Tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis – Lớp Sverdlov
Tổng số tàu đã đóng: 14+7
Các biến thể
+ 68-bis: đề án cơ sở với trang bị pháo (1952)
+ 67-EP: trên một tàu trong loạt thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela” (1955)
+ 67-SI: đề án trang bị lại của đề án 67-EP để cùng thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela” (1956)
+ 67-bis: đề án trang bị lại các tàu tuần dương với sự lắp tổ hợp tên lửa chống tàu P-6 (1957)
+ 71: đề án trang bị cho các tàu tuần dương tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” thay cho bộ phận pháo (1957)
+ 70-E: đề án trang bị lại các tàu tuần dương hệ thống phòng không với việc lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov”
+ 70-E: trên một tàu trong loạt thí nghiệm lắp tổ hợp tên lửa phòng không “Volkhov” (1958)
+ 64: đề án trang bị các tàu tuần dương tên lửa điều khiển thay cho pháo (1958)
+ 68-A: tăng cường vũ khí phòng không (tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230), trang bị vô tuyến điện mới (trên 3 tàu vào đầu những năm 1970)
+ 68-U1/U2: các tàu tuần dương điều khiển với trang bị vô tuyến điện mới, lắp tổ hợp tên lửa phòng không tự vệ “Osa-M” (1966-72)
+ 68-bis-ZiF: trên 8 tàu đã đóng tăng cường pháo và lượng choán nước (không được đóng).
Đồng thời với việc đóng tiếp các tàu thuộc đề án trước chiến tranh vào cuối những năm 1940 đã tiếp tục các công việc nghiên cứu và thực tế theo chế tạo các tàu thế hệ mới mà trong thời gian thiết kế có thể sử dụng tối đa những tính toán và kinh nghiệm của chiến tranh và có thể mang tới những kiến thức và sản xuất sau chiến tranh. Một cách không hoàn toàn, tính toán này trong tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis được xem là loạt tàu tuần dương thứ 2 đề án 68-K. Tổng công trình sư của tàu là A.S.Savichev, còn giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 1 D.I.Kusev.
Theo so sánh với nguyên mẫu (đề án 68-K), nó khác biệt hoàn toàn bởi thân hàn, boong mũi được kéo dài và tăng cường vũ khí phòng không. Sự tăng cường vũ khí và phòng thủ, tăng cường khu vực cho người ở, tăng cường thời gian hoạt động (30 ngày) và tầm bơi xa (9000 dặm) đã dẫn tới sự tăng lượng choán nước hoàn toàn lên gần 17 000 tấn.