Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:20:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330127 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #40 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 04:55:40 pm »

Đề án 659 (Echo – I class)


Các biến thể

+ 659 (Echo-I class) – đề án cơ sở đóng loạt với tên lửa có cánh P-5 (năm 1960)

+ 659-T (Modified Echo-I class) – tàu ngầm được trang bị lại thành tàu ngư lôi (năm 1965).

Số lượng tàu đã được đóng: 5+1.

Trong những năm 1950, các tên lửa đạn đạo được các lãnh đạo quân sự Liên Xô xem như một loại vũ khí “tuyệt đối”, không có khí tài nào có thể chống lại. Trong cùng thời gian đó, các tên lửa có cánh có tính năng gần với thông số của các máy bay phản lực thế hệ thứ nhất, theo lý thuyết có thể bị bám bắt bởi các khí tài phòng không. Nhưng theo so sánh với các tên lửa đạn đạo có cánh có hàng loạt các ưu điểm – được thiết kế tốt theo thiết kế truyền thống, hơn là so với tên lửa đạn đạo về khối lượng, thấp hơn về giá cả.

Năm 1955, trong trang bị của Hải quân Mỹ đã tiếp nhận tên lửa có cánh “Regulus 1”(tầm bắn tối đa 400km), mà để mang nó, tàu ngầm điện – diesel lớp “Tunny” (lớp “Balao) được trang bị lại. Việc khởi động tên lửa tốc độ cận âm được thực hiện từ vị trí nổi trên mặt nước. Việc sử dụng hệ thống mệnh lẹnh vô tuyến dẫn bắn đã thu hút các tàu nổi chuyên dụng hoặc tầu ngầm – các khí tài đảm bảo sự dẫn bắn tên lửa tới hành trình cuối quỹ đạo. Khi đó, chỉ có thể bắn phá các mục tiêu nằm ở tầm xa không lớn từ bờ biển. Tất cả những vấn đề này đã hạn chế rất lớn khả năng chiến đấu của tổ hợp tên lửa Mỹ. Kết quả là năm 1958, tên lửa có cánh “Regulus 1” bị loại khỏi biên chế.Các công việc về chế tạo tên lửa có cánh siêu âm hiện đại hơn “Regulus 2” cũng bị chấm dứt.

Tuy nhiên, ở Liên bang Xô Viết, các tên lửa có cánh thuộc Hải quân có một vài tiến triển khác biệt. Trong nửa sau những năm 1950, loại vũ khí này được đánh giá là đủ triển vọng. Đối với trang bị của các tàu ngầm với các tên lửa có cánh thuộc Đề án P-627A và 653 trong Phòng thiết kế - thí nghiệm của S.B.Ilyushin đã chế tạo tên lửa siêu âm P-20. Tuy nhiên, các thí nghiệm bố trí tên lửa có cánh trên tàu theo quan điểm truyền thống với giáp pháp các nhiệm vụ thiết kế dẫn tới rằng khí tài phóng của các tàu ngầm nhận được sẽ rất nặng và công kềnh. Do đó, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh chỉ có thể mang từ 1 đến 2 tên lửa.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:00:48 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 05:32:11 pm »

Hướng khác được đề xuất bởi V.N.Chelomen, đã giới thiệu việc bố trí một cách tương đối tên lửa có cánh hạng nhẹ với các cánh cấu thành trong thùng phóng. Việc này có triển vọng nhờ sự chế tạo hệ thống tự động mở cánh độc đáo, được triển khai sau khi tên lửa rời khỏi thùng phóng. Kết quả là rút ngắn và đơn giản hóa quá trình phóng một cách đáng kể. Ngoài ra, cũng xuất hiện khả năng tăng cương cơ số đạn tàu ngầm lên một vài lần trong khi vẫn duy trì lượng choán nước. Bộ Tư lệnh Hải quân và Tư lệnh Quân chủng Hải quân mới – S.G.Gorshkov đã tỏ ra quan tâm tới đề xuất này, kết quả là đã tiếp nhận quyết định của Nhà nước về việc thành lập ở Reutov – ngoại ô Moskva dưới sự chỉ đạo của V.N.Chelomen tại Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52 về việc chế tạo tên lửa có cánh P-5 với tầm bắn 350km (mệnh lệnh từ 19 tháng 6 năm 1955).

Lần phóng đầu tiên của P-5 vào ngày 12 tháng 3 năm 1957 với bệ lắc SN-49 ở biển Trắng, còn ngày 19 tháng 6 năm 1959, tên lửa đã được tiếp nhận chính thức vào trang bị. Lúc đầu, nó được trang bị cho tàu ngầm diesel Đề án 644 và Đề án 665 (mang được một cách tương ứng 2 và 4 tên lửa). Tuy nhiên, để tiêu diệt mục tiêu đáng tin cậy hơn trên lãnh thổ Mỹ - có bố trí các lực lượng chống ngầm mạnh, cần phân bố một cách hợp lý vũ khí tên lửa chiến lược ở khu vực ít nguy hiểm hơn so với tàu ngầm điện – diesel. Ở đây, giải pháp sử dụng phương tiện mang vũ khí chiến lược là các tàu ngầm nguyên tử.

Việc thiết kế đồ án kỹ thuật tàu ngầm mang tên lửa Đề án 650 với tên lửa có cánh  P-5 được thực hiện trong sự tương ứng với mệnh lệnh Nhà nước từ 26 tháng 8 năm 1956. Tổng công trình sự của Đề án lần lượt là P.P.Pustưntsev, sau đó là N.A.Klimov. Giám sát viên từ Hải quân được giao cho Yu.S.Volfson. Các công việc đồng thời với “các tàu ngầm nguyên tử chiến lược” (với các tên lửa có cánh và tên lửa đạn đạo) trong cùng một phòng thiết kế được dự kiến ở cấp độ đồng nhất cao nhất với giải pháp kỹ thuật tổng thể của tàu. Trong đó, Đề án 658 cũng như Đề án 659 được phát triển từ tàu ngầm nguyên tử ngư lôi Đề án 627.

Tàu ngầm có thiết kế hai thân. Thân trong có đường kính 6,8 mét được chia thành 10 khoang không thấm nước. Thiết kế đảm bảo tính không chìm trên mặt nước khi bị ngập nước trong bất kỳ khoang nào.

Tàu trang bị thiết bị năng lượng chính công suất tiêu chuẩn 35 000 sức ngựa gồm 2 lòa phản ứng nước VM-A (2x70 mW). Có hai nhóm pin ắc quy gồm 112 phần tử, 2 động cơ điện PG-116 (2x140 sức ngựa), 2 máy phát điện tuabin GPM-21 và 2 máy phát điện diezel dự bị một chiều PG-117.

Trang bị thủy âm gồm có các đài MG-200 “Arktika”, máy định hướng âm MG-15, đài phát hiện luồng sáng thủy âm MG-31 và hàng loạt các khí tài khác.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #42 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 06:25:32 pm »

Trang bị tên lửa của tàu gồm 6 tên lửa có cánh P-5. Các tên lửa được trang bị đầu đạn hạt nhân, được đồng nhất với đầu đạn của tên lửa đạn đạo R-11FM (ban đầu, công suất của đầu đannj là 200 kiloton, sau đó tăng lên 650kt). Tên lửa có cánh trên tàu ngầm được vận chuyển trong các thùng kín (đường kính 1,65 mét, dài 12 mét) được làm đầy bằng ni-tơ. Các thùng phóng tên lửa được khóa kẹp đôi trong ba khối. Mỗi khối các thùng phóng được nâng lên góc khởi động 15 độ bằng cách quay trên trục thân cố định, bên trong bố trí hệ thống liên lạc kết nối tên lửa và thùng phóng với tàu ngầm và đồng thời với các khí tài, đảm bảo các tham số cần thiết của vi khí hậu trong thùng. Trước khi phóng, các thùng được nâng lên góc phóng, cố định bằng các bộ hãm, hai nắp (đằng trước và sau) được mở ra. Sự nâng thùng được thực hiện bằng thiết bị nâng thủy lực, bố trí trong các khoang số 2, 6 và 7 của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh. Toàn bộ các thùng được nâng sau 140 giây, nắp được mở ra trong khoảng thời gian 20 – 25 giây. Loạt phóng 6 tên lửa có thể được thực hiện trong thứ tự xác định (6-3-2-5-4-1), ở đó, các thùng phóng số 1 và 2 bố trí ở khối mũi, 3-4 ở khối giữa và 5-6 ở phần mạn tàu.


Các tên lửa có cánh được đưa vào tàu ngầm trong trạng thái được nạp đầy nhiên liệu với việc lắp đầu đạn và mắc các động cơ khởi động. Việc bắn được thực hiện theo góc phương vị bằng với hướng của tàu ngầm và chỉ có thể thực hiện từ vị trí nổi khi sóng biển cấp 4-5 và tốc độ 8 hải lý. Thời gian sau khi nổi của tàu ngầm tới khi phóng tên lửa đầu tiên gần 4 phút, thời gian chuẩn bị phóng toàn bộ 6 tên lửa có cánh mất khoảng 12,5 phút. Sự chuẩn bị khởi động được thực hiện từ xa, từ bàn điều khiển, bố trí trong khoang thứ nhất của tàu ngầm. Sau khi mở nắp sau của thùng phóng, khí xả tràn vào ống dẫn thoát khí bố trí đằng sau thùng phóng. Thiết kế đầu tiên của các ống dẫn này đã chỉ ra sự không hiệu quả - các động cơ chính của tên lửa ở mạn khi phóng, khí thải của tên lửa ở mũi đã đã đông đặc, dẫn tới sự mất ổn định – các động cơ không hoạt động được. Sự làm kín các ống dẫn thoát khí được thay thế bằng cách này, để luồng khí thoát ra hướng xa hơn nữa khói tên lửa khởi động, rằng cùng với sự mô tả cao hơn bằng trình tự khởi động tên lửa và đảm bảo sự tin cậy trong loạt phóng 6 tên lửa. Đài ra đa định vị điều khiển bắn tên lửa “Sever” được bố trí trong ống xả đặc biệt trong vách ngăn mui tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh. Đối với sự điều khiển tên lửa, trong hành trình chủ động (tới khi tên lửa bổ nhào tới mục tiêu), tàu phải nổ và tất nhiên là, tàu ngầm phải ở trong trạng thái được ngụy trang.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #43 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 06:26:37 pm »

Bản vẽ thiết kế và hình vẽ tàu ngầm Đề án 659





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #44 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 08:24:27 pm »

Trang bị ngư lôi của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 659 gồm có 4 thiết bị ngư lôi ở mũi 533mm (cơ số đạn: 8 ngư lôi SET-53M và 53-6, khả năng năng bắn ở độ lặn sâu tối đa – 100 mét), đồng thời 4 thiết bị ngư lôi 400 – 2 ở mũi và 2 ở mạn (cơ số đạn: 4 ngư lôi, độ lặn sâu bắn tối đa – 240 mét).


Đối chiếu các tính năng “chủ lực” của tàu ngầm Đề án 659 và khả năng của các khí tài phòng không của đối thủ tiềm tàng chủ yếu – Mỹ, nhận thấy, rằng tên lửa P-5 có cơ hội rất lớn trong việc tiêu diệt các mục tiêu có ý nghĩa lớn ở nước ngoài trong những năm 1950 – 1960. Tổ hợp tên lửa phòng không phòng thủ khu vực hiện đại nhất của Mỹ trong thời điểm đó là “Nike Hercules” có thể chống lại các mục tiêu trên không bay ở độ không dưới 1,5km, còn tổ hợp tầm cao – thấp “Hawk” có tầm bắn xa, không quá 18km, chỉ cho phép che phủ một số lượng rất hạn chế các công trình (mục tiêu). Rất ít các khí tài có thể đối phó được với tên lửa P-5, đó là các máy bay tiêm kích của Không quân Mỹ, chủ yếu trong thời gian đó là máy bay cận âm, không có khả năng chống lại các mục tiêu bay ở độ cao vài trăm mét với tốc độ âm thanh. Các máy bay tiêm kích siêu âm thế hệ thứ hai: F-101B, F-102, F-104 và F-106 bắt đầu gia nhập trang bị Không quân Mỹ trong cuối những năm 1950 chỉ có thể bắn cháy các mục tiêu trên không bằng tên lửa mà chúng mang theo ở tầm cao và tầm trung, có nghĩa là các máy bay này một cách tương đối “không gây nguy hiểm” cho P-5.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #45 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 09:04:22 pm »

Các biến thể


Sự hiện đại hóa được dự báo trước của các khí tài phòng không đặt ra yêu cầu tăng cường các khả năng chiến đấu của tên lửa có cánh. Tuy nhiên, điểm yếu mang tính nguyên tắc của các tên lửa có cánh do Chelomen thiết kế - khởi động nổi, đã làm tăng đáng kể khả năng bị thương của tàu mang tên lửa – đã không được khắc phục thành công. Kết quả là năm 1964 đã quyết định chấm dứt đối với các tên lửa chiến lược có cánh, sự có mặt của chúng trong trang bị của các tàu ngầm chỉ trong vài trò vũ khí hạng 2, chỉ bổ sung thêm tên lửa chống tàu cấp chiến dịch P-6 cũng được thiết kế ở Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52.

Do không có khả năng kỹ thuật để trang bị lại cho các tàu ngầm nguyên tử Đề án 659 tổ hợp tên lửa chống tàu mới, đã quyết định trang bị lại các tàu ngầm này thành tàu ngầm ngư lôi. Từ tháng 8 năm 1965, đến cuối năm 1969, toàn bộ các tàu được làm lại thành tàu ngầm nguyên tử ngư lôi theo Đề án 659-T ở xưởng chữa tàu ở Đá Lớn (Bolshoi Kamen) dưới Vladivostoc. Đề án được thực hiện ở Phòng thiết kế Trung ương số 18 (Tổng công trình sư O.Ya.Margolin). Vũ khí tên lửa trên tàu được tháo bảo, cắt thân ngoài được hàn, chiều cao thượng tầng giảm, còn ăng ten của đài ra đa định vị điều khiển bắn tên lửa “Sever” và các khí tài điều khiển tên lửa chống tàu có cánh được tháo bỏ. Đồng thời, tăng cường trang bị vũ khí ngư lôi cho tàu bằng cánh giải phóng không gian các khí tài điều khiển bắn tên lửa. Cơ số đạn gồm 16 ngư lôi 533mm và 8 ngư lôi 400mm. Đài thủy âm hiện đại “Arktika-M” được lắp.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #46 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2012, 10:39:27 pm »

Chương trình đóng tàu

Ngày 19 tháng 10 năm 1957, tại viện Đuma Quốc gia, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã xem xét quá trình xây dựng hạm đội tàu ngầm tên lửa Liên Xô. Kế hoạch đóng tàu ngầm đã được phê duyệt và tương ứng với đó, tới năm 1961, dự kiến bàn giao cho Hải quân 32 tàu ngầm với tên lửa có cánh P-5. Việc tiếp tục đóng các tàu mang tên lửa này nằm trong kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (1961 – 1965). Việc đóng tàu được triển khai ở Komsomol – na – Amur (tàu ngầm mang tên lửa có cánh Đề án 659 trở thành các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên được đóng ở Viễn Đông). Tàu đầu tiên – K-45 – được khởi công ngày 28 tháng 12 năm 1957, hạ thủy ngày 12 tháng 5 năm 1960, còn biên bản tiếp nhận nó được ký ngày 28 tháng 6 năm 1961.

Sau tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh nội địa đầu tiên lần lượt là K-59 gia nhập Hải quân mùng 10 tháng 12 năm 1961; K-66 (mùng 10 tháng 12 năm 1961); K-122 (13 tháng 4 năm 1962) và K-259 (tháng 12 năm 1962). Tàu ngầm thứ 6 thuộc Đề án 659 – K-30 – được khởi công năm 1961, nhưng nhanh chóng bị tháo dỡ trên sân đóng tàu.

Trình trạng đến năm 2007

Tàu ngầm tên lửa đầu tiên K-45 thuộc Đề án 659 đã trải qua các thí nghiệm năm 1961 một cách thành công - hoàn thành chuyến tự bơi dài. Trong quá trình thí nghiệm, tàu đã trải qua 7073 dặm, trong số đó 2569 – trong vị trí dưới nước. Tàu gia nhập biên chế sư đoàn 26, trở thành đơn vị đầu tiên của Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương được trang bị tàu ngầm nguyên tử. Sau đó lần lượt là K-59, K-66, K-122 và K-259.

Các tàu ngầm tên lửa Đề án 659 đã có thời gian phục vụ tương đối ngắn trong Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương.Trong đó, tầm bắn của các tên lửa mà chúng mang theo hướng đến các mục tiêu ở bờ biển phía Tây nước Mỹ (ở đó, cụ thể, có các xưởng máy bay lớn của hãng Boeing ở Seattle và các công trình công nghiệp quan trọng khác, các trung tâm quân sự và hành chính), Hawai, Nhật Bản, đồng thời kênh đào Panama. Có thể, các tàu ngầm Đề án 659 đã được xem xét như là những tàu ngầm triển vọng đối với trang bị của Hải quân Trung Quốc non trẻ (tuy nhiên, sự đóng băng trong quan hệ Xô – Trung vào đầu những năm 1960 trong thời gian vài chục năm đã phá vỡ sự hợp tác quân sự - kỹ thuật giữa hai cường quốc).

Mùng 6 tháng 5 năm 1966, khi K-66 trong căn cứ đang nạo điện ắc quy đã xảy ra đám cháy ở khoang tuabin. Việc dập lửa với sự hỗ trợ của hệ thống VPL-52 không mang lại kết quả. Ống dẫn đã được cung cấp từ tàu “PUS-4” qua cửa khoang số 8 để dập lửa, làm lạnh vách ngăn của khoang tuabin. Kết quả là đám cháy đã làm hỏng bảng điều khiển thiết bị tuabin chính của hai bên thành, các dây cáp động lực và các khí tài khác. Nguyên nhân xuất hiện đám cháy có thể là sự ăn mòn các bánh khởi động với mâm hoàn nhiệt RP-46, bảo vệ hàng rào đuôi của khoang số 6. Năm 1980, K-66 sau đám cháy đã được đưa bảo trì.

Ngày 21 tháng 8 năm 1984, trên K-122 trong giai đoạn bơi dài ngày thường lệ, ở vị trí dưới nước, lúc 21 giờ 00 trong thời gian huấn luyện đã xuất hiện đám cháy ở khoang số 7 khi chuyển chế độ hoạt động của máy phát điện tuabin từ trái sang phải. Tàu ngầm bắt đầu nổi lên mặt nước. Các chất dập lửa đã được đưa tới khong chỉ sau 8 phút xuất hiện đám cháy. Các thành viên thủy thủ đoàn đã rời khỏi khoang số 7 thành công cho đến khi khí tài dập lửa được mang đến. Trong khoang số 8 còn 31 người, 9 trong số đó không có khí tài bảo vệ cá nhân. Chín người này đã di chuyển sang khoang số 9. Tuy nhiên, sự làm kính của khoang số 9 không được đảm bảo, dẫn tới sự nhiễm độc cho những người không trang bị đồ phòng hộ cá nhân. Ngọn lửa ở khoang số 7 có tính chất rắt nặng, thân trong ở khu vực này bị nung nóng đến màu đỏ thẫm. Chỉ có sự tiếp nhận gấp ba lần hệ thống chữa cháy mới cho phép dập được lửa. Tàu bị mất điều khiển, thủy thủ đoàn ở boong trên ở trong tình trạng không có điện. Đám cháy là làm 14 người hy sinh. Do bị hỏng nặng, tàu đã không được khôi phục.

Trong những năm 1990, toàn bộ tàu ngầm Đề án 659 đã bị loại khỏi biên chế và mang đi tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #47 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 06:07:40 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-45 (số hiệu xưởng 140). Khởi công 28 tháng 12 năm 1957 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 12 tháng 5 năm 1959; gia nhập biên chế 28 tháng 6 năm 1960; 18 tháng 9 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 9 năm 1970 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; 10 tháng 9 năm 1981, ở khu vực huấn luyện chiến đấu đã va chạm với tàu vớt thủy lôi “Novokachalinik”, két quả là tàu vớt thủy lôi bị chìm, còn tàu ngầm nguyên tử bị thương ở phần mũi; trải qua sửa chữa; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-59; sau đó là K-259 (số hiệu xưởng 141). Khởi công 30 tháng 9 năm 1959 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1960; gia nhập biên chế 10 tháng 12 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 2 năm 1967 đến tháng 12 năm 1970 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-66 (số hiệu xưởng 142). Khởi công 26 tháng 3 năm 1960 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1961; gia nhập biên chế 12 tháng 10 năm 1961; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 8 năm 1970 đến tháng 12 năm 1972 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; mùng 6 tháng 5 năm 1966 khi nạp ắc quy đã xảy ra đám cháy ở khoang tuabin, việc dập lửa được thực hiện với sự hỗ trợ của tàu “PUS-4”; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-122 (số hiệu xưởng 143). Khởi công 21 tháng 1 năm 1961 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1961; gia nhập biên chế 13 tháng 4 năm 1962; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 1 năm 1974 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; ngày 21 tháng 8 năm 1980. trong thời gian bơi ở biển Hoa Đông (Biển Đông) trong khoáng số 7 đã xuất hiện đám cháy lớn, tàu phải nổi lên mặt nước, chỉ có sự tiếp nhận hệ thống chữa cháy chuyên dụng gấp 3 lần mới cho phép dập tắt đám cháy, 14 người hy sinh; tàu ngầm nguyên tử được kéo về căn cứ và neo đậu lại; năm 1983 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; và chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-151 (số hiệu xưởng 144). Khởi công 21 tháng 4 năm 1962 ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1962; gia nhập biên chế 28 tháng 7 năm 1963; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 12 năm 1976 đã trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 659-T ở xưởng “Zvezda” tại Đá Lớn dưới Vladivostoc; ngày 30 tháng 6 năm 1984, trong thời gian huấn luyện chiến đấu đã xảy ra đám cháy ở khoang số 7, thủy thủ đoàn bị thương vong; cuối năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải tán; năm 1990, chuyển giao cho bộ phận khác để tháo dỡ kim loại.

+ K-30 (số hiệu xưởng 145). Khởi công ở xưởng số 199 mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur năm 1961; đầu năm 1962, việc đóng tàu bị dừng lại; mùng 3 tháng 5 năm 1962 bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị tháo dỡ trên sân đóng tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #48 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 06:17:43 pm »



Tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 659.

Lượng choán nước nổi – 3768 tấn; lượng choán nước chìm – 4920 tấn; tốc độ trên mặt nước – 15,1 hải lý; tốc độ dưới mặt nước – 24,2 hải lý; trang bị: 6 tổ hợp tên lửa có cánh P-5; thiết bị ngư lôi: 4 thiết bị 533mm ở mũi; 2 thiết bị 400mm ở mũi; 2 thiết bị 400mm ở mạn tàu; 2 lò phản ứng công suất 44 500 sức ngựa; tầm bơi xa – 18 000 dặm; trữ lượng nổi: 32%; độ lặn sâu – 300 mét; chiều dài: 111,2 mét; chiều rộng – 9,2 mét; lượng mớn nước – 7,1 mét.

Các chữ số và số trên sơ đồ tàu ngầm Đề án 659

A – Thùng phóng trong trạng thái chiến đấu; 1 – Khoang ngư lôi; 2 – Khoang cho người ở; 3 – Trạm điều khiển tên lửa; 4 – Trạm trung tâm; 5 – Khoang máy phát điện diezel; 6 – Khoang lò phản ứng; 7 – Khoang tuabin; 8 – Khoang máy phát điện tuabin; 9 – Khoang cho người ở; 10 – Khoang mạn tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #49 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 06:34:12 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 3731

+ dưới mặt nước: 4920

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 111,2 (-)

+ chiều rộng nhất: 9,2

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,6

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước VM-A, tổng công suất, mW: 140

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OKA-150, 2 thiết bị tuabin răng cưa chính GZTA-601

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 động cơ phát điện tuabin GPM-21, công suất, kW: 2x1400

+ 2 máy phát điện – diezel PG-117, công suất, kW: 2x460

+ 2 động cơ điện diezel hỗ trợ PG-116, công suất, sức ngựa: 2x140

2 trục, 2 trục chân vịt để

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 21

+ dưới mặt nước: 29

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 240

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 92 (20).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM