiếp nhận các thiết bị pháo 3 nòng hiện đại hóa MK-5 bis (vào cuối những năm 1950 được hoàn thiện hệ thống điều khiển, cho phép bắn bằng pháo chính các mục tiêu trên không khi sử dụng hệ thống điều khiển pháo đa năng của tàu tuần dương); pháo đa năng được giới thiệu là 6 thiết bị cân bằng đồng trục SM-5-1 (bắt đầu từ tàu thứ 5 lắp SM-5-1 bis); pháo phòng không được giới thiệu là 16 súng máy tự động V-11 (sau đó lắm V-11M). Điểm đặc biệt của tàu tuần dương đề án này – sự xuất hiện các đài ra đa định vụ chuyên dụng dành cho pháo trong sự bổ sung các khí tài quang học dẫn bắn theo mục tiêu. Sự sử dụng hiệu quả chiến đấu của pháo chính được đảm bảo bởi hệ thống các khí tài điều khiển bắn “Molnia ATs-68bis A”, pháo đa năng và phòng không – hệ thống thiết bị phóng “Zenit-68-bis A”. Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trên tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis, hoạt động của các loại pháo được đảm bảo trong sóng biển cấp độ 6 trong thực tế.

Trang bị mìn (thủy lôi) – ngư lôi của tàu gồm có 2 thiết bị ngư lôi trên boong dẫn bắn 5 ống phóng, lắp theo thành trên boong trên, và được điều khiển bằng hệ thống điều khiển “Stalingrad-2T-68-bis”, phối hợp với đài ra đa định vị dẫn bắn ngư lôi chuyên dụng “Zarya”. Để tiếp nhận, giữ và bắn mìn trên boong lái trên (boong trên) đã lắp các rãnh thả mìn với các bãi ngang. Tàu tuần dưng có thể tiếp nhận mang 132 thủy lôi chướng ngại vật mẫu năm 1908 hoặc 76 mìn mẫu năm 1926 hoặc 68 mìn chống tàu loại lớn “Krab”. Việc rải chúng khi tạo thành các bãi mìn chướng ngại vật được thực hiện theo sườn dốc nghiêng ở mạn tàu. Ngoài ra, trên tàu tuần dương có các tấm chắn dạng K-1: 4 làm việc và 4 dự trữ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #487 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2012, 10:18:46 pm »


Các tàu lớp này được trang bị đồng thời các khí tài dẫn đường và kỹ thuật vô tuyến hiện, thông tin liên lạc hiện đại vào thời điểm đó. Ban đầu, trên các tàu tuần dương đề án 68-bis lắp đài ra đa định vị phát hiện các mục tiêu nổi “Rif” và đài ra đa định vị phát hiện các mục tiêu trên không “Gois-2”. Ngoài ra, có vị trí dự bị cho các đài ra đa định vị “Fut-B”, “Fut-N” và đài ra đa định vị dẫn đường tầm xa “Nord” (không được biên chế vào trang bị). Đài ra đa định vị dẫn bắn gồm có hai đài “Zalp” (cho pháo chính) và 2 đài đo xa vô tuyến “Shtag-B”; đài ra đa định vị đảm bảo bắn pháo phòng không  - 2 đài ra đa định vị “Yakor” và 6 đài đo xa vô tuyến “Shtag-B”, đồng thời đài ra đa định vị “Zarya”, đảm bảo điều khiển bắn ngư lôi. Đồng thời có trong trang bị hệ thống ra đa định vị nhận dạng “Fakel-M3”/”Fakel-MO”.

Theo đề án, các tàu tuần dương không có các khí tài đối kháng vô tuyến điện chủ động. Trên các tàu tuần đương đề án 68-bis đầu tiên, trong số đó, trên “Sverdlov”lắp tổ hợp trạm thông tin chiến đấu (BIP) “Zveno” chế tạo năm 1949 ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu. Trong cùng năm, nó đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước trên tàu tuần dương “Molotov” và được tiếp nhận vào trang bị. Tổ hợp “Zveno” là nguyên mẫu của các hệ thống kiểm soát (điều khiển) tự động hóa (ASU) của các tàu nổi và sử dụng để phối hợp công việc các khí tài làm rõ tình trạng của tàu, biểu hiện nó trên các bảng vẽ, xử lý thông tin, dẫn bắn cho máy bay tiêm kích thuộc Không quân và xuồng (tàu chiến loại nhỏ) trang bị ngư lôi. Trong đó, đảm bảo xử lý đồng thời các thông tin theo 4-5 mục tiêu nổi và 7-9 mục tiêu trên không, dẫn bắn một cụm máy bay tiêm kích theo 1 mục tiêu trên không, 2 cụm tàu ngư lôi vào 1 mục tiêu nổi. Trên tàu pháo tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis lắp đài thủy âm “Tamir-5N” và đài tìm phương hồng ngoại (ra đa hồng ngoại) “Solntse-1”.

Thiết bị năng lượng của tàu tuần dương đề án 68-bis về tổng thể, không khác so với thiết bị năng lượng của các tàu thuộc đề án 68-K. Sự thật, đã có một số thành công tăng cường công suất trong tốc tộ hoàn toàn lên 118 100 sức ngựa. Theo các nguyên nhân khác quan và chủ quan, trên các tàu này không có các khí tài và máy móc mới một cách nguyên tắc. Bằng cách này, các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis trở thành các tàu Liên Xô cuối cùng với thiết bị năng lượng lỗi thời (cũ), có các nồi hơi có thông số thấp.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #488 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2012, 02:50:20 pm »


Đưa ra đánh giá tổng thể cho tàu, có thể nhấn mạnh tằng nó không phải là đại diện tốt nhất trong lớp này. Theo các thông số cơ bản, nó kém các tàu được đóng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai. Như vậy, trong khi vượt trội tàu tuần dương hạng nhẹ lớp “Cleveland” của Hải quân Mỹ trong tầm bắn xa tối đa của pháo 152mm, đề án 68-bis kém 1,5 lần về giáp bảo vệ, đặc biệt theo boong tàu, có ý nghĩa quan trọng trong chiến trận trên tầm xa. Toàn bộ hỏa lực hiệu quả từ pháo 152mm, tàu của chúng ta trên các tầm xa tói đa thực tế không thể đạt được do không có các hệ thống điều khiển cần thiết, còn trên tầm gần, sự vượt trội hỏa lực nằm trên các tàu tuần dương lớp “Cleveland” (pháo 152mm có tốc độ bắn cao hơn, số lược pháo đa năng 127mm lớn hơn – 8 pháo một bên thành so với 6 pháo 100mm của lớp “Sverdlov”). Thiết bị năng lượng đã cũ từ đầu những năm 50 của tàu tuần dương đề án 68-bis với các tham số thấp và các nồi hơi với sự thổi quạt gió trong các khoang nồi hơi đã dẫn đến sự tăng lượng chán nước 1,3 lần so với “Cleveland” (trong khi cùng tầm bơi xa). Nhược điểm lớn nhất của toàn bộ các pháo cỡ trung bình trên các tàu Liên Xô là khi nạp đạn riêng, pháo cỡ 120 – 180mm tiếp nhận cát tút không có liều phóng. Việc này mang lại khả năng bắn, khi cần thiết, trong trường hợp nạp đạn không đầy đủ (bắn vào bờ hoặc các mục tiêu không được phòng thủ - bảo vệ trên tầm xa trung bình), tăng cường sức sống cho pháo, nhưng không mang tới khả năng yêu cầu nạp đạn để tăng tốc độ bắn. Ngoài ra, việc dùng ống liều sẽ luôn an toàn hơn việc nạp rời không có ống liều.

Thực tế, tàu tuần dương đề án 68-bis hoàn toàn đáp ứng cho nhiệm vụ chương trình đóng tàu đầu tiên sau chiến tranh – khôi phục công nghiệp đóng tàu và bồi dưỡng cán bộ thủy thủ. Nhiệm vụ cơ bản của tàu này được tính toán là bảo vệ các tàu chủ lực và tàu tuần dương hạng nặng khỏi sự tấn công của các tàu khu trục, yểm trợ sự tấn công của các tàu khu trục và tàu phóng ngư lôi, bắn phá bờ biển, đồng thời hoạt động độc lập trên các tuyến giao thông của địch.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Sáu, 2012, 01:40:37 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #489 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 02:36:33 am »

Các biến thể


Trong thời gian phục vụ, các tàu tuần dương đề án 68-bis đã nhận được các khí tài cải tiến và hệ thống khác nhau. Như vào năm 1956, trên tàu tuần dương “Dzerzinski” đã trải qua (thực hiện) các thí nghiệm đài ra đa định vị chống nhiễu “Kaktus”, được thiết kế trong những năm 1953 – 1956 ở Phòng thiết kế số 703. Đài này đảm bảo tầm xa phát hiện mục tiêu trên không từ 100 đến 300km, còn theo tàu khu trục – 35km, và có hệ thống lục các mục tiêu đang di chuyển. Sau đó trên cơ sở đài ra đa định vị “Kaktus” đã chế tạo đài hiện đại hơn cùng phạm vi tần số - đài ra đa định vị “Kil” với ăng ten dạng lưới (khe nứt, khe hở) và đài ra đa định vị “Kliver” với ăng ten parabol – để trang bị cho các tàu khu trục và một bộ phận các tàu tuần dương đề án 68-bis (trong đó đồng thời được lắp các khí tài thông tin liên lạc mới.

Đài ra đa định vị chủ động “Korall” được chế tạo ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu năm 1954, đồng thời cũng trải qua các thí nghiệm cấp Nhà nước trên tàu tuần dương “Dzerzinski”. Nó đảm bảo tạo thành các dải nhiễu tiếng ồn cho các đài ra đa định vị của máy bay, tàu và trên bờ trong phạm vi bước sóng centimet. Trong năm 1950, ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 đã chế tạo khí tài điện tử trạm thông tin chiến đấu “Tsel” hiện đại hơn, đã thực hiện thành công các thí nghiệm trên “Dzerzinski” năm 1953. Trên cơ sở tổ hợp này đã thiết kế tổ hợp “Planshet” – gia nhập trang bị các tàu tuần dương đề án 68-bis (trong đó có “Zhdanov” và “Đô đốc Senyanvin”). Sau đó, trong những năm 1957 – 1958 – tàu pháo tuần dương hạng nhẹ “Dzerzinski” được được đóng lại theo đề án 70-E, trở thành tàu tuần dương đầu tiên được trang bị tổ hợp tên lửa phòng không tầm xa “Volkhov”. Thiết bị phóng và hệ thống điều khiển với đài ra đa định vị được lắp trên tàu thay cho pháo 152mm ở mạn tàu. Ban đầu, có kế hoạch trang bị lại toàn bộ dòng tàu tuần dương theo đề án 70 (tàu tuần dương phòng không) hoặc 71 (tổ hợp tên lửa phòng không thau cho pháo), nhưng cuối cùng, các công việc theo các tàu này đã bị ngừng lại, còn trên tàu tuần dương hạng nhẹ “Dzerzinski” trong dạng tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” chưa được trang bị hoàn thiện đã được đưa vào bảo trì.

Trên một số tàu tuần dương đề án 68-bis trong những năm 1960 đã lắp tổ hợp ra đa định vị đạo hàng “Don”, được tiếp nhận vào trang bị năm 1957. Đài làm việc trong tầm bước sóng 3 centimet. Tầm xa phát hiện mục tiêu nổi – 25km, trên không – 50km. Tài rải nhiễu “Krab” tầm centimet được thí nghiệm năm 1956 trên tàu tuần dương “Đô đốc Ushakov”. Nó đảm bảo sự phòng thủ khỏi đài ra đa định vị trên tầm xa từ 8 đến 25km. Đài ra đa định vị “Krab” được tiếp nhận vào trang bị năm 1956 và được lắp trên một số tàu tuần dương đề án 68-bis, trong đó có “Zhdanov” và “Đô đốc Senyavin”. Sau đó, đài có hàng loạt các biến thể, ví dụ “Krab-11” được tiếp nhận vào biên chế năm 1961 và lắp trên tàu tuần dương “Dzerzinski”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM