Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:47:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 372908 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #530 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 02:49:28 pm »


+ K-120, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-120 (số hiệu của xưởng 534). Khởi công ở xưởng “Krasnoe Sormovo” ngày 25 tháng 3 năm 1967; mùa hè năm 1968, theo các hệ thống nước ngầm tới cơ sở đóng nốt “Krasnoe Sormovo” tới Severodvinsk để tiến hành các thí nghiệm bàn giao; 26 tháng 12 năm 1968 gia nhập biên chế Hải quân; mùng 8 tháng 1 năm 1969 ghi tên trong biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; tháng 7 – 9 năm 1969 đã hoàn thành cuộc di chuyển xuyên căn cứ theo biển Bắc từ vịnh Engels tới Vladivostok; trong giai đoạn từ 16 tháng 2 năm 1973 đến 11 tháng 6 năm 1975 đã trải qua sửa chữa trung cấp ở xưởng “Dalzavod”; 25 tháng 7 năm 1977 phân loại lại thành tàu ngầm loại lớn; trong giai đoạn từ mùng 3 tháng 10 năm 1984 đến mùng 9 tháng 6 năm 1968 đã trải qua sửa chữa căn bản ở xưởng “Dalzavod”; 19 tháng 4 năm 1990 bị đưa ra khỏi danh sách chiến đấu và chuyển cho cơ sở khác để tận dụng; năm 1991 bị tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #531 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 03:16:44 pm »

Các thông số kỹ thuật chính


Lượng choán nước, tấn:

+ trên mặt nước: 3174

+ dưới nước: 3750

Các kích thước chính, mét:

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước): 85,9

+ chiều rộng nhất: 9,7

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước: 6,9

Thiết bị năng lượng chính: điện – diezel

+ 2 máy diezel 1D43, tổng công suất, sức ngựa (kW): 8000 (5800)

+ 2 động cơ diezel chính PG-141, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820)

+ 2 động cơ diezel chính trong hoạt động tuần tra PG-140, tổng công suất, sức ngựa (kW): 400 (294)

+ 1 máy diezel 1DL42 với máy phát điện PG-142l, công suất, sức ngựa (kW): 1720 (1264)

+ pin ắc quy 30/3 hoặc 60SM-P, số nhóm x số lượng phần tử: 4x152 hoặc 4x112

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý:

+ hoàn toàn trên mặt nước: 16

+ tốc độ tuần tra trên mặt nước: 8

+ dưới động cơ diezel trên mặt nước –

+ tốc độ hoàn toàn dưới nước: 18,1/14,5

+ tốc độ tuần tra dưới nước: 2,8

Tầm bơi xa, dặm (với tốc độ, hải lý):

+ trên mặt nước: 30 000 (Cool

+ dưới động cơ diezel trên mặt nước: 18 000 (7)

+ dưới nước: 810 (2,8)/27,8 (18,1) và 350 (2,8(/14,5 (14,5)

Độ lặn sâu, mét:

+ tiêu chuẩn: 240

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 90 ngày

Thủy thủ đoàn: 78 người (10 sỹ quan)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #532 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2011, 03:46:54 pm »


Trang bị vũ khí

Tên lửa tấn công:

+ thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-6 hoặc P-5D hoặc P-500: 4x1

+ tên lửa có cánh 4K88 (SS-N-3B “Sepal”) hoặc tên lửa có cánh P-5D (SS-N-3S “Shaddock”) (sau đó được tháo) hoặc tên lửa chống tàu P-500 “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”) (được lắp khi nâng cấp): 4

Ngư lôi:

+ thiết bị ngư lôi 533mm: với các ngư lôi 533mm: 53-56, 53-57, 53-58, SET-53: 6 thiết bị ở mũi tàu và 6 ngư lôi hoặc 18 (tăng cường)

+ thiết bị ngư lôi 400mm với các ngư lôi 400mm MGT-1, MGT-2: 4 thiết bị ở mạn tàu với 12 hoặc 4 (tăng cường)

Mìn (thủy lôi)

+ có thể mang theo mìn (thủy lôi) thay cho các ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện:

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

Đài ra đa định vị phát hiện tổng hợp: tổ hợp ra đa định vị RLK-101 (Snoop Slab)

Hệ thống thủy âm:

+ “Arktika-M” (Pike Jaw)

+ MG-10, dẫn đường

+ MG-15

+ MG-13, máy tìm phương định vị thủy âm

+ Máy đo sâu bằng tín hiệu dội: NEL-6

+ Máy đo độ sâu EL-1

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1 x “Argument” (Front Door) để cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh

+ 1 x “Uspex-U” để chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh

+ 1 x “Kasatka-B” (Punch Bowl) chỉ thị mục tiêu từ vũ trụ cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh chỉ đối với Đề án 651-K

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Nakat-M” (Quad Loop D/F)

+ “Van” (Stop Light) tác chiến điện tử

+ ARP-53 với đầu nổi KI-55 ra đa tìm phương vô tuyến

+ R-670 “Volna-K” R-309 ra đa trinh sát vô tuyến

Tổ hợp dẫn đường

+ “Sila N-651”

+ “Lira-P” đạo hàng thiên văn

Tổ hợp thông tin vô tuyến: thiết bị thông tin R-651, R-657, R-609M, 2 đài “Oniks-P”, R-676

Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom-M”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #533 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2011, 03:40:42 pm »

Tàu ngầm nguyên tử với các tên lửa đạn đạo lớp “Leninets” Đề án 667-A “Navaga” (lớp Yankee)


Các biến thể

+ 667 – thiết kế kỹ thuật đầu tiên với các thiết bị phóng tên lửa đạn đạo của tàu ngầm quay được (không được chế tạo, cuối những năm 1950)

+ 667-A “Navaga” (class Yankee-I) – Đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1967)

+ 667-AU “Nalim” – Đề án sản xuất hàng loạt với tổ hợp D-5U được hiện đại hóa (năm 1972)

+ 667-AM (class Yankee-II) – Đề án được trang bị tổ hợp D-11 với tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm nhiên liệu rắn (năm 1976)

+ 667-AT “Grusha” (Yankee Notch) – Đề án sản xuất hàng loạt với sự trang bị lại với thiết bị mang tàu tuần tra “Granat” (năm 1983 đến 1991)

+ 667-M “Andromeda” (Modified Yankee) – tàu ngầm thí nghiệm được trang bị lại thành thiết bị mang tàu tuần tra “Grom” (năm 1982)

+ 667-AK “Akson-1” (Yankee Pod) – tàu ngầm thí nghiệm, được trang bị lại thành thiết bị mang của đài thủy âm mới với tổ hợp anten lai dưới nước (PBA) (năm 1982)

+ 09780 “Akson-2” (Yankee Pod) – tàu ngầm nguyên tử Đề án 667-AK được nâng cấp (năm 1996)

+ 09774 (Yankee Stretch) – tàu ngầm đặc biệt mang tàu ngầm siêu nhỏ.

Năm 1958 ở phòng Thiết kế Trung ương số 18 (nay là Phòng Thiết kế kỹ thuật Hải quân Trung ương “Rubin”) dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư A.S.Kassatsier đã bắt đầu các công việc chế tạo tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa thế hệ thứ hai của Đề án 667. Tàu được dự kiến trang bị tổ hợp D-4 với các tên lửa đạn đạo khởi động dưới nước R-21. Phương án khác là trang bị cho tàu tổ hợp D-6 (sản phẩm “P”, Đề án “Neilon”) với các tên lửa nhiên liệu rắn được thiết kế ở Phòng Thiết kế Leningrad “Arsenal” từ năm 1958. Theo Đề án 677 ban đầu phải mang 8 tên lửa tổ hợp D-4 (hoặc D-6) bố trí trong các thiết bị phóng quay SM-95 được chế tạo ở Phòng thiết kế Trung ương số 34. Các thiết bị phóng đôi được bố trí bên ngoài lớp thân trong, theo thành tàu và trước khi phóng quay 90 độ, dựng thẳng. Việc thiết kế đề án phác thảo và kỹ thuật của tàu ngầm mang tên lửa được hoàn thành năm 1960. Tuy nhiên, thực tế, việc thực hiện thiết kế đã gặp khó khăn do độ phức tạp cao của các thiết bị phóng quay – phải làm việc dưới nước khi tàu ngầm đang di chuyển.

Năm 1961, đã bắt đầu phát triển bố cục mới, trong đó, các tên lửa D-4 và D-6 phải được bố trí trong các hầm thẳng. Tuy nhiên, một cách nhanh chóng các tổ hợp này đã xuất hiện sự thay thế tốt hơn – tên lửa đạn đạo nhiên liệu lỏng một tầng kích thước nhỏ R-27. Các công việc về tên lửa này được bắt đầu khởi xướng ở Phòng thiết kế đặc biệt số 385 dưới sự chỉ đạo của V.P.Makeev. Các kết quả nghiên cứu sơ bộ trong cuối năm 1961 đã được báo cáo cho chỉ huy Hải quân và lãnh đạo quốc gia. Chủ đề đã nhận được sự ủng hộ và ngày 24 tháng 4 năm 1962, đã được tiếp nối bằng Mệnh lệnh của chính phỉ về chế tạo tổ hợp D-5 với tên lửa R-27. Do kết quả của hàng loạt các giải pháp kỹ thuật căn bản của tên lửa đạn đạn mới, đã thành công trong việc “nhét” nó vào hầm theo thể tích thấp hơn 2,5 lần các hầm của tên lửa R-21. Khi đó, R-27 có tầm bắn xa hơn 1180km so với tên lửa cũ. Việc thết kế công nghệ tiếp liệu của các thùng tên lửa bằng các thành phần nhiên liệu với sự cắt sau đó của chúng trong xưởng chế tạo đã trở thành sự đổi mới mang tính cách mạng trong ngành chế tạo tên lửa.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #534 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2011, 03:43:49 pm »

Kết quả sự định hướng lại của Đề án 667 với tổ hợp tên lửa mới đã xuất hiện khả năng bố trí 16 hầm tên lửa ở lớp thân trong dạng thẳng đứng theo 2 hàng (như người Mỹ đã làm ở tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo lớp “George Washington”). Tuy vậy, cơ số đạn tên lửa cho 16 thùng phóng đã gây ra những khó khăn, như yếu tố chiều dài của bệ trong tầu ngầm phải được thiết kế theo cách tối ưu như với 16 hầm phóng của tổ hợp P-5. Tổng công trình sư có nhiệm vụ hoàn thiện tàu ngầm nguyên tử đề án 667-A (mã số “Navaga”) được giao cho S.N.Kovalev – người trên thực tế là nhà chế tạo toàn bộ các tàu nguyên tử mang tên lửa chiến lược của Liên Xô, giám sát viên chính từ Hải quân – thuyền trưởng hạng 1 M.S.Fadeev.

Khi chế tạo tàu ngầm Đề án 667-A, sự quan tâm lớn chú ý vào việc hoàn thiện hệ thống thủy – động lực của tàu. Việc thiết kế hình dáng của tàu đã thu hút được nhiều chuyên gia thuộc các trung tâm khoa học chuyên ngành, đồng thời chuyên gia thủy động lực học thuộc Viện thủy – động lực học Trung ương. Việc tăng cường cơ số đạn tên lửa yêu cầu giải quyết hàng loạt các nhiệm vụ mới. Đầu tiên là cần thiết tăng cường một cách mạnh mẽ tốc độ bắn, để kịp thời trong thời gian bắn loạt của tên lửa và di chuyển khỏi khu vực phóng để tránh các lực lượng chống ngầm của đối phương. Việc này phải được tiến hành đồng thời với sự chuẩn bị trước khi phóng của tên lửa khi phóng loạt. Nhiệm vụ có thể được giải quyết chỉ bằng kết quả tính toán tự động hóa toàn bộ các thao tác trước phóng. Tương ứng với những yêu cầu này đối với tàu ngầm Đề án 667-A dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư R.R.Belskyi đã triển khai các công việc chế tạo hệ thống kiểm soát thông tin tự động hóa nội địa đầu tiên “Tucha”. Các dữ liệu đầu tiên cho việc bắt phải được xử lý bằng máy tính điện tử chuyên dụng. Trang bị hàng hải của tàu ngầm mới phải bảo đảm cấp độ bơi và phóng tên lửa trong các vùng cực.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 667-A, cũng như các tàu nguyên tử thế hệ đầu tiên có dạng 2 thân (dự trữ nổi 29%). Phần cuối mũi tàu có dạng ô van. Phần cuối mạn tàu được thiết kế dạng bầu dục. Các bánh lái ngang trước được bố trí trong buồng được ngăn cách. Giải pháp này tương tự như với các tàu ngầm Mỹ được chế tạo có khả năng di chuyển ở độ sâu lớn với tốc độ thấp, đồng thời đơn giản hóa hoạt động của tàu ở độ sâu cần thiết khi bắn loạt tên lửa. Cánh đuôi mạn tàu được thiết kế dạng hình chữ thập.

Phần thân trong với các khung ngoài có mặt cắt hình trụ và đường kính lớn một cách tương đối – 9,4 mét. Thân trong được chế tạo, cơ bản từ thép AK-29 (độ dày – 40mm) và được phân chia thành các vách ngăn kín nước (chịu được áp lực 10kg lực/cm2) và thành 10 khoang:

+ ngư lôi (1)

+ ắc quy và khu người ở (với các khoang cho sỹ quan) (2)

+ khoang bố trí trạm trung tâm, bảng điều khiển thiết bị năng lượng chính (3)

+ tên lửa (4)

+ tên lửa (5)

+ máy phát điện diezel (6)

+ lò phản ứng (7)

+ tuabin (8 )

+ tuabin (9)

+ khoang bố trí các động cơ điện (10)

Các khung của thân trong được chế tạo từ thép hình chữ T theo cách hàn đối xứng, vách ngăn giữa các buồng – thép AK-29 dày 12mm. Thân nhẹ được chế tạo từ thép YuZ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #535 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2011, 04:42:31 pm »


Trên tàu lắp khí tài khử từ mạnh, đảm bảo sự ổn định với môi trường từ. Ngoài ra, các phương pháp được tiếp nhận theo sự giảm từ trường của thân nhẹ, các thùng ngoài của thân trong, sự ngăn cách với các thiết bị di động, bánh lái và các bộ phận nhô ra ngoài thân tàu khác. Để giảm điện từ cho tàu, lần đầu tiên tiếp nhận hệ thống trường bù đắp được tạo thành từ cặp mạ điện “bánh lái – thân tàu”.

Thiết bị năng lượng chính có công suất 52 000 sức ngựa, gồm có 2 khối nguyên tử ở thành bên trái và bên phải. Mỗi khối gồm có các lò phản ứng nước VM-2-4 (công suất 89,2 MW), thiết bị tuabin hơi nước OK-700 với tổ hợp tuabin răng cưa TZA-635 và máy phát điện tuabin với bộ phận truyền động tự động. Có các thiết bị năng lượng bổ sung, phục vụ cho việc khởi động và làm mát thiết bị năng lượng chính, trang bị cho tàu ngầm bằng nguồn điện trong trường hợp khẩn cấp, đồng thời bảo đảm trong trường hợp cần thiết di chuyển dưới nước. Trong thành phần thiết bị năng lượng hỗ trợ có 2 máy phát điện diezel 1 chiều DG-460, 2 cụm pin ắc quy axit – chì (112 bộ 48-SM theo mỗi cụm) và 2 động cơ điện bánh lái đảo chiều PG-153 (225kW). Trong ngày tiếp nhận vào trang bị, tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo Đề án 667-A đầu tiên (trên thành tàu có sự có mặt của tổng công trình sư) ở vòng quay tối đa của tuabin đã đạt tốc độ 28,3 hải lý, vượt 3,3 hải lý so với nhiệm vụ đặt ra. Như vậy, theo các thông số động lực, tàu ngầm tên lửa mới thực tế có thể so sánh với các đối thủ tiềm năng trong “cuộc đấu tay đôi dưới nước” – các tàu nguyên tử chống ngầm của Mỹ lớp “Tresher” và “Sterdzhen” (29-30 hải lý).

Hai chân vịt bánh lái có độ ồn thấp hơn so với các tàu ngầm thế hệ trước. Để giảm khả năng bị các thiết bị thủy âm phát hiện, trên bệ dưới của các động cơ chính và bổ sung được phủ một lớp cao su chống rung. Thân trong của tàu ngầm được phủ một lớp cao su cách âm, còn trên thân nhẹ có sự bao phủ cao su chống thủy âm và cách âm không cộng hưởng.

Trên tàu ngầm Đề án 667-A, lần đầu tiên tiếp nhận hệ thống năng lượng điện xoay chiều điện thế 380 V, được cung cấp điện không chỉ từ máy phát điện nguyên tử. Việc này tăng cường độ tin cậy của hệ thống năng lượng điện, tăng cường thời gian hoạt động mà không cần sửa chữa và bảo dưỡng, đồng thời mang lại khả năng truyền tải điện thể để đảm bảo các yêu cầu khác nhau trên tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #536 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2011, 04:53:11 pm »

Các bản vẽ Đề án 667-A:



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #537 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2011, 04:55:51 pm »

Hình vẽ tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo Đề án 667-A:


(Hình cuối về các khoang của tàu ngầm em đã viết ở bài trước. Còn phần giới thiệu thông số kỹ thuật của tàu, em viết sau Grin)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #538 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2011, 02:52:51 pm »

Tàu ngầm tuần dương nhận hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu (BIUS) “Tucha” – hệ thống tự động đa chức năng nội địa đầu tiên cho tàu chiến, đảm bảo sự tiếp nhận vũ khí tên lửa và ngư lôi. Ngoài ra, “Tucha” còn thu nhận và xử lý các thông tin về môi trường (tình trạng) xung quanh, đồng thời giải quyết các nhiệm vụ hàng hải (dẫn đường). Để ngăn chặn bị sụt ở độ sâu lớn, có khả năng dẫn đến tai nạn (như đã được cho rằng việc này là nguyên nhân gây ra tai nạn của tàu ngầm nguyên tử Mỹ “Tresher”), trên tàu ngầm nguyên tử tên lửa đạn đạo Đề án 667-A, lần đầu tiên đã thực hiên lắp hệ thống tổ hợp điều khiển tự động, đảm bảo, chi tiết là sự điều khiển tàu lập trình theo hướng và độ sâu, đồng thời giữ ổn định theo độ sâu khi không di chuyển.

Khí tài thông tin cơ sở của tàu ngầm ở dưới nước là tổ hợp thủy âm “Krech”, phục vụ cho việc chiếu sáng môi trường dưới nước, cung cấp thông tin chỉ thị mục tiêu khi bắn ngư lôi, đồng thời rải mìn (thủy lôi), thông tin và phát hiện các tín hiệu thủy âm của địch. Đài, được thiết kế dưới sự chỉ đạo tổng công trình sư M.M.Magida và làm việc trong các chế độ tiếng vang và sự định hướng âm, có tầm phát hiện mục tiêu từ 1 đến 20km.

Các khí tài thông tin liên lạc gồm có đài ra đa các tần số trung bình, bước sóng ngắn và siêu âm. Tàu được trang bị ăng ten dạng phao tiêu “Pravan”, cho phép tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu và các tín hiệu của hệ thống dẫn đường vệ tinh, ở độ sâu 50 mét. Điểm mới quan trong là sự tiếp nhận (lần đầu tiên trên thế giới trong các tàu ngầm) các khí tài bảo mật thông tin (ZAS), đảm bảo sự số hóa thông tin tự động, được truyền tải theo tuyến “Integral”. Trong thành phần trang bị vô tuyến điện cho máy đáp của đài ra đa định vị “bạn – thù”, “Khrom-KM” (lần đầu được lắp trên tàu ngầm), đài ra đa định vị “Albatros” và đài ra đa định vị tìm kiếm “Zaliv-P”.

Trang bị cơ sở của tàu ngầm nguyên tử Đề án 667-A là 16 tên lửa đạn đạo nhiên liệu lỏng 1 tầng R-27 (số hiệu của Cục pháo binh – tên lửa là 4K10, tên gọi theo hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược là RSM-25, tên gọi theo phương Tây – SS-N-6 “Serb”) với tấm bắn tối đa 2500km, được lắp trong hầm thẳng theo hai hàng phía sau buồng ngăn cách. Khối lượng khởi động của tên lửa là 14,2 tấn, chiều dài – 9,56 mét, đường kính thân – 1,5 mét. Khối lượng đầu đạn 650kg, công suất 1 megaton, độ nghiêng xác suất vòng tròn (sai số) – 1,3km. Các hầm tên lửa cao 10,1 mét và đường kính 1,7 mét, được thiết kế có độ bền đều với thân tàu ngầm, bố trí trong các khoang số 4 và số 5. Để phòng ngừa tai nạn khi dẫn nhiên liệu lỏng tới hầm trong khi tên lửa không được làm kín có hệ thống tưới nước tự động, phân tích khí và hỗ trợ khí hậu vùng nhỏ (vi khí hậu) trong các tham số quy định cho trước.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #539 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2011, 03:08:51 pm »

Việc phóng tên lửa được thực hiện từ các hầm ngập nước chỉ khi tàu ở dưới nước, khi sóng biển cấp 5. Đầu tiên, việc bắn được tiến hành bằng 4 loạt phóng lần lượt 4 tên lửa. Tốc độ giữa mỗi lần phóng là 8 giây: các tính toán đã chỉ ra rằng theo phương pháp bắn tên lửa này, tàu ngầm sẽ nổi lên dẫn và sau khi khởi động tên lửa thứ 4 của loạt, phải rời khỏi “hành lang” khởi động tên lửa cho phép. Sau mỗi loạt phóng, yêu cầu gần 3 phút để đưa lại tàu đến độ sâu quy định (trước phóng). Giữa các loạt thứ 2 và thứ 3 cần khoảng thời gian 25 – 30 phút để bơm nước từ các thùng của khoe hở vòng tròn đến hầm tên lửa, đồng thời cho độ mớn nước của tàu. Tuy nhiên, những lần bắn thật đã xuất hiện khả năng thực hiện loạt phóng 8 tên lửa đầu tiên. Lần đầu tiên trên thế giới, sự phóng loạt này được thực hiện vào 19 tháng 12 năm 1969. Độ lớn phạm vi bắn của tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 667-A là 20 độ, chiều rộng (vĩ độ) của điểm khởi động phải không quá 85 độ.


Trang bị ngư lôi của tàu ngầm gồm 4 thiết bị ngư lôi mũi 533mm, đảm bảo độ sâu tối đa khi bắn 100 mét, đồng thời 2 thiết bị ngư lôi mũi 400mm với độ sâu giới hạn 250 mét. Các thiết bị ngư lôi được trang bị các hệ thống nạp đạn nhanh và điều khiển từ xa bằng điện.

Các tàu ngầm Đề án 667-A trở thành các tàu tên lửa đầu tiên nhận vũ khí tổ hợp tên lửa phòng không mang vác (PZRK) kiểu “Strela-2M”, được sử dụng cho việc tự vệ của tàu ở dưới nước khỏi các máy bay và trực thăng tầm thấp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM