daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #500 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 12:58:22 pm » |
|
Các công trình sư của tàu ngầm nguyên tử Tổng công trình sư: V.N.Peregudov (Phòng Thiết kế đặc biệt số 143). Phụ trách khoa học: A.P.Aleksandrov (Viện sĩ Viện năng lượng nguyên tử, giữ vai trò chỉ đạo các đề tài nguyên tử trong mọi Đề án tàu ngầm nguyên tử sau). Tổng công trình sư thiết bị nguyên tử: N.A.Dollezhal (Viện sĩ Viện nghiên cứu khoa học Khimash). Thiết bị tuabin hơi nước: M.A.Kazak (xưởng Kirov). Các lò phản ứng V.D.Maksimenko (xưởng luyện kim Gorki) I.I.Afrikantov (Phòng thiết kế thí nghiệm lắp ráp xe máy Gorki) Yu.I.Koshkin (Phòng thiết kế thí nghiệm lắp ráp xe máy Gorki) Trang bị điện A.V.Mozalevskyi (“Elektrosila”) Vô tuyến điện N.A.Charin (Viện nghiên cứu số 49) Trang bị hàng hải E.I.Eller (Viện nghiên cứu khoa học về biển số 1) Hệ thống thủy âm E.I.Aldưshkin (Viện nghiên cứu khoa học số 3) Sự hoàn nhiệt không khí V.S.Shpak (Viện Quốc gia hóa học thực hành) Kim loại (luyện kim) G.I.Kopưrin (Viện luyện kim và hàn) V.A.Gorưnin (Viện luyện kim và hàn) Kiến trúc của tàu K.K.Fedaevskyi (UAGI-?) V.I.Pershin (Viện nghiên cứu khoa học số 45) Vũ khí hạt nhân A.M.Borushko (Viện Nghiên cứu khoa học số 400).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #501 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 02:06:04 pm » |
|
Các thông số kỹ chiến thuật
Kích thước
Lượng choán nước
+ trên mặt nước: 3065 tấn
+ dưới nước: 4 750 tấn
Chiều dài: 107,4 mét
Chiều rộng: 7,9 mét
Lượng mớn nước: 5,56 mét
Vật liệu thân tàu: thép từ tính thấp
Các khoang trên tàu
+ ngư lôi
+ buồng điện, buồng cho người ở, buồng cho sĩ quan
+ trạm trung tâm
+ các máy hỗ trợ, máy phát điện diesel
+ lò phản ứng
+ tuabin
+ kỹ thuật điện, bảng điều khiển (kiểm soát) các lò phản ứng
+ các máy bổ sung, buồng cho người ở
+ các máy lái và trang bị hỗ trợ khác.
Thiết bị năng lượng
Dạng: thiết bị năng lượng nguyên tử kiểu VMA và biến thể với hay lò phản ứng chạy bằng nước
Số lượng: 2
Công suất
+ trên mặt nước: 15,2 hải lý
+ dưới mặt nước: 28 – 30 hải lý
Độ lặn sâu tối đa: 300 mét
Thời gian hoạt động: 50 ngày
Trang bị: 8 thiết bị ngư lôi 533mm (cơ số 20 ngư lôi)
Thủy thủ đoàn: 104 người (30 sỹ quan).
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Năm, 2011, 03:20:39 pm gửi bởi daibangden »
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #502 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 03:23:06 pm » |
|
 Sơ đồ tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm Đề án 627 (năm 1958) A – mặt bên; B- mặt cắt dọc 1, 2 – mạn tàu và buồng cho người ở 3, 4, 5, 6, 7 – các khoang điện cơ, tuabin, lò phản ứng, buồng điện (nạp điện) và ngư lôi 8 – trạm trung tâm 9 – buồng trang bị hỗ trợ  Dạng bên của tàu ngầm nguyên tử Đề án 627A Dạng bên tàu ngầm nguyên tử Đề án P-627A
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #503 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 06:59:55 pm » |
|
Đề án 651/651-K – tàu ngầm điện – diesel trang bị tên lửa có cánh (lớp Juliett – NATO) Các biến thể: + Đề án 651 – Đề án dòng tàu ngầm nội địa đầu tiên chạy bằng diesel – điện được đóng đặc biệt (năm 1963) + Đề án 651-K – biến thể tàu ngầm điện – diesel trang bị tên lửa đạn đạo với tổ hợp chỉ thị mục tiêu vũ trụ “Kasatka-B” (năm 1965) + Đề án 651-E – tàu ngầm thí nghiệm được trang bị thiết bị năng lượng nguyên tử hỗ trợ (năm 1985). Trong những năm 1960, sự tăng cường các lực lượng tàu ngầm Liên Xô nhằm chống lại các tàu nổi và xuống máy của địch, được thực hiện không thỉ bằng cách chế tạo các tàu ngầm nguyên tử, trang bị tên lửa chống tàu (tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 675), mà còn các tàu ngầm điện – diesel tên lửa. Thiết kế phác thảo của Đề án 651 là tàu ngầm điện – diesel loại lớn với trang bị tên lửa và nguồn điện ắc quy thép – bạc được phát triển trên cơ sở các Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng số 1149-592 và số 1190-610 trong các ngày 17 và 25 tháng 8 năm 1956 và các nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của Hải quân, được phê chuẩn ngày 28 tháng 1 năm 1957. Tàu ngầm Đề án 651 phải được trang bị các tên lửa có cánh P-5 để tấn công theo diện rộng và tên lửa chống tàu tự dẫn đường P-6 (cả hai được thiết kế tại Phòng Thiết kế thí nghiệm số 52). Tháng 5 năm 1968, đề án phác thảo thiết kế theo nhiệm vụ này đã được phê chuẩn và trên cơ sở của nó, thiết kế (đồ án) kỹ thuật được phát triển, và được phê chuẩn trong tháng 1 năm 1959. Đề án được phát triển ở Phòng Thiết kế Trung ương kỹ thuật Hải quân “Rubin” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư A.S.Kassatsier và cấp phó K.Z.Saravaiskyi, F.A.Sharova và S.E.Lipelis, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân là thuyền trưởng hạng 2 I.A.Kotsyubin. Việc phát triển bản vẽ thi công và các tàu liệu kỹ thuật được bắt đầu trong quý 1 năm 1959 và kết thúc trong quý 1 năm 1960. Việc kiếm tra sự bố trí toàn bộ trang bị trên tàu ngầm và thủy thủ đoàn được tiến hành trên mô hình ngoài trời. Các khoang số 1, 2 và 3 được chế tạo ở xưởng số 196; Khoang 4 và 5 – xưởng số 194; Khoang 6, 7 và 8 – trên xưởng đóng tàu Baltic. Sau đó, theo mệnh lệnh của lãnh đạo của Bộ công nghiệp đóng tàu, toàn bộ các tài liệu kỹ thuật theo Đề án 651 được chuyển về Phòng thiết kế Trung ương số 112 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu. Tàu ngầm Đề án 651 cũng như toàn bộ tàu ngầm Liên Xô trong thời gian đó có hai thân với sự phát triển kết cấu tương ngăn của mui tàu chắc và thượng tầng. Thân tàu vững chắc được tạo thành từ hình trụ đường kính 6900mm và 2 hình nón cụt trong phần cuối. Thân tàu được chia thành 7 khoang bằng các vách ngăn chống tràn nước phẳng ngang. Toàn bộ các vách ngăn được tính toán chịu được áp suất thí nghiệm 10kg lực/kv.cm từ 2 mặt. Các khung được lắp ở trong và ngoài thân tàu vững chắc. Để nâng và xếp các hệ thống chính, đã dự kiến khả năng cắt các tấm vật liệu và tổ hợp khung thân tàu với sự hàn nối tiếp các đầu mối. Mui tàu có hình ô van, còn nắp có dạng hình trụ tròn với sự tạo thành các mặt phẳng hướng tâm song song. Tải trọng dằn chính được bố trí trong 14 thùng. Hai trong số chúng số 4 và 11 là thùng trọng tải dằn khẩn cấp phục vụ việc khôi phục khả năng nổi của tàu khi mất độ kín của một thùng tên lửa từ mỗi cặp, còn 6 thúng (số 2, 3, 5, 6, 12 và 13) là thùng trọng tải dằn – nhiên liệu. Toàn bộ các thùng này đều chắc chắn và có van thông (kingston). Các thùng còn lại của trọng tải dằn chính, ngoài thùng số 1 được bố trí ở cuối mũi tàu và có van thông, hoạt động qua ống xả nước. Sự thông gió (thông hơi) của các thùng giữa buồng được chia riêng. Sự kiểm soát các van thông và van thông gió được điều khiển bằng cơ chế thủy lực thực hiện từ xa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #504 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2011, 07:04:02 pm » |
|
Hình vẽ màu và các hình vẽ mặt cắt tàu ngầm điện - diezel Đề án 651
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #505 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:10:49 pm » |
|
Sự thay thế khối lượng của các tên lửa đã được sản xuất được thực hiện bằng cách tiếp nhận nước trong các thùng đầy, nằm trong khoang số 2 và không gian giữa các thành trong khu vực bố trí các thùng mạn tàu. Nhiên liệu dự trữ tiêu chuẩn được bố trí trong 5 thùng nhiên liệu bên trong thân tàu và trong 6 thùng ngoài thành tàu, 2 trong số đó ở phần cuối (số 6 và 11), còn các thùng khác – trong bộ phận dưới của không gian giữa các thùng. Thiết kế thân tàu bên và bên ngoài được tính toán với yêu cầu phòng thủ chống hạt nhân.
Nỗ lực lớn phát triển thiết kế tổ hợp mạn tàu, phải được đảm bảo tốc độ di chuyển lớn và đồng thời có thể cấp độ tiếng ồn thấp của tàu ngầm.. Những khó khăn này bị làm trầm trọng thêm do tàu ngầm có động cơ điện chân vịt công suất mạnh (6000 sức ngựa), yêu cầu chân vịt có đường kính lớn trong khi tăng cường đường kính chân vịt lại giảm tốc độ tàu ngầm. Bên cạnh đó, các động cơ điện bánh lái phù hợp một cách khó khăn với đường kinh của thân tàu và hạn chế góc phát triển tuyến trục. Sau hàng loạt các thiết kế kiến trúc, phương án đã được lựa chọn, trong đó tiếp nhận việc lắp hướng cho các chân vịt, còn phần cuối của mạn tàu có dạng cấu trúc cho phép giảm thực tế chiều dài tàu ngầm. Các bánh lái được thiết kế để giảm tiếng ồn. Tổ hợp di chuyển được lựa chọn đã mang lại khả năng giảm đường kính của chân vịt đến độ lớn có thể tiếp nhận được và đồng thời tăng cường tốc độ di chuyển tối ưu (tiếng ồn khi đó ít bị tăng lên theo tốc độ).
Toàn bộ thiết kế thân tàu đảm bảo việc lặn đến độ sâu giới hạn, đòng thời các vách ngăn ngang, phẳng của thân tàu được làm từ thép AK-25 với giới hạn 60kg lực/kv.mm. Các thiết kế riêng được làm từ thép AK-27 với giới hạn 52kg lực.kv.mm. Trên 5 tàu ngầm đầu tiên, thân ngoài, các thùng bên ngoài, thiết bị ổn định và rào ngăm mui tàu được làm từ thép ít từ tính 45G17YuZ với giới hạn 40kg lực/kv.mm, trên các kết cấu còn lại sử dụng thép SKhL.
Trong giai đoạn khai thác sử dụng thép 45G17YuZ, các xưởng đóng tàu đã gặp phải những khó khăn rất lớn về kỹ thuật trong phần uốn và cắt thép. Việc này được giải thích rằng các tính chất vật lý của thép – tăng hệ số tuyến tính dẫn nhiệt thấp. Ngoài ra, nó gây khó khăn cho việc xử lý cơ khí. Toàn bộ đã dẫn tới khối lượng lớn công việc để uốn và chỉnh sử thiết kế hàn và sau đó dẫn tới sự tăng các công việc còn lại với chúng.
Thân ngoài của dòng tàu ngầm Đề án 651 được phủ bởi bề mặt chống ra đa định vị không cộng hưởng với các kênh dạng vành loa NPPRK-4D3. Nhưng trên 6 tàu đầu tiên không được phủ bề mặt này, vì đến thời điểm chế tạo chúng, công nghệ này chưa hình thành. Khi lắp màn che, lượng choán nước của tàu ngầm tăng từ 3174m3 lên 3300m3.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #506 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 05:55:38 pm » |
|
Thiết bị năng lượng của tàu ngầm Đề án 651 gồm các phần tử sau:
+ hai động cơ diesel chính 1D43 (xưởng Kolomen), 4 thì, 12 xilanh, với bơm tăng áp tuabin khí tăng áp, với lò phản ứng lắp chìm, không thuận nghịch, công suất 4000 sức ngựa, mỗi tuabin tốc độ quay 440 vòng/phút, và 1 động cơ diesel 1DL42 (đồng thời của xưởng Kolomen), 4 thì, 6 trục với sự tăng áp tuabin khí công suất 1720 sức ngựa khi quay 700 vòng/phút, được ghép đôi máy phát điện của dòng điện 1 chiều PG-142. Trên tàu ngầm được lắp hệ thống kiểm soát tự động từ xa (DAU), được sử dụng để kiểm soát các động cơ diesel, các khớp nổi khí nén – lốp và các van thoát khí và cung cấp không khí tới các động cơ diesel, bao gồm sự phát tín hiệu về các tham số hoạt động của các động cơ diesel và về vị trí của các khớp nối khí nén – lốp. Hệ thống kiểm soát tự động từ xa đồng thời khiểm soát các van thoát khí của thiết bị cho hoạt động của các động cơ diezel dưới nước (RDP) và đảm bảo việc khóa (phong tỏa) các động cơ diezel và động cơ điện lái chính trong sự hoạt động của chúng ở chế độ hoạt động của động cơ diezel dưới nước và bảo vệ các động cơ diezel theo hàng loạt các tham số giới hạn. Ngoài trạm kiểm soát tự động từ xa, các động cơ diezel còn được kiểm soát từ các trạm điều khiển tại chỗ, được bố trí trên mặt mút mũi các động cơ diezel. Hệ thống kiểm soát tự động từ xa làm đơn giản đáng kế sự bảo dưỡng động cơ diezel trong thời gian hoạt động và cho phép điều khiển các động cơ diezel bằng 1 người được bố trí ngoài khoang động cơ diezel. Điểm đặc biệt tiếp theo của thiết bị diezel là các ống thoát khí được làm từ hợp kim titan.
+ hai động cơ điện bánh lái chính PG-141, công suất mỗi động cơ 6000 sức ngựa (khi quay 500 vòng/phút), và 2 động cơ điện ở tốc độ tuần tra PG-140, công suất mỗi động cơ 200 sức ngựa (khi quay 155 vòng/phút).
+ các bình điện ắc quy kẽm – bạc kiểu 30/3, gồm 4 cụm theo 152 phần tử trong mỗi cụm. Cường độ tối đa của dòng điện phóng là 14 000A trong thời gian 1,5 giờ. Dung tích tối đa của chế độ phóng điện kéo dài là 30 000 Ampe- giờ khi dòng điện phóng 250A. Pin có thời gian sử dụng 35 – 40 chu kỳ hoặc 12 – 18 tháng theo thời gian. Để đảm bảo chế độ phóng điện tối đa, ắc quy kẽm- bạc được duy trì làm mát trong nước cất theo chu trình đóng kín. Ngoài ra, phần lớn dung lượng theo so sánh với ắc quy chì, ắc quy kẽm – bạc đạt được, trong trường hợp cần thiết, có thời gian nghỉ trong khi phóng, không cần nạp đầy và không yêu cầu nạp điện trong thời kỳ khai thác sử dụng dài hạn. Ắc quy có hệ thống kiểm soát từ xa trong hoạt động, đơn giản sự bảo trì đáng kể. Năm 1961, do Liên Xô không có số lượng bạc cần thiết, đã nhận quyết định về sự hạn chế tiếp nhận các ắc quy kẽm – bạc cho dòng tàu ngầm Đề án 651, còn sau đó, số lượng tàu ngầm với loại ắc quy giảm xuống 3. Trong các tàu ngầm còn lại lắp ắc quy chì kiểu 69SM-P (sản phẩm số 422) trong số lượng 448 phần tử (theo 112 phần tử trong mỗi nhóm). Cường độ dòng điện phóng tối đa của ắc quy này là 9000A trong thời gian 1 giờ, còn dung lượng tối đa trong chế độ phóng dài là 15 000A – giờ khi dòng điện phóng 250A.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #507 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 06:20:16 pm » |
|
Sự điều khiển các động cơ điện bánh lái được thực hiện với sự hỗ trợ của các lá chắn, có hệ thống làm mát bằng nước và đảm bảo sự đẩy, sự đảo chiều và toàn bộ các chế độ máy phát điện và động cơ dự kiến. Để duy trì độ sạch của nước cất làm mát, phụ thuộc vào sự cách ly của các lá chắn điều khiển động cơ điện bánh lái và các pin ắc quy, trong hệ thống làm mát bằng nước được lắp các máy lọc ion. Các pin ắc quy kẽm – bạc và làm mát bằng nước của lá chắn điều khiển các động cơ điện bánh lái được tiếp nhận trên các tàu ngầm đầu tiên của Liên Xô.
Trang bị chính của tàu ngầm Đề án 651 là tổ hợp tên lửa P-5 và P-6. Các thùng để bảo quản và phóng tên lửa được khóa cặp đôi và được bố trí trong một 1 khối ở mũi, còn khối khác được bố trí ở mạn tàu cách biệt bằng kết cấu tường ngăn ở mui.
Trang bị tên lửa của tàu theo giải pháp hệ thống và cấu tạo đảm bảo khả năng phóng đơn các tên lửa có cánh P-6 hoặc P-5 từ bất kỳ thùng phóng nào, như vậy, có thể thực hiện việc phóng loạt 4 theo thứ tự 4-1 và 3-2. Khi đó, loại trừ khả năng phóng các loại tên lửa khác nhau trong một lần nổi của tàu.
Để khởi động thùng, thùng phóng được nâng lên góc 15 độ. Sự nâng và hãm các thùng được thực hiện bằng bộ truyền động thủy lực. Khi đó, các xi lanh thủy lực được bố trí ngoài thân trong, được kết nối với hệ thống thủy lực tự động, còn các xi lanh thủy lực bố trí trong thân trong được kết nối với hệ thống thủy lực chung của tàu (việc này được thực hiện để ngăn chặn việc tràn nước biển vào hệ thống thủy lực chung của tàu và bảo vệ các hệ thống được hoạt động khỏi sự ăn mòn). Sự khởi động các tên lửa có cánh chỉ có thể trong điều kiện tiếp nhận theo thứ tự lần lượt toàn bộ các thao tác chuẩn bị trước phóng, trong đó theo sự nâng và hãm các thùng và mở toàn bộ nắp. Vì thế, trong các bảng điều khiển dự kiến được khóa, không cho phép thực hiện khi không thực hiện đủ dù chỉ là 1 thao tác. Hệ thống khởi động dự kiến trường hợp đẩy khẩn cấp khi tên lửa không hoạt động với sự hỗ trợ của động cơ đẩy. Tàu ngầm có khả năng lặn sâu trong bất kỳ giai đoạn chuẩn bị trước phóng nào của tên lửa sau khi đóng toàn bộ nắp các thùng phóng hoặc với sự mở của 1 nắp thùng phóng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #508 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:01:52 pm » |
|
Trong mỗi thùng phóng có:
+ hệ thống chữa cháy
+ hệ thống dẫn nước nội bộ
+ hệ thống phân tích khí của không khí trong thùng
+ hệ thống thông gió, thoát nước, làm sạch khí và đảm bảo áp suất không khí
+ hệ thống sưởi ấm
+ hệ thống thoát nước ngoài
+ các khí tài đo nhiệt độ và áp suất
+ các khí tài xác định cấp độ và sự xuất hiện của nước.
Việc bắn các tên lửa có thể được thực hiện chỉ trong vị trí trên mặt nước, khi nâng, hãm các thung phóng và mở nắp, khi tốc độ di chuyển của tàu ngầm là 8 hải lý và tình hình biển với sóng cấp 4. Trong các điều kiện tương tự, có thể thực hiện việc đẩy khẩn cấp tên lửa.
Hệ thống điều khiển của tổ hợp P-6 giải quyết các nhiệm vụ điều khiển bay của tên lửa và dẫn tên lửa tới mục tiêu với sự hỗ trợ của sự quan trắc bằng ra đa định vị, nằm trong các giới hạn về địa lý của vật mang (tên lửa), hoặc ngoài giới hạn. Trong trường hợp phát hiện một số mục tiêu, khả năng tấn công được thực hiện bằng cách bộ chọn truyền tải tới tên lửa có cánh tới mệnh lệnh về sự lựa chọn mục tiêu từ đài ra đa định vị của tàu ngầm.
Việc xác định phương hướng của mục tiêu và tầm xa tới nó cho tên lửa P-6 được tiến hành bằng khí tài cáp của hệ thống “Argumet” theo thông số, nhận được từ các khí tài trinh sát và từ các khí tài hàng hải của tàu ngầm. Ăng ten của hệ thống “Argument” được giới thiệu trong thực tế là thiết kế phẳng, diện tích 10km2 với bề mặt hình cầu 1,5 - 2 mét với nguồn bức xạ mang. Ăng ten này được bố trí trong bộ phận mũi của vách ngăn mui tàu trong cột trụ quay. Trong vị trí không hoạt động, ăng ten được đặt trong vách ngăn của mui bằng một vài thao tác tự động nối tiếp. Còn mũ chụp được lắm trong cùng trụ ở mặt sau của ăng ten, trong trường hợp này là phần đầu của vách ngăn mui. Kết cấu của khí tài quay ăng ten hoạt động một cách tin cậy trong các Đề án tàu ngầm tiếp theo.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #509 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2011, 04:10:37 pm » |
|
Để tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ bên ngoài cho tổ hợp tên lửa từ máy bay và trực thăng, tàu ngầm được trang bị hệ thống “Uspekh-U”.
Hệ thống điều khiển tổ hợp P-5: “Sever-A651U” – được sử dụng để điều khiển các tên lửa khi thực hiện cuộc tấn công vào các mục tiêu diện rộng. Để làm được việc này, tầm xa tới mục tiêu và các tham số cơ sở khác được nạp vào tên lửa. Tên lửa trong khi bay được điều khiển bằng thiết bị tự lái và bay trên độ cao gần 400 mét. Khi đó, trong các giới hạn vô tuyến ngang, quỹ đạo của nó được hiệu chỉnh từ thành tàu ngầm. Sau khi vượt qua được cự ly xác định bằng hệ thống quán tính và máy tính toán thời gian, tên lửa bổ nhào xuống mục tiêu từ trên cao. Khi bắn ở tầm xa tối đa (xấp xỉ 500km), xác suất lệch được tính toán gần 3000 mét.
Năm 1966, các tên lửa có cánh P-5 được rút khỏi trang bị của tàu ngầm Đề án 651 và chỉ còn giữ lại tên lửa P-6. Liên quan với các thông tin này, các tàu ngầm được rút khỏi trang bị cũng có liên quan đến tên lửa thuộc tổ hợp P-5.
Trang bị ngư lôi của các tàu ngầm Đề án 651 gồm có 6 thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi (không có ngư lôi dự trữ) và 4 thiết bị ngư lôi loại nhỏ 400mm ở cuối mạn tàu (với 8 ngư lôi dự trữ). Các thiết bị ngư lôi 533mm ở mũi được bố trí một cách song song theo mặt phẳng xuyên tâm, ở mạn tàu – dưới góc 3 độ tới mặt phẳng xuyên tâm của tàu ngầm. Thiết bị ngư lôi 533mm đảm bảo khả năng bắn bằng các ngư lôi điện và khí hơi, trong đó có 53-56, 53-67, 53-58 và SET-53 khối lượng 2200kg trên độ sâu gần 100 mét. Các thiết bị ngư lôi đảm bảo bắn các ngư lôi điện MGT-1 và MGT-2 trên các độ sâu 150 mét và các khí tài rải nhiễu “Anabar” trên độ sâu 250 mét. Bắt đầu từ K-156, trên các tàu ngầm đã được lắp khí tài nạp đạn cho các thiết bị ngư lôi 400mm ở mạn tàu. Sự nạp đạn được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bị truyền động điện với buồng tự động của các bàn trượt sau khi đặt ngư lôi lên các bộ hãm. Thời gian nạp đạn tổng của 4 thiết bị ngư lôi là gần 30 phút.
Trong quá trình đóng tàu ngầm Đề án 651, trên bộ phận của tàu ngầm, trong khoang số 2 được dự kiến lắp các giá để bảo quản ngư lôi 533mm với mục tiêu để trong thời chiến, trong một số điều kiện cần thiết, để có thể tiếp nhận 12 ngư lôi 533mm dự trữ cho các thiết bị ngư lôi ở mũi tàu thay cho 8 ngư lôi 400mm dự bị ở mạn tàu. Trong trường hợp đó, tổng số ngư lôi trên tàu ngầm tăng từ 18 lên 22 ngư lôi. Việc xếp các ngư lôi dự trữ 533mm lên tàu được thực hiện qua các thiết bị ngư lôi và các cửa đặc biệt ở vách ngăn giữa các khoang số 1 và 2. Các ngư lôi dự trữ chỉ được sử dụng để nạp trong 4 thiết bị ngư lôi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|