Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:46:48 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330364 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #500 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2012, 05:52:38 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 13 230

+ hoàn toàn: 16 340

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 210 (205)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 22 (21,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 6,9 (6,9)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 6 nồi hơi nước, 2 tuabin hơi nước tổng công suất, sức ngựa (kW): 118 100 (86 800)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 5x-

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 32,7

+ tốc độ hành trình: 16

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 9000 (16)/8700 (18)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 1270 (17).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:35:58 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #501 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2012, 05:57:19 pm »

Vũ khí


Pháo

+ thiết bị pháo 152mm MK-5-bis: 4x3

+ thiết bị pháo 100mm SM-5-1 (bis): 6x2

+ thiết bị pháo 37mm V-11M: 16x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-68-bis: 2x5

Mìn

+ có thể mang theo mìn trên boong trên các loại mẫu 1908/1926/”Krab”: 132/76/68

Bọc thép (giáp)

+ thành: 100mm

+ boong: 50mm

+ tháp pháo: 175mm

+ các buồng: 130mm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #502 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2012, 06:04:13 pm »

Trang bị vô tuyến điện


Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Zveno”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Gois-2” hoặc

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net) hoặc

+ 1x”Kil”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp: 1x”Rif”

Đài thủy âm: “Tamir-5N”

Khí tài đối kháng điện tử: không có

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Zalp” cho pháo chính

+ 2x”Yakor” (trong thành phần SPN-500) cho pháo đa năng (100mm)

+ 1x”Zarya” cho thiết bị ngư lôi

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 2xKDP2-8-III cho pháo chính

+ 2xSPN-500 cho pháo đa năng

Đài tìm phương hồng ngoại: 1x”Solntse-1”

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Fakel-MO/M3”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #503 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2012, 12:57:29 am »

Tàu tuần dương hạng nặng lớp “Stalingrad” – Đề án 82

Tổng số tàu đã đóng: 0+3.

Biến thể: 0

Gần năm 1945, các tàu nổi của Liên Xô – tàu chủ lực, tàu tuần dương và các tàu khu trục không chỉ thua kém đáng kể các tàu cùng lớp của Mỹ gia nhập biên chế năm 1941-1945 mà còn trong tình trạng cực kỳ xuống cấp. Sự ăn mòn, han rỉ các tàu Liên Xô được xác định bởi việc sử dụng cường độ cao trong những năm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại trong khi không có sự sửa chữa thỏa đáng. Thực tế tới mùng 1 tháng 1 năm 1946, Hải quân Liên Xô đã ở trong tình trạng không có khả năng chiến đấu. Giá thành để sửa chữa và nâng cấp các tàu cũ trong phần lớn trường hợp tương đương với giá thành đóng tàu mới. Kết quả là các đô đốc và nhà đóng tàu Liên Xô đã đứng trước lựa chọn đơn giản: hoặc đóng các tàu pháo với sự tính toán kinh nghiệm của Chiến tranh Vệ quốc, hoặc hầu như không có Hải quân. Trong Hải quân Liên Xô, các tàu chủ lực được mang tên tàu tuần dương hạng nặng (KRT). Các tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên đề án 69 – “Cronshtadt” và “Sevastopol” – đã được khởi công, nhưng sau chiến tranh, đề án 69 được cho là đã không phù hợp, và năm 1948, các thân tàu tuần dương chưa được đóng hết đã bị tháo.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trong thiết kế tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 đã được phê duyệt bởi Dân ủy Hải quân N.G.Kuznetsov vào tháng 5 năm 1941. Thực tế đây là đề án 83 được chế tạo lại không đáng kể, cũng như Liên Xô gọi tàu tuần dương hạng nặng ở Đức “Lyutsov”. Tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 phải có pháo chính cỡ lớn (8 pháo 203mm trong 4 tháp pháo), như của “Lyutsov”. Việc thiết kế tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 ban đầu do phòng thiết kế trung ương số 17 đảm nhận. Bởi vì vào năm 1941-42, xuất hiện rằng, pháo 203mm của Đức chưa được tiếp nhận, cũng như pháo 305mm B-30 từ xưởng “Barrikada”, các công trình sư phòng thiết kế trung ương số 17 năm 1943 đã bắt đầu mơ tưởng với pháo chính, dự kiến trang bị cho tàu tuần dương 9 pháo 210..230mm. Cỡ nòng này trong pháo binh Hải quân Liên Xô khi đó chưa có, nên việc thiết kế là mạo hiểm: rõ ràng rằng, trong quá trình chiến tranh, các tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 sẽ không được đóng. Theo tính toán, tàu tuần dương, được trang bị pháo 210…230mm, sẽ đối phó dễ dàng với tàu tuần dương nước ngoài bất kỳ được trang bị pháo 203mm.

Tháng 11 năm 1944, Kuznetsov đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật mới cho đề án 82, ở đó dự định trang bị tàu tuần dương 9 pháo chính 220mm, 16 pháo đa năng 130mm, 32 pháo 45mm và 12 pháo phòng không tự động 25mm. Lượng choán nước của tàu tuần dương này phải từ 25-26 000 tấn, còn tốc độ - trên 30 hải lý. Vào cuối tháng 1 năm 1947, trong Kremli đã có cuộc họp đặc biệt với sự tham gia của Stalin về các vấn đề đóng tàu quân sự. Trong quá trình cuộc hợp, Stalin đã đề xuất trang bị cho tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 pháo 305mm. Theo các kết quả cuộc họp này ngày 28 tháng 1 năm 1947 đã ra mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô – cho Bộ Các lực lượng vũ trang và cho Bộ công nghiệp đóng tàu nhiệm vụ thiết kế các phương án tàu đề án 82 với các pháo chính 305mm và 220mm cùng thời gian 2 tháng đệ trình để nghiên cứu. Đầu tháng 2 năm 1947, Tư lệnh mới của Hải quân Liên Xô I.S.Yumashev đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật nghiên cứu cho các phương án đã được chỉ định. Việc lựa chọn pháo chính 305mm được xác định bởi danh mục mới các nhiệm vụ cho các tàu tuần dương hạng nặng: tạo thành khả năng chiến đấu vững chắc cho các lực lượng hạng nhẹ, hoạt động trong biên chế lực lượng cơ động, tiêu diệt các tàu tuần dương của địch, trang bị pháo 203mm và pháo 152mm, trong các trận chiến trên biển, mang lại những sự bắn phá cường độ mạnh bằng pháo binh vào các mục tiêu đặc biệt trên bờ trong cách chiến dịch chống lại các căn cứ và bờ biển của địch (cũng như trong các chiến dịch độc lập, cũng như phối hợp với các sườn (cánh) quân duyên hải và sự đổ bộ của Hải quân đánh bộ).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #504 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2012, 02:00:31 am »


Hình chiếu bên tàu tuần dương hạng nặng "Stalingrad" đề án 82.


Hình chiếu tàu tuần dương hạng nặng đề án 82. Từ các bản vẽ đề án kỹ thuật đề án năm 1953.


Hình chiếu tàu tuần dương hạng nặng đề án 82.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #505 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2012, 02:02:35 am »


Mặt cắt ngang tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 theo trục tháp pháo chính 305mm SM-31.


Hình chiếu bên và sơ đồ bọc thép tàu tuần dương hạng nặng đề án 82.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #506 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2012, 06:27:57 pm »

Khi thiết kế các phương án này, đã nghiên cứu các thành phần phần pháo chính khác nhau (8…12 pháo 305mm và trong các tháp pháo 2 hoặc 3 nòng) và pháo tổng hợp (với các pháo 130 hoặc 152mm trong các tháp pháo 2 nòng), thành phần duy nhất pháo cỡ nhỏ là pháo phòng không (các pháo tự động là 25mm và 45mm).

Các yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế các phương án đề án 82 với các pháo 220mm khác biệt ở nhiệm vụ năm 1944. Cơ số đạn pháo chính rút xuống từ 170 còn 125 phát bắn, số lượng pháo đa năng 130mm (phòng không tầm xa) rút từ 16 xuống 12, cơ số đạn pháo tự động 45mm – từ 1500 xuống 1000 phát bắn. Số lượng pháo tự động 25mm tăng từ 12 lên 30, còn còn cơ số đạn của chúng rút xuống từ 3000 còn 2500 phát bắn.

Tháng 8 năm 1947, Bộ các lực lượng vũ trang (N.A.Bulganin), Bộ công nghiệp đóng tàu (A.A.Gorelyad) và vũ khí (D.F.Ustinov) đã giới thiệu cho việc nghiên cứu của chính phủ 3 phương án tàu tuần dương hạng nặng đề án 82: 2 với pháo chính 305mm và 1 với pháo 220mm. Trong báo cáo của mình cho Stalin, họ đã lập luận sự hợp lý trong việc tiếp nhận pháo 305mm và nhấn mạnh rằng 2 phương án được giới thiệu với vũ khí giống nhau khác biệt bởi độ dày giáp vành đai chính thành tàu – được giải thích là sự tranh cãi giữ Bộ các lực lượng vũ trang và Bộ công nghiệp đóng tàu theo độ dày giáp tối ưu. Bulganin đã đề xuất phương án số 1 với độ giày giáp 200mm, đảm bảo sự phòng thủ mang tính sống còn các bộ phận cơ bản quan trọng của tàu khỏi đạn pháo 203mm của địch từ cự ly 70 cabentop và khả năng cơ động tự do cao trong trận chiến với các tàu này, là ưu điểm chiến thuật quan trọng của tàu. Gorelyad cũng đã đề xuất tiếp nhận phương án số 2 với đai giáp 150mm, với sự giảm tương ứng lượng choán nước của tàu và tăng tốc độ tốc độ tối đa. Đây là, theo quan điểm của Bộ công nghiệp đóng tàu, sẽ cho phép tàu đề án 82 tham chiến một cách thành công với các tàu tuần dương hạng nặng cảu địch trang bị pháo 203mm trên tầm xa và trong trường hợp này, giáp bảo vệ hoàn toàn chịu được đạn từ cự ly 85 cabentop. Phương án số 3 với pháo 220mm thua thiệt rất nhiều các phiên bản trước theo sức mạnh hỏa lực và khả năng sống còn trong chiến đấu. Ưu thế của nó là tốc độ tối đa cao (gấp 1,5 lần) và lượng choán nước thấp nhất (25%).

Tháng 3 năm 1948, Stalin đã tán thành đối với sự thiết kế tiếp theo phương án số 1 (với pháo 305mm và 200mm giáp, lượng choán nước tiêu chuẩn 40 000 tấn và tốc độ 32 hải lý), đã đưa mệnh lệnh đẩy nhanh việc chế tạo các tàu tuần dương nay và sau đó tự kiểm tra các công việc. Tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 đã được nghiên cứu như là sự đối kháng các tàu tuần dương lớp “Alska” của Mỹ.

Sau khi tiếp nhận quyết định lựa chọn phương án, tàu tuần dương hạng nặng số 82 đã được chuẩn bị năm 1947. Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu đã không được giao cho Hải quân mà giao cho Bộ công nghiệp đóng tàu và tháng 4 năm 1948 đã được trình tới Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Ngày 31 tháng 8 cùng năm, đã có mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng về thiết kế và đóng tàu đầu tiên của đề án 82. Tổng công trình sư theo đề án là L.V.Dikovich, còn giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 M.S.Mikhailov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #507 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2012, 07:20:13 pm »

Vào cuối năm 1947, ở Phòng thiết kế Trung ương số 17 đã bắt đầu thiết kế đề án sơ bộ của tàu, đã được trình nghiên cứu ở Bộ Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu vào tháng 3 năm 1949. Các nhà thiết kế đã đệ trình 4 phương án đề án sơ bộ, khác biệt ở sự bố trí pháo đa năng và pháo phòng không tự động, số lượng sản lượng hơi nước của nồi hơi chíh và sự phân bố thiết bị năng lượng chính.

Phương án L-3-6 có sự bố trí hình thoi các pháo 130mm BL-110, 12 nồi hơi sản lượng hơi nước 80 tấn hơi nước trong 1 giờ trong 4 khoang nồi hơi và 2 buồng máy.

Trong phương án B-3-8 các thiết bị pháo đa năng được bố trí theo 4 khẩu trên mỗi thành tàu, còn 12 nồi hơi cùng sản lượng – trong 6 khoang nồi hơi.

Phương án L-2-4 có sự bố trí hình bình hành các pháo 130mm BL-110, 4 khoang máy – nồi hơi (theo 2 nồi hơi sản lượng 130 tấn/h và 1 thiết bị tua bin khí.

Nhưng đối với thiết kế kỹ thuật đã được đề nghị trong phương án thứ 4 – L-2-6. Theo phương án này, sự bố trí pháo đa năng và thiết bị năng lượng chính tương đồng phương án L-3-6, nhưng trong mỗi khoang nồi hơi có 2 nồi hơi chính sản lượng 130 tấn/h thay cho 3.

Đề án kỹ thuật của Phòng thiết kế trung ương số 17 sẽ phải được trình bày cho bên mua vào cuối năm 1949, để đảm bảo bắt đầu đóng tàu trong quý III năm 1950, và vào tháng 4 năm 1949, các công trình sư đã bắt đầu thiết kế kỹ thuật. Nhưng mùa thu cùng năm, khi nghiên cứu ở Kremli các kết quả thiết kế được đệ trình bởi Bộ Hải quân và Công nghiệp đóng tàu để phê duyệt đề án cơ sở, Stalin đã hỏi Dickovich: “Có được hay không việc tăng tốc độ của tàu để tàu tuần dương hạng nặng của chúng ta có thể đuổi kịp và tiêu diệt tàu yếu hơn theo vũ khí và khả năng phòng thủ khỏi tàu địch, đồng thời né tránh các tàu địch mạnh hơn?”. Đây là mong muốn của Stalin đã được tiếp nhận như mệnh lệnh về sự thay đổi nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, được phê duyệt bởi chính phủ từ 1 năm trước. Kết quả được thiết kế bởi Phòng thiết kế Trung ương số 17, đề án cơ sở không được phê duyệt, còn trong bản báo cáo, việc nghiên cứu nó được nhấn mạnh rằng, tàu có lượng choán nước rất lớn và thiếu tốc độ.

Ngày 15 tháng 10 năm 1949, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã ban bố mệnh lệnh “Về thiết kế tăng cường các tàu và về các biện pháp hỗ trợ cho phòng thiết kế và cho các viện nghiên cứu khoa học đóng tàu quân sự”, trong đó một trong số những nguyên nhân chính sự chậm chạp trong thực hiện kế hoạch đã dẫn đến sự đảm bảo không đầy đủ cho các xưởng tài liệu kỹ thuật. Bằng mệnh lệnh này, Hội đồng Bộ trưởng đã quyết định tổ chức Phòng thiết kế theo thiết kế các tàu chủ lực và tàu tuần dương hạng nặng với sự phụ thuộc trực tiếp vào Bộ công nghiệp đóng tàu – Phòng thiết kế số 16. Từ thời điểm này, các công việc trên tàu tuần dương hạng nặng được giao một cách đặc biệt cho phòng thiết kế mới – Phòng thiết kế Trung ương số 16.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #508 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2012, 05:41:37 pm »

Đầu tháng 3 năm 1950, đã diễn ra cuộc họp mới trong phòng làm việc của Stalin ở Kremli theo đề án 82 với sự tham gia của V.A.Malưshev, I.S.Yumashev và Phó tư lệnh Hải quân P.S.Abanikin. Trong câu hỏi của Stalin về nhiệm vụ của tàu tuần dương hạng nặng, các thủy thủ đã trả lời rằng nó sẽ đối phó với các tàu tuần dương hạng nặng của địch. Stalin đã không đồng ý rằng, nhiệm vụ cơ chính của tàu tuần dương hạng nặng phải khác – chống lại các tàu tuần dương hạng nhẹ của địch, và cần tăng tốc độ lên 35 hải lý để nó có thể thường xuyên tranh khỏi sự công kích từ tàu hạng nặng của địch. Sau đó, Stalin đã đề xuất hàng loạt biện pháp để giảm lượng choán nước. Khi các thủy thủ không tán thành chống lại một trong số quan điểm, ông đã đưa ra nhận xét chính đáng theo thành phần pháo đa năng và phòng không và theo cơ số đạn pháo mọi cỡ, nhấn mạnh rằng rất dại dột khi lắp trên tàu tuần dương hạng nặng các pháo phòng không 130mm với tầm bắn 16km, tất cả kẻ địch có thể ném bóm từ độ cao 500…1500 mét và vì thế cần loại pháo phòng không cỡ nòng nhỏ. Nhưng số lượng pháo phòng không tự động, Stalin đồng thời yêu cầu (sai khiến) rút gọn, tính toán rằng tàu này sẽ thường xuyên có sự cảnh giới bảo vệ. Các thủy thủ đã không đồng ý, chống lại việc giảm cơ số đạn, đã dẫn chứng rằng Hải quân Mỹ và Anh có trên các tàu số lượng lớn đạn dược. Nhưng Stalin đã gạt đi: “Các đồng chí không được sao chép một cách mù quáng người Mỹ và Anh, họ có các điều kiện khác, còn tàu của chúng ta ra khơi, xa khỏi căn cứ của mình. Chúng ta đã không nghĩ tới thực hiện các trận chiến trên biển, mà sẽ chiến đấu gần bờ biển chúng ta, và chúng ta cần có số lượng đạn lớn trên tàu”. Theo nguyên nhân này, Stalin đã quyết định giảm tầm bơi xa và nhấn mạnh rằng chế tạo tàu, có toàn bộ ưu thế là không được. Ông hiểu rằng tàu tuần dương đầu tiên được lên kế hoạch khởi công ở Leningrad, Stalin đã nói rằng muốn hai tàu tuần dương hạng nặng đầu tiên sẽ thuộc về biển Đen, “ở đó cần có Hạm đội lớn, lớn gấp 10 lần hiện nay, và có thể phong tỏa một cách vững chắc Dardanella. Sau đó – theo thứ tự - đóng tàu tuần dương hạng nặng cho biển Baltic”.

Với sự tính toán những ý kiến của Stalin, theo đề án sơ bộ và các kết quả thiết kế giai đoạn sợ bộ của đề án kỹ thuật, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô bằng mệnh lệnh ngày 25 tháng 3 năm 1950 đã phê duyệt các yếu tố cơ bản của nhiệm vụ thiết kế đề án kỹ thuậ 82 với sự thay đổi một phần nhiệm vũ kỹ - chiến thuật, được phên duyệt trong tháng 8 năm 1948. Hiện tại, tốc độ tối đa của tàu tuần dương hạng nặng phải là 35 hải lý do việc tính toán việc giảm vũ khí pháo đa chức năng và pháo phòng không cỡ nhỏ, lượng choán nước 36-36,5 nghìn tấn, còn tầm bơi xa và thời gian hoạt động giảm xuống theo so sánh với các phiên bản trước của đề án. Bộ công nghiệp đóng tàu sẽ đệ trình đề án kỹ thuật để phê duyệt trong tháng 2 năm 1951. Đồng thời Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã giao cho Bộ công nghiệp đóng tàu bắt đầu trong quý 2 cùng năm đóng 2 tàu tuần dương đề án 82 trên các xưởng số 444 ở Nicolaev và số 189 ở Leningrad với sự bàn giao chúng cho bên nhận trong năm 1954 và 1955 tương ứng. Tháng 12 năm 1952, đề án kỹ thuật 82 đã được hoàn thành ở Phòng thiết kế Trung ương số 16 và được đệ trình cho Bộ quân đội – hải quân và Bộ công nghiệp đóng tàu phê duyệt.

Những yếu tố chính về vũ khí, khí tài, trang bị điện, thiết bị tuabin chính, nồi hơi và các máy móc hỗ trợ của nó không làm chậm việc thiết kế các đề án kỹ thuật và các bản vẽ đang được làm việc thậm chí tới giai đoạn thay đổi các thành phần của tàu trong thông tin liên qua tới yêu cầu tăng tốc độ của nó. Vì thế, trong những tháng đầu năm 1951, họ có thể chuyển sang lập tài liệu làm việc. Hàng loạt các mẫu máy móc hỗ trợ được chế tạo và tiếp nhận bởi các ủy ban liên bộ cuối năm 1950, nhờ sự phối hợp các giai đoạn thiết kế và chuẩn bị sản xuất. Trong chế tạo tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 vào cuối năm 1950 có sự tham gia của 45 tập thể các Viện nghiên cứu khoa học, Phòng thiết kế khí tài hàng đầu và các xưởng lớn: Izhorsk, viện kim loại Leningrad, Baltic, xưởng Novokramatorsk lắp ráp xe máy hạng nặng.

Từ tháng 1 năm 1951, theo quyết định của Bộ Quân đội – Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tập thể Phòng thiết kế Trung ương số 16 đã bắt đầu chuẩn bị gấp các tài liệu làm việc để đẩy nhanh việc bắt đầu đóng tàu tuần dương hạng nặng ngay lập tức trên 3 xưởng, không đợi sự nghiên cứu và phê duyệt đề án kỹ thuật. Mùng 4 tháng 6 năm 1951, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã phê duyệt đề án kỹ thuật 82. Ngày 14 tháng 11 cùng năm đã tiếp nhận mệnh lệnh của chính phủ về việc đóng tàu tuần dương hạng nặng thứ ba ở xưởng số 402 tại thành phố Molotovsk (hiện nay là Severodvinsk).

Theo đề án tàu tuần dương hạng nặng được phê duyệt sẽ có: 3x3 pháo SM-31 305mm trên các tháp pháo (tổng số đạn 720 phát bắn); 6x2 thiết bị pháo 130mm BL-109A (2400 phát bắn); 6x4 thiết bị pháo 45mm SM-20-ZiF (19 200 phát bắn) và 10x4 thiết bị pháo phòng không 25mm BL-120 (48 000 phát bắn). Trong thành phần hệ thống điều khiển bắn pháo gồm có đài ra đa định vị và khí tài quang học. Mỗi thiết bị tháp pháo trên tháp SM-31 trang bị trạm điều khiển bắn “More-82” và máy đo xa vô tuyến “Grot”, mỗi thiết bị BL-109A – máy đo xa vô tuyến “Sirius-B”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #509 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2012, 04:06:45 pm »

Đai bọc thép chính (dày 180mm) kéo dài theo thành tàu có góc nghiêng 15 độ và bảo vệ thành dưới boong giữa (giáp chính); chỗ hõm của mép trên mặt cắt giữa dưới vạch mớn nước là 1,7 mét. Các vách ngăn vuông góc của thành có độ dày 140mm (mũi) và 125mm (mạn), các tường buồng chiến đấu gần 260mm, nóc – 100mm. Các boong trong khu vực thành có độ dày: trên – 50mm, giữa – 75mm, dưới – 20mm. Tường đầu tháp pháo chính được bọc thép 240mm, tường bên – 225mm, nóc – 125mm, còn tường sau, đóng vai trò đối trọng, gồm có 3 tấm tổng độ dày 400-760mm. Giáp chống mìn (PMZ), phủ những khoang quan trọng của tàu (hầm đạn, các trạm chíh, buồng thiết bị năng lượng chính kéo dài theo thành tàu, gồm 3-4 vách ngăn dọc. Trong đó, tấm thứ 2 (dày 8…25mm) và thứ ba (50mm) có hình trụ, còn tấm đầu (8…15mm) và thứ 4 (15… 30mm) dạng phẳng. Các thể tích giữa các vách ngăn thứ 1 (2) và 3 được sử dụng để chứa nhiên liệu, theo phương pháp tiêu thụ thay thế bằng nước ngoài thành. Để tăng độ dài giáp bảo vệ theo chiều dọc trên vách ngăn chống mìn thứ 3 (bảo vệ chính) được treo bổ sung các tấm giáp dày từ 20 đến 100 mm.

Lần đầu tiên trong ngành đóng tàu nội địa, trên các tàu tuaafnd ương đề án 82 dự kiến bảo vệ đáy 3 lớp, thiết kế theo hệ thống dọc – ngang theo độ dài thành. Chiều cao của nó từ lớp bọc ngoài tới đáy thứ 3 là 2250mm. Lớp bọc ngoài được chế tạo từ thép (giáp) dày 20mm, đáy thứ 2 có độ dày 18mm, đáy thứ 3 – 12… 18mm.

Thiết bị năng lượng chính 4 trục (4 thiết bị tuabin răng cưa – GZTA công suất 70 000 sức ngựa và 12 nồi hơi chính sản lượng hơi nước 110 tấn/h, với các tham số hơi nước 66 atm và 460 độ C) đối với thời gian đó là mạnh nhất trên thế giới. Ở Mỹ, thiết bị năng lượng chính tương tự được tiếp nhận trên các tàu sân bay lớp “Kitty Hawk” và “John.F.Kennedy” chỉ gia nhập biên chế trong năm 1961-68.

Năm 1950, Bộ tổng tham mưu Hải quân, đề án hiệu chỉnh đã được thiết lập cho tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 mà theo đó dự kiến cho chỉ huy tàu cấp bậc Chuẩn đô đốc, cho cấp phó trợ lý về phụ trách công tác chính trị và chỉ huy tác chiến cấp 2 và cấp 5 – Thuyền trưởng cấp 1.

Về hình thức, sự khởi công tàu tuần dương đầu tiên “Stalingrad” diễn ra ngày 31 tháng 12 năm 1951 ở xưởng số 444 ở Nicolaev, mặc dù các khối đáy của tàu đã được lắp trên âu vào tháng 11. Tập thể xưởng đã thực hiện trách nhiệm xã hội chủ nghĩa trước thời hạn, gần kỷ niệm 36 năm tháng 10 (gần mùng 7 tháng 11 năm 1953), hạ thủy tàu. Tháng 9 năm 1952 trên sàn đóng “A” xưởng số 189 ở Leningrad đã khởi công tàu tuần dương hạng nặng thứ 2 – “Moskva”. Tháng 10 năm 1952 phòng phía bắc thuộc xưởng số 402 ở Molotovsk đã khởi công tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 thứ 3 - không có tên gọi riêng.

Tàu tuần dương “Stalingrad” được đóng nhanh hơn tất cả. Cuối năm 1952, các bên ký kết đã cung cấp tới tàu 118 mẫu trang bị lắp ráp: vũ khí, thiết bị tuabin nồi hơi, các thiết bị phát điện điện, diesel, các máy móc hỗ trợ, các tổ hợp trao đổi nhiệt, thiết bị trên tàu và trang bị, hệ  thống tự động và khí tài kỹ thuật.

Nhưng vào mùng 5 tháng 3 năm 1953, I.V.Stalin mất, và 18 tháng 4 năm 1953, đã có mệnh lệnh số 00112 của Bộ trưởng vận tảu mà lắp ráp xe máy hạng nặng I.I.Nosenko về dừng đóng toàn bộ 3 tàu tuần dương hạng nặng lớp “Stalingrad”. Cần biết rằng, quyết định nhày được đưa ra không phải bởi chính bộ trưởng, mà là từ người tiếp nhận vị trí lãnh đạo quyền lực cấp cao sau cái chết của Stalin. Toàn bộ rất nhanh chóng và lặng lẽ, không có những sự phản đối từ phía các Đô đốc và các nhà đóng tàu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM