Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:47:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330274 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #50 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2012, 06:44:42 pm »

Trang bị

Vũ khí chiến lược

+ Thiết bị phóng tên lửa có cánh chiến lược P-5: 6x1

+ Tên lửa có cánh P-5 (SS-N-3 “Shaddock”): 6

Ngư lôi

+ Thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ Cơ số đạn ngư lôi 533mm SET-53M và 53-61: 8

+ Thiết bị ngư lôi 400mm: 2/2 (mũi/mạn)

+ Cơ số đạn ngư lôi 400mm SET-40: 4

Mìn: có thể mang mìn (thủy lôi) thay cho ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện tử

+ Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” (Snoop Tray)

+ Hệ thống thủy âm: MG-200 “Arktika”; ShPS MG-10 hoặc MG-15; “Plutoni” máy thủy âm định vị; MG-13 – máy phát hiện tín hiệu thủy âm theo sự chiếu sáng

+ Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x”Sever N-659” đối với tên lửa có cánh chống tàu P-5

+ Các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat” (Stop Light; Quad Loop D/F)

+ Tổ hợp đạo hàng: “Sila N-659”

Tổ hợp thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

+ Đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 03:41:00 pm »

Đề án 675 (Echo – II class)


Tổng số tàu đã đóng: 29

Các biến thể

+ 675 – Đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tên lửa có cánh chống tàu P-6 (1963)

+ 675-K – được lắp khí tài tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Kasatka” (1973)

+ 675-MK – lắp tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt” và hệ thống chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Kasatka” (1976)

+ 675-MU – lắp tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-500 “Bazalt” và hệ thống chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Uspekh-U” (1977)

+ 675-MKV – lắp tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-1000 “Vulkan”, tổ hợp thủy âm “Kerch”… (1985)

+ 675-N – tàu ngầm nguyên tử được nâng cấp thành phương tiện chuyên chở người nhái (1986).

Cuối những năm 1950, trong Phòng thiết kế - thí nghiệm của V.N.Chelomen, trên cơ sở tổ hợp P-5 được sử dụng để bắn phá các mục tiêu bờ biển, đã chế tạo tổ hợp tên lửa chống tàu P-6. Các công việc về chế tạo vũ khí chống tàu với hệ thống tự dẫn bắn trong hành trình cuối ở Liên Xô đã được bắt đầu từ năm 1948, tuy nhiên, tầm bắn xa của những tên lửa chống tàu có cánh đầu tiên không quá vài chục kilomet. Trong cùng thời gian đó, các mục tiêu nổi chính (cơ bản) – các tàu sân bay của Hải quân Mỹ - có khả năng hoạt động ở khu vực nước sâu trong mọi điều kiện thời tiết và khả năng phòng không (chống tàu) trong mọi điều kiện ngày đêm ở tầm xa 150…200km. Với sự xuất hiện vào đầu những năm 60 trong trang bị các loại máy bay tiêm kích đánh chặn F-4 “Phantom” mới, trang bị tên lửa “không đối không” AIM-7 “Sparrow”, đồng thời các loại máy bay cảnh bảo sớm cất cánh trên boong E-2A “Hawkeye”, chiều sâu phòng thủ được tăng lên 250 – 300km. Trong vai trò các biện pháp trả đũa, việc này yêu cầu phải chế tạo các tên lửa chống tàu thế hệ mới, có tầm xa lớn (khoảng vài trăm kilomet).

Các công việc nghiên cứu về hình thành hình dáng của các tên lửa chống tàu tầm xa được bắt đầu ở Viện nghiên cứu ở ngoại ô Moskva dưới sự chỉ đạo của V.N.Chelomen vào năm 1956. Tên lửa có cánh, nằm trong biên chế tổ hợp, phải có tầm bắn xa tối đa hơn 300km, đảm bảm khả năng tiêu diệt các cụm tàu sân bay xung kích và nhóm các tàu địch mà không phải đi vào khu vực phòng thủ chống tàu và chống ngầm của đối phương. Tên lửa chống tàu có cánh phải được tích hợp hệ thống điều khiển, đảm bảo tiêu diệt mọi lớp tàu nổi của địch một cách thực tế bằng các loại đầu đạn hạt nhân và nổ - nổ mảnh uy lực lớn. Các khí tài của hệ thống điều khiển tổ hợp tàu và tên lửa được thiết kế ở Viện nghiên cứu khoa học số 49 (sau đó là Viện nghiên cứu sản xuất “Granit”) do N.A.Charin chỉ đạo.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:01:08 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:20:00 pm »

Việc chế tạo hệ thống “chống tàu sân bay” với sự sử dụng các tàu ngầm được cho là không có khả năng (không thể) do sự không có hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu tin cậy trên khu vực đại dương. Để giải quyết nhiệm vụ này, Viện nghiên cứu khoa học vô tuyến điện Kiev (nay là Viện nghiên cứu sản xuất “Kvant”) dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư I.V.Kudryatsev đã chế tạo hệ thống trinh sát hàng không “Uspekh”, được bố trí trên các thiết bị mang được thiết kế một cách đặc biệt Tu-16RTs và Tu-95RTs. Trên các máy bay này bố trí hệ thống ra đa định vị hàng không phát hiện các mục tiêu trên biển và truyền tải các tín hiệu tới tàu, ở đó tiến hành thực hiện việc xử lý thông tin và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa. Bằng cách này, ở Liên Xô, lần đầu tiên trên thế giới đã chế tạo được hệ thống trinh sát - tiến công (RUS), bao gồm các khí tài trinh sát, vũ khí tấn công và các phương tiên mang chúng (trên biển cũng như trên không).

Hệ thống tự động hóa của tàu “Argument” đã giải quyết nhiệm vụ điều khiển bay của một số tên lửa trong loạt, đồng thời sự dẫn bắn tên lửa chống tàu có cánh tới mục tiêu với sự hỗ trợ của máy ngắm ra đa định vị. Trong trường hợp phát hiện một số các mục tiêu có khả năng chọn lọc các mục tiêu theo hướng truyền tải tới thành tàu ngầm mang theo tên lửa chống tàu sự chọn lục mục tiêu của ra đa định vị và truyền tải từ tàu mệnh lệnh về việc lựa chọn các mục tiêu cụ thể.

Điểm yếu cơ bản của tổ hợp P-6 là sự khởi động nổi. Khi đó, thời gian nổi của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tổ hợp P-6 theo so sánh với các tàu ngầm mang trên thành tổ hợp P-5 tăng lên, do đó, hiện tại, yêu cầu sự điều khiển bay của tên lửa cho tới khi đầu đạn tự dẫn bắn của tên lửa bám bắt được mục tiêu. Mặc dù đây là nhược điểm rõ ràng, nhưng tổ hợp P-6 đã mang lại ưu thế đáng kể cho Hải quân Liên Xô trong việc chống lại các tàu nổi cỡ lớn của địch. Ngoài ra, chương trình được sự ủng hộ một cách tích cực từ cá nhân N.S.Khrutsev. Kết quả là ngày 17 tháng 8 năm 1956, đã ra quyết định của Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô viết về việc bắt đầu chế tạo các tàu ngầm nguyên tử tên lửa Đề án 675, trang bị các tên lửa chóng tàu P-6, đồng thời các tên lửa có cánh chiến lược P-5M được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu ven bờ.

Việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử được bắt đầu ở Phòng thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư P.P.Pustưntsev, giám sát viên chính của Hải quân  là Thuyền trưởng cấp 1 (Đại tá) M.S.Fadeev, sau đó là thuyền trưởng cấp 2 V.N.Ivanov. Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh được sử dụng để tiến hành các cuộc công kích bằng tên lửa P-6 vào các tàu chiến và thuyền của địch khi hoạt động trên các khu vực giao thông liên lạc trên biển và đại dương, còn đồng thời (khi có sự hỗ trợ của tên lửa có cánh P-5M) tiêu diệt các căn cứ Hải quân, bến cảng, các trung tâm hành chính và công nghiệp của địch.

Thiết kế của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 675 – tàu ngầm hai trục, hai than với sự phát triển vách ngăn buồng chiến đấu và thượng tầng. Thân trong, được kéo dài có dạng hình trụ, được chế tạo từ thép AK-25 dày 22-35mm. Phần cuối có hình dạng nón cụt.

Thân trong được chia thành 10 khoang:

1 – Ngư lôi

2 – Cho người và pin ắc quy (trong đó cũng bố trí buồng sĩ quan)

3 – Trạn điều khiển tên lửa

4 – Trạm trung tâm

5 – Điện – diesel

6 – Lò phản ứng

7 – Tuabin

8 – Máy phát điện tuabin, động cơ điện, các lá chắn phân phối

9 – Buồng cho người ở

10 – Ngư lôi mạn tàu.  
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2012, 06:33:53 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #53 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:31:41 pm »

Hình vẽ tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 675



Tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 675.

Lượng choán nước nổi – 4415 tấn; lượng choán nước chìm – 7390 tấn; tốc độ nổi – 14 hải lý; tốc độ chìm – 22 hải lý; Trang bị: 8 tên lửa có cánh; các thiết bị ngư lôi – 4 ngư lôi mũi 533mm, 2 ngư lôi mũi 400mm; 2 ngư lôi mạn 400mm; 2 lò phản ứng công suất 70 000 sức ngựa; tầm bơi xa 30 000 dặm; trữ lượng nổi 29,3%; độ lặn sâu – 300 mét; chiều dài – 115,4 mét; chiều rộng – 12-12,8 mét, lượng mớn nước – 7,4 mét.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #54 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 04:33:55 pm »

Các bản vẽ thiết kế Đề án 675




Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #55 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 05:13:55 pm »


Các vách ngăn giữa các khoang được chế tạo từ thép AK-25 dày 10mm. Khi bắn tên lửa, sự bù trừ khối lượng khởi động của tên lửa được thực hiện bằng cách tiếp nhận nước tới các thùng chứa thay thế. Lớp vỏ và tổ hợp thân ngoài được chế tạo từ thép YuZ dày 4-16mm. Bề mặt than được che phủ bằng lớp phủ chống thủy âm.

Thiết bị năng lượng có tổng công suất trên 2 trục là 35 000 sức ngựa, gồm có 2 lò phản ứng dạng VM-A (70 mW), 2 tuabin hơi nước và 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính 60-D1. Đồng thời, có 2 máy phát điện diesel DG-400 (động cơ diesel M-860) và hai động cơ điện PG-116 công suất 900 sức ngựa. Các pin ắc quy axit-chì kiểu “38-SM” gồm 2 nhóm với 112 phần tử. Về tổng quan, thiết bị năng lượng chính đồng dạng với các tàu ngầm Đề án 627, 658 và 659.

Anten điều khiển vũ khí tên lửa của hệ thống “Argument” được bố trí trong bộ phận trước của khoang trong cột trụ quay. Nguồn bức xạ mang của an ten kích thước lớn trong vị trí không hoạt động nằm ở trong vách ngăn, bằng cách này, nắp chụp được bố trí từ mặt sau của anten, trở thành tường trước của vách ngăn mui tàu.

Vũ khí cơ bản của tàu ngầm – 8 tên lửa có cánh P-6 (4K88) – bố trí trong các thùng phóng, được nâng lên vị trí khởi động ở góc 14 độ. Các thùng được cố định một cách chặt chẽ theo cặp và ở trong vị trí không hoạt động bố trí nằm ngang trong thượng tầng tàu ngầm. Việc bắn, cũng như trên tàu ngầm Đề án 659, chỉ có thể thực hiện ở vị trí nổi.

Tên lửa P-6 có chiều dài 10,8 mét, đường kính 0,9 mét, sải cánh 2,5 mét và khối lượng khởi động – 5300kg. Tên lửa được trang bị bộ điều áp nhiên liệu và động cơ khởi động nhiên liệu rắn. Phạm vi bắn – 35-380km, tốc độ bay tối đa: 3 Max. Sự bay của tên lửa thực hiện ở độ cao 400-7500 mét, trước khi tấn công mục tiêu, tên lửa hạ xuống độ cao 100 mét.

Trong tàu ngầm mang tên lửa có cánh Đề án 675, lần đầu tiên trên thế giới đã thực hiện được khả năng bắn loạt tên lửa với sự lựa chọn tiêu diệt các tàu chiến địch nằm trong thành phần cụm tàu. Tàu nguyên tử có thể thực hiện loạt phóng 4 tên lửa trong thời gian 15 phút, hai loạt trong khoảng 20-30 phút với sự tính toán thời gian bị tiêu phú cho việc nổi, chuẩn bị phóng, phóng và sự bay của các tên lửa tới mục tiêu. Khả năng đảm bảo bắn đồng thời các mục tiêu bằng 12 tên lửa P-6 với các thiết bị mang khác nhau, cho phép vượt qua hệ thống phòng không dày đặc nhất của các cụm tàu sân bay trong những năm 1960. Để tiếp nhận thông tin về các mục tiêu từ hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu hàng không được dự kiến sử dụng hệ thống ra đa định vị “UspekhpU” (sự tiếp nhận có thể được thực hiên ở vị trí nổi cũng như ngầm). Tuy nhiên, nó đã không kịp ở thời điểm đóng tàu và đã được lắp trên một tàu ngầm sau khi nâng cấp theo Đề án 675-MU. Đối với các tàu ngầm nguyên tử còn lại đã áp dụng hệ thống “Kasatka” để tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ các vệ tinh (10 tàu ngầm đã được nâng cấp theo Đề án 675-K và 675-MK). 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #56 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2012, 06:32:16 pm »


Việc sử dụng tổ hợp trinh sát - tiến công thực hiện theo cách sau: tàu ngầm nằm ở khu vực cho phép, sau khi nhận sự phân phối tác chiến tới sự tiếp nhận vũ khí tên lửa, nổi lên độ sâu tiềm vọng và nhận sự liên lạc với máy bay trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Thông tin này được xử lý trên màn hình của bảng điều khiển thuộc tổ hợp chỉ thị mục tiêu của tàu ngầm. Chỉ huy tàu phân tích tình trạng mục tiêu và xác định mục tiêu – cần thiết xác định các tọa độ (góc phương vị và tầm xa). Sau đó, các thông tin này được dẫn tới hệ thống điều khiển tổ hợp tên lửa của tàu, thực hiện sự đánh giá tầm, phạm vi của vũ khí và xác suất phát hiện mục tiêu tin cậy của máy ngắm ra đa định vị của tên lửa. Trên cơ sở thông tin này, tiếp nhận quyết định bắn cuối cùng. Tàu ngầm nằm ở vị trí chiến đấu, thực hiện việc chuẩn bị trước phóng, sau đó, nổi lên khỏi mặt nước và thực hiện phóng loạt tên lửa (số lượng tên lửa chống tàu có cánh trong loạt – không quá 4 tên lửa). Việc điều khiển bay của mỗi tên lửa trong loạt phóng trên diện bắn được thực hiện bằng một người thao tác theo dấu hiệu phương vị trên màn hình chỉ thị của ra đa định vị. Trong trường hợp lệch dấu hiệu khỏi hướng đã được vạch sẵn, theo tác viên quay tên lửa tới diện bắn. Khi đạt đến tầm xa theo tính toán của tên lửa (được lựa chọn bởi hệ thống điều khiển tàu) theo mệnh lệnh của người điều khiển, các máy ngắm ra đa định vị của các tên lửa được mở và các máy cảm biến kênh vô tuyến đối với sự truyền tải thông tin bằng các máy ngắm đã nhận được. Sau khi bám bắt mục tiêu bằng máy ngắm ra đa định vi của tên lửa chống tàu có cánh, theo mệnh lệnh của người điều khiển, chuyển sang chế độ tự dẫn bắn (ban đầu, tên lửa được tự dẫn bắn theo góc hướng (phương ngang), sau đó, thực hiện sự bổ nhào thoải và sau vài kilomet tới mục tiêu sẽ thực hiện chế độ tự dẫn bắn trong góc hưởng (mặt phẳng đứng).

Trang bị ngư lôi của tàu gồm có 4 thiết bị ngư lôi mũi 533mm (độ bắn lặn sâu – 100 mét) và 2 thiết bị ngư lôi mạn 400mm (độ bắn lặn sâu – 250mm). Tổng cơ số đạn – 20 ngư lôi. Hệ thống điều khiển vũ khí ngư lôi – “Ladoga”.

Tàu ngầm được trang bị tổ hợp thủy âm “Arktika-M”, tổ hợp các hệ thống đạo hàng “Sila N-675”, la bàn thủy văn “Mayak”, hệ thống đạo hàng thiên văn “Lira-11”, đài ra đa định vị “Albatros” và các khí tài khác.

Tại phương Tây, Đề án 675 được tính là phiên bản nâng cấp của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo Đề án 659 và mang tên gọi lớp “Echo-II” (“Echo-II class).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #57 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2012, 05:54:29 pm »

Các biến thể


Các tàu ngầm Đề án 675 là một trong số những tàu ngầm được hiện đại hóa một cách linh động nhất thuộc Hải quân Liên Xô. Đây là sự đáp trả của việc đối thủ chính của chúng được hiện đại hóa nhanh chóng – các tàu sân bay Hải quân Mỹ. Như là, các tên lửa P-6 được nâng cấp thành phiên bản P-6M (4K48).

Từ năm 1959, trong Viện nghiên cứu khoa học số 49 dưới sự lãnh đạo của A.P.Tsvetkov đã tiến hành các công việc chế tạo đài “Molnia”, đảm bảo sự chỉ thị mục tiêu phía chân trời tự động do sự tính toán sử dụng sự xuất hiện khuyếch tán đối lưu các sóng vô tuyến cao tần. Tháng 12 năm 1969, đài “Molnia” đã được tiếp nhận vào trang bị Hải quân để lắp trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 657. đồng thời trên các tàu ngầm diesel Đề án 651. Tổ hợp thủy âm “Arktika-M” trên một số tàu được thay thế bằng tổ hợp thủy âm hiện đại hơn “Kerch”.

Đề án 675-K được dự kiến lắp tổ hợp “Kasatka”, đảm bảo thu nhận và xử lý các thông tin theo sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh nhân tạo trái đất. Theo đề án này đã nâng cấp một tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược – K-48.

Mười (10) tàu ngầm Đề án 675 trong những năm 60 – 70 đã trải qua sự nâng cấp theo Đề án 675-MK (K-104, K-128, K-175, K-184, K-189, K-57, K-56,K-94,K-23) và Đề án 675-MU (với đài “Uspekh-U” – K-28). Chúng được trang bị các tên lửa chống tàu mới P-500 “Bazalt” (như trên các tàu tuần dương tên lửa Đề án 1164). Ngoài các tên lửa chống tàu mới, trên các tàu được nâng cấp còn được trang bị tổ hợp hệ thống thu nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh “Kasatka-B” (ngoài một Đề án 675-MU). Khi đó, lượng choán nước của tàu ngầm tăng lên 600 tấn.

Vào cuối những năm 80, đã bắt đầu hiện đại hóa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh theo Đề án 675-MKV. Các tàu ngầm nhận được tổ hợp tên lửa chống tàu mới P-1000 “Vulkan”, có tầm bắn xa được tăng cường đáng kể, đồng thời tổ hợp thủy âm hiện đại “Kerch”. Để đảm bảo sự phòng thủ đối với cuộc tấn công đường không của địch trong vị trí nổi, tàu ngầm nguyên tử trong quá trình nâng cấp đã nhận được tổ hợp tên lửa phòng không cầm tay “Strela-3”. Lượng choán nước của các tàu Đề án 675-MKV tăng thêm 1000 tấn. Toàn bộ các tàu được nâng cấp theo Đề án 657-MKV gồm 5 tàu – K-1, K-22, K-35, K-34 và K-10 (tàu cuối cùng chưa hoàn thành nâng cấp đã bị loại khỏi biên chế).

Năm 1986, một trong số các tàu ngầm mang tên lửa có cánh Đề án 675 – K-86 đã được nâng cấp theo Đề án 675-N trong vai trò phương tiện mang tàu ngầm siêu nhỏ và người nhái. Từ tàu ngầm được tháo vũ khí tên lửa và các khí tài điều khiển bắn tên lửa, lắp các khí tàu đặc biệt, trang bị các buồng cần thiết để bố trí người nhái và cho họ rời khỏi tàu dưới nước, đồng thời cố định âu thuyền để cho tàu ngầm siêu nhỏ Đề án 1861 (“X-Ray class”).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #58 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2012, 06:52:10 pm »

Chương trình đóng tàu

Việc đóng Đề án 675 được thực hiện ở Severodvinsk và Komsomol-na-Amur. Tàu đầu tiên đóng ở Severodvinsk – K-166 – gia nhập biên chế hạm đội Phương Bắc năm 1963. Tàu đã trải qua các thí nghiệm cấp nhà nước, thực hiện thành công loạt phóng 4 tên lửa. Tổng cộng từ năm 1963, đến năm 1968, Hải quân đã nhận được 29 tàu ngầm Đề án 675 (16 thân tàu đóng ở Severodvinsk, 13 – Komsomol-na-Amur).

Tình hình đến năm 2007

Các tàu ngầm Đề án 675 đã gia nhập Hải quân Liên Xô trong những năm 1960; 16 tàu trong Hạm đội Phương Bắc (một tàu năm 1966 được bàn giao cho Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương) và 13 – tới Thái Bình Dương. Ngày 25 tháng 7 năm 1977, toàn bộ các tàu của Đề án này được chuyển thành phân lớp tàu ngầm loại lớn, còn từ 15 tháng 1 năm 1978, một lần nữa được quay trở lại phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương

Các tàu ngầm Đề án 675 được sử dụng linh hoạt trong các Hạm đội Phương Bắc và Thái Bình Dương. Chúng làm nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương. Tháng 11 năm 1965, bằng chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hải quân cho Tư lệnh Hạm đội Phương Bắc đã giao nhiệm vụ chuẩn bị hai tàu ngầm nguyên tử để chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương từ hải trình phía nam. Quyết định tác hai tàu để tham gia hành trình là tàu ngầm tên lửa K-166 và tàu ngầm ngư lôi Đề án 627-A. Mùng 2 tháng 2 năm 1966, các tàu đã bắt đầu hoạt khởi hành. Cự ly giữa các tàu, lần lượt ở vị trí ngầm, là 60 dặm. Thỉnh thoảng, chúng tiến sát nhau để thực hiện thông tin liên lạc bằng sóng siêu âm hoặc theo kênh thông tin liên lạc dưới nước. Ngày 20 tháng 3 năm 1966, đã vượt qua gần 25 000 dặm, các tàu ngầm đã tới cảng Avacha ở Kamchatka. Quá trình di chuyển này đã được tuyên truyền chính thức trên truyền thông Liên Xô, gây tiếng vang chính trị lớn. Toàn bộ thủy thủ đoàn của các tàu ngầm đã được tăng thưởng Huân chương và Huy chương, còn 5 người tham gia được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Để mở rộng khu vực hoạt động của các tàu ngầm Liên Xô đã tiến hành tìm kiếm căn cứ cơ động mới. Với mục tiêu này, năm 1967, đã có cuộc thám hiểm tổng hợp “Priliv” hướng tới vùng nước cận xích đạo thuộc Đại Tây Dương dưới sự chỉ huy của Thống chế L.A.Vladimirovski. Trong cuộc thám hiểm này có sự tham gia của tàu ngầm nguyên tử K-128.

Tàu ngầm K-131 trong giai đoạn từ mùng 1 tháng 3 đến 31 tháng 12 năm 1969 đã ở trong khu vực hoạt động chiến đấu tại Địa Trung Hải, thực hiện sự yểm trợ cho các lực lượng vũ trang Ai Cập.

Năm 1970, trên Ấn Độ Dương để thực hiện nhiệm vụ trực chiến, tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Liên Xô K-7 đã được đưa đến. Ở đó, cũng tàu ngầm này đã thực hiện các cuộc bắn tên lửa theo các góc phản xạ (để đảm bảo sự chỉ thị mục tiêu từ máy bay Tu-95RTs đang hoạt động). Năm 1971, trong thời gian ba tháng, ở Ấn Độ Dương có tàu ngầm K-31 trực chiến.

Các tàu ngầm Đề án 675 được sử dụng không chỉ để theo dõi các tàu nổi, nhưng thỉnh thoảng “đánh hỏng” chúng và các tàu ngầm nguyên tử Mỹ đang làm nhiệm vụ trực chiến. Như là, tàu K-135 năm 1967 trong thời gian 5,5 giờ đã thực hiện sự theo dõi trực tiếp tàu ngầm tên lửa chiến lược “Patric Ghenri”.

Năm 1989 – 92, các tàu ngầm Đề án 675 đã bị loại khỏi biên chế Hải quân nhanh chóng. Tàu ngầm đầu tiên bị loại khỏi Hải quân là K-116 (năm 1985) và K-431 (trước đó là K-31, năm 1987) do tai nạn trong hệ thống tuabin chính. Tàu cuối cùng bị loại vào năm 1994: B-47 (trước là K-47) (B-22 (K-22) và K-131.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #59 vào lúc: 07 Tháng Giêng, 2012, 07:47:51 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-166; từ năm 1978 là K-71 (số hiệu xưởng 530). Ghi danh vào biên chế tàu Hải quân mùng 10 tháng 4 năm 1961; khởi công 30 tháng 5 năm 1961 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (xưởng số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy mùng 6 tháng 9 năm 1962; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ tháng 1 năm 1967 đến tháng 6 năm 1968 đã trải qua sửa chữa định kỳ ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1974 đã thực hiện 3 cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu kéo dài 178 ngày; năm 1969 đã thực hiện việc bằng khu vực hoạt động các lò phản ứng; 10 tháng 12 năm 1970, trên tàu đã xảy ra đám cháy vì vỡ cột không khí cao áp, đã làm hỏng các máy móc khoang số 4 và bộ phận các khí tài của tổ hợp vũ khí; từ tháng 8 năm 1976 đến tháng 3 năm 1981 đã trải qua trung tu; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1979 trở lại thành tàu ngầm tuần dương; từ năm 1979 đến năm 1983 nằm trong bộ phận dự bị; năm 1983, rời khỏi khu vực bảo dưỡng, thực hiện cuộc hành quân dài ngày tới khu vực phục vụ chiến đấu kéo dài 51 ngày; 30 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở xưởng số 35 ở Murmansk.

+ K-104; (số hiệu xưởng 531); khởi công 11 tháng 1 năm 1962 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (xưởng số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy mùng 16 tháng 6 năm 1963; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 12 năm 1969 đã trải qua sửa chữa định kỳ ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ năm 1970 đến 1972 đã thực hiện hai cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 151 ngày; năm 1972 đã tiến hành nạp nhiên liệu cho lò phản ứng, năm 1973, thay các ống dẫn tuabin của đường viền số 1; từ tháng 10 năm 1976 đến tháng 2 năm 1981 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvedochka”; 25 tháng 7 năm 1977 được chia vào phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại thành tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1983 đến 1988 đã thực hiện 5 cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu tổng cộng 310 ngày; năm 1990 được đưa vào nhóm dự bị hạng II; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-170; từ năm 1978 là K-86; từ 8 tháng 4 năm 1985 là KS-86: (số hiệu xưởng 532); khởi công 16 tháng 5 năm 1962 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 4 tháng 8 năm 1963; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1964 đã hoàn thành cuộc hành quân tới biển Na Uy và Bắc Đại Tây Dương theo kế hoạch “Ograda”, đánh dấu sự phục vụ chiến đấu đầu tiên của tàu ngầm Đề án 675, tổng cộng trong năm 1964 đã trải qua 12 949 dặm; trong giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1966 đã thực hiện hai cuộc hành quân dài kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 90 ngày; từ tháng 6 năm 1966 đến tháng 12 năm 1967 đã trải qua sửa chữa định kỳ; năm 1970 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài tổng cộng 51 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 được phân loại vào phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại thành tàu ngầm tuần dương; từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 12 năm 1980 trải qua trung tu và trang bị lại theo Đề án 675-N ở xưởng số 10; 8 tháng 4 năm 1985 phân loại thành phân lớp tàu ngầm đặc nhiệm; trên tàu đã diễn ra sự vỡ ổ trục (vòng bi) của tuabin thành bên phải; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Olenia.

+ K-172; từ năm 1978 là K-192 (số hiệu xưởng 533); khởi công 8 tháng 8 năm 1962 ở “Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 25 tháng 12 năm 1963; gia nhập biên chế 30 tháng 7 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bawcsl trong giai đoạn từ tháng 7 năm 1964 đến tháng 12 năm 1968 đã thực hiện 3 cuộc hành quân dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 154 ngày; tháng 4 năm 1968, trong thời gian bơi dài ngày đã xảy ra sự nhiễm bẩn thủy ngân nặng trong các khoang số 3, 8 và 10, tàu phải quay khẩn cấp trở lại căn cứ, làm thương vong 126 người; từ tháng 12 năm 1968 đến tháng 12 năm 1971 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế máy phát điện hơi nước ở xưởng “Zvedochka”; từ 24 tháng 10 năm 1972 đến 30 tháng 3 năm 1973 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 99 ngày; năm 1974; đã tiến hành nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1978 đã thực hiện 4 cuộc hành quân kéo dài phục vụ 290 ngày; năm 1975; trong thời gian hành quân đã xảy ra sự mất kín đường bao số 1; 25 tháng 7 năm 1977 đưa vào phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 8 năm 1981 đến tháng 4 năm 1985 đã trải qua trung tu ở xưởng số 85; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1985 đến tháng 6 năm 1989 đã thực hiện 4 cuộc hành quân kéo dài tổng thời gian 250 ngày; năm 1987, đã nạp nhiên liệu lại cho lò phản ứng; 15 tháng 6 anwm 1989 trong thời gian hành quân đã xảy ra sự vỡ đường bao số 1 của lò phản ứng bên trái – đồng thời cũng bị sự cố; 16 tháng 6 năm 1989 đã phát hiện sự rò rỉ trong đường bao số 1 của thành bên phải; 26 tháng 6 năm 1989 xuất hiện sự mất kín trong đường bao số 1 của lò phản ứng thành bên phải và làm lạnh khẩn cấp, trong khi đấu tranh giành giật sự sống, thủy thủy đoàn đã nhận được sự sự tăng cường chiếu sang, tàu ngầm nguyên tử phối hợp với tàu chống ngầm loại lớn “Simferpol” và tàu cứu nạn “Karbakh” đã về căn cứ bằng động cơ diesel; 27 tháng 6 năm 1989 đã tháo cáp kéo của tàu “Karabakh; do sự rò rỉ chất phóng xạ mạnh của thiết bị động cơ chính đã nhận quyết định không sửa chữa và tàu ngầm tên lửa có cánh được đưa vào danh sách dự bị hạng II; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM