Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:55:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330417 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #60 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2012, 04:18:49 pm »

+ K-47; từ năm 1993 là B-47 (số hiệu xưởng 534); khởi công 7 tháng 8 năm 1962 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” ở Severodvinsk (số 402); hạ thủy 10 tháng 2 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ năm 1970 đến 1972 đã trải qua sữa chữa định kỳ với sự thay thế máy phát điện hơi nước ở xưởng “Zvedochka”; tháng 5 – 6 năm 1976 đã thực hiện nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 24 tháng 9 năm 1976, trong thời gian phục vụ chiến đấu ở độ sâu 40 mét, do chập mạch đã xảy ra đám cháy ở khoang số 8, tàu ngầm nguyên tử phải nổi lên, động cơ gặp sự cố, trong khi chiến đấu với đám cháy, 3 người đã hy sinh, sau đó 4 tháng 10 năm 1976, tàu đã trở về căn cứ trong tình trạng khẩn cấp; 25 tháng 7 năm 1977, trở lại phân lớp tàu ngầm loại lownsl 15 tháng 1 năm 1978 quay trở về phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1979 đến năm 1982 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 243 ngày; 24 tháng 9 năm 1984, phát hiện sự rò rỉ ở đường bao số 3, sau đó, tàu được đưa vào biên chế dự bị loại 2 và đưa vào sửa chữa ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ tháng 8 năm 1989 đến tháng 3 năm 1990 đã tiến hành nạp nhiên liệu các lò phản ứng; 3 tháng 6 năm 1992, trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, bị giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-1; từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-2 (số hiệu xưởng 535); khởi công 11 tháng 1 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1968 đã thực hiện 4 cuộc hành quân dài ngày phục vụ chiến đấu tổng cộng 180 ngày; trong giai đoạn từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 11 năm 1970 đã trải qua sửa chữa với sự nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ 1971 đến 1978 đã thực hiện 8 cuộc hành quân kéo dài tổng cộng 550 ngày; 20 tháng 8 năm 1973 trong thời gian phục vụ chiến đấu ở biển Karib ở độ sâu 120 mét và tốc độ 16 hải lý; tàu nghiêng và bị thương nặng ở phần mũi; 25 tháng 7 năm 1977 đã trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; năm 1977 đã tiến hành nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 8 tháng 8 năm 1978 khi quay lại từ nhiệm vụ chiến đấu đã xử lý bảo vệ tai nạn của lò phản ứng của thành bên trái, thiết bị năng lượng của thành bên trái hoạt động trở lại vào 12 tháng 8 năm 1978; nhưng 13 tháng 8 năm 1978, tuabin thành bên phải đã bị hỏng, còn 17 tháng 8 năm 1978- tuabin thành bên trái , tàu ngầm phải nổi lên và được kéo bởi tàu cứu hộ “Pamir” về căn cứ; từ tháng 2 năm 1981 đến tháng 12 năm 1985 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1986 đến tháng 9 năm 1988 và thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 218 ngày; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa về neo đậu ở vịnh Ara.

K-28; từ 1977 là K-428 (số hiệu xưởng 536); khởi công 26 tháng 4 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinskl hạ thủy 30 tháng 6 năm 1964; gia nhập biên chế 16 tháng 12 năm 1964; 22 tháng 1 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1968 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài tổng cộng 50 ngày; từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1977 đã trải qua sửa chữa và nâng cấp theo Đề án 675-MU ở xưởng “Zvedochka”; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 đã quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1982 đến 1985 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài 292 ngày; 28 tháng 3 đến 4 tháng 4 năm 1984 đã tham gia chiến dịch tập trận tham mưu – chỉ huy của Hải quân “Atlantic”; năm 1988 được đưa tới xưởng 35 để trung tu, nhưng theo tình trạng kỹ thuật, việc sửa chữa đã tiến hành không đầy đủ; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara; 31 tháng 12 năm 1992 bị giải tán và năm 1993 được đưa tới xưởng “Nerpa” để tháo dỡ.

K-74 (số hiệu xưởng 537); khởi công 23 tháng 7 năm 1973 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 30 tháng 7 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1964; 11 tháng 8 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1967 đến 1970 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 100 ngày; từ tháng 12 năm 1970 đến tháng 11 năm 1973 đã trải qua trung tu ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ năm 1974 đến năm 1982 đã thực hiện 6 cuộc hành quân dài ngày tổng cộng 330 ngày; tháng 6 – 9 năm 1975 đã tiến hành nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu tuần dương; từ tháng 12 năm 1982 đến tháng 3 năm 1983 đã trải qua sửa chữa định kỳ ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ năm 1988 đến 1989 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 123 ngày; đã đi qua 13 132 dặm; 19 tháng 4 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #61 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2012, 05:30:07 pm »

+ K-22; từ 3 tháng 11 năm 1967 là “Krasnogvardeets” (“Cận vệ đỏ”); từ 7 tháng 7 năm 1994 là B-22 (số hiệu xưởng 538); khởi công 14 tháng 10 năm 1963 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Sverodvinsk; hạ thủy 29 tháng 11 năm 1964; gia nhập biên chế 7 tháng 8 năm 1965; 6 tháng 9 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 1965 đến năm 1970 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 49 ngày; 23 tháng 10 năm 1967 được tặng Kỷ niệm chương của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng Sản Liên Xô, Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao và Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết; từ tháng 11 năm 1979 đến tháng 7 năm 1973 đã trải qua sửa chữa ở xưởng “Zvedochka”; trong giai đoạn từ 1974 đến năm 1985 đã thực hiện 6 cuộc hành quân dài ngày kéo dài tổng cộng 398 ngày; năm 1975 đã tiến hành nạp lại nhiên liệu cho lò phản ứng; 8 tháng 8 năm 1976 trên biển xảy ra sự cố và được khắc phục bằng sức người; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 28 tháng 8 năm 1977 trong thời gian phục vụ chiến đấu đã xảy ra va chạm với tàu chiến của Hải quân Mỹ “Voge”, tàu nguyên tử đã bị hỏng thùng tên lửa số 1, các khí tài kéo và thiết kế than của mui và thượng tầng, còn tàu chiến chỉ có thể di chuyển được; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 12 năm 1985 đến năm 1990 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvedochka”, trong giai đoạn sửa chữa có nạp lại nhiên liệu cho lò phản ứng; 15 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-35; từ năm 1993 là B-35 (số hiệu xưởng 539); khởi công 6 tháng 1 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 1 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 6 năm 1965; 30 tháng 7 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1965-69 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 29 ngày; từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 4 năm 1974 đã trải qua trung tu với sự thay thế các máy phát điện hơi nước ở xưởng số 10; trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 221 ngày; 7 tháng 12 năm 1975 ở căn cứ đã xảy ra vụ nổ hỗn hợp khinh khí – không khí trong ổ ắc quy số 2, tổn thất 2 người; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1981 đã thực hiện nạp lại nhiên liệu cho các lò phản ứng; năm 1983 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 72 ngày; từ tháng 12 năm 1984 đến tháng 12 năm 1987 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MKV; năm 1989 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 62 ngày; 3 tháng 6 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 20 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa về neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-90; từ 25 tháng 7 năm 1987 là K-111 (số hiệu xưởng 540); khởi công 29 tháng 2 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 17 tháng 4 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1965; 10 tháng 10 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1970 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 173 ngày; từ tháng 9 năm 1970 đến tháng 12 năm 1973 đã trải qua sửa chữa định kỳ với sự thay thế các động cơ phát điện hơi nước ở xưởng số 10; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978 đã thực hiện việc tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1985 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 372 ngày; năm 1976, trong thời gian 6 ngày thiết bị sản xuất hơi nước của thành bên trái hai lần bị hỏng do rò rỉ trong đường bao số 1; từ 15 tháng 2 năm 1986 đến năm 1987 đã qua sửa chữa phục hồi; 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara, sau đó – vịnh Pala; 31 tháng 12 năm 1992 bị giải tán và năm 1992 – 1993 mang đi tháo dỡ ở xưởng “Nerpa”.

K-116 (số hiệu 541); khởi công 8 tháng 5 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 19 tháng 6 năm 1965; gia nhập biên chế 29 tháng 10 năm 1965; 25 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 2 tháng 2 đến 23 tháng 3 năm 1966 cùng với tàu ngầm nguyên tử K-133 thuộc Đề án 627-A lần đầu tiên trên thế giới đã hoàn thành cuộc hành quân từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương theo hành trình phía Nam qua hai đại dương eo biển Dreik mà không nổi, sau 52 ngày đã bơi qua 21 000 dặm, sau đó, 25 tháng 5 năm 1966, các tàu đã được tặng Huân chương của Nhà nước; 7 tháng 4 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 14 tháng 4 năm 1966 các tàu được tặng Huân chương “Cận vệ”; trong giai đoạn từ năm 1966 đến năm 1969 đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 278 ngày và thực hiện 2 cuộc trực chiến; 8-9 tháng 9 năm 1967 trong thời gian hành quân phục vụ chiến đấu trên tàu đã bị hỏng các máy làm lạnh, bộ phận các máy móc bị hỏng, một bộ phận thủy thủ bị hun nóng, tàu ngầm phải nổi lên và có sự xuất hiện của các tàu cứu hộ, 20 tháng 9 năm 1967 tàu tự quay trở về căn cứ; từ tháng 11 năm 1969 đến tháng 12 năm 1971 đã trải qua trung tu với việc tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn năm 1973 – 1974 nằm trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu trong thời gian 115 ngày; 18 tháng 4 năm 1976 ở vịnh Avachin đã va chạm với tàu phá băng “Volsk” và bị thương nghiêm trọng thân trong cùng bể chứa tải trọng dằn chính, sau đó đưa vào sửa chữa; tháng 4 năm 1977 đã kết thúc sửa chữa và quay trở lại biên chế; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 đã trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 2 tháng 7 năm 1979 khi di chuyển từ vịnh Pavlov ở vịnh Vladimir trong trạng thái nổ và xảy ra tai nạn ở lò phản ứng thành bên trái, trang bị của khoang lò phản ứng bị hỏng, còn thủy thủ đoàn bị chiếu xạ ngược; 28 tháng 4 năm 1980 đưa vào sửa chữa khôi phục ở xưởng số 30, nhưng năm 1982 được đưa vào biên chế dự bị; 10 tháng 9 năm 1985 bị loại khỏi biên chế, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazhma.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #62 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2012, 06:22:59 pm »

+ K-125 (số hiệu xưởng 542); khởi công 1 tháng 9 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1965; gia nhập biên chế 18 tháng 12 năm 1965; 27 tháng 12 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đạn từ năm 1967 đến 1970 đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 305 ngày; từ tháng 11 năm 1970 đến tháng 7 năm 1974 đã trải qua trung tu với sự nâng cấp tại xưởng “Zvedochka”; tháng 1 năm 1974 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1980 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 390 ngày; 10 tháng 4 năm 1976 trong thời gian phục vụ chiến đấu xảy ra vụ nổ ở khoang số 1, thủy thủ đoàn bị thương vong; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1983 – 87 đã trải qua trung tu ở xưởng số 35; năm 1985 - 86 đã tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; trong giai đoạn từ 1988 đến 1989 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 124 ngày dưới nước và đi 12 824 dặm; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa neo đậu ở vịnh Ara.

K-128; từ năm 1982 là K-62 (số hiệu xưởng 543); khởi công 29 tháng 10 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 30 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 8 năm 1966; 6 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1966 đến 1970 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 280 ngày; tháng 5 năm 1968 đã bị ngập nước ở khoang số 9 do sai sót của thủy thủ đoàn; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 4 năm 1977 đến tháng 12 năm 1981 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvedochka”; năm 1982 đã tiến tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1983 đến năm 1987 đã thực hiện 7 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 430 ngày; năm 1989 đã bị hạn chế hoạt động theo công suất khai thác sử dụng của lò phản ứng thành bên phải, sau đó bị đưa vào danh sách dự bị loại II; 19 tháng 4 năm 1990, bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-131 từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-131 (số hiệu xưởng 544); khởi công 31 tháng 12 năm 1964 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 6 tháng 6 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1966; 31 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 1 tháng 3 đến 31 tháng 12 năm 1969 ở trong khu vực hoạt động chiến đấu ở biển Địa Trung Hải, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo sự hỗ trợ cho các lực lượng Ai Cập; trong giai đoạn từ 1967 đến 1972 đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 300 ngày; 19 tháng 6 năm 1972, trong khi đang di chuyển đã va chạm với tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 670, đã bị thương nhẹ ở nóc thiết bị ngư lôi; từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 8 năm 1975 đã bị tai nạn và trung tu ở xưởng số 10; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1977 đến 1984 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 414 ngày; 28 tháng 9 năm 1982 trong thời gian đỗ trong các thùng cân bằng đã diễn ra vụ nổ các cặp thuốc màu, 2 người hy sinh và 4 người bị bỏng; 28 tháng 3 đến 4 tháng 4 năm 1984 đã tham gia cuộc tập trận tham mưu – chỉ huy “Atlantic-84”; 18 tháng 6 năm 1984 trong thời gian quay về căn cứ sau cuộc hành quân do sai sót của thủy thủ đoàn đã xuất hiện đám cháy ở khoang số 8, sau đó là khoang số 7, hy sinh 13 người, tàu phải nổi và được kéo về căn cứ; từ tháng 8 năm 1984 đến tháng 11 năm 1989 đã trải qua trung tu ở xưởng số 35; năm 1989 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; 3 tháng 6 năm 1982 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; năm 1993 bị hạn chế hoạt động theo công suất thiết bị năng lượng chính; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Ara.

+ K-135, từ năm 1977 là K-235 (số hiệu xưởng 545); khởi công 27 tháng 2 năm 1965 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” (số 402) ở Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 6 năm 1966; gia nhập biên chế 25 tháng 11 năm 1966; 12 tháng 12 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ năm 1969 đến năm 1970 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 151 ngày; từ 14-27 tháng 5 năm 1970 đã tham quan tại Senfuzgos (Cuba); từ tháng 9 năm 1974 đến tháng 10 năm 1978 đã trải qua trung tu và nạp lại nhiên liệu cho các lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1980 đến 1985 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 315 ngày; trong năm 1984-1985 nằm sửa chữa khắc phục sự rò rỉ trong thiết bị sản xuất hơi nước thành bên phải ở xưởng số 10; 14 tháng 4 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân để đưa sang cơ sở khác, giải tán và đưa đến neo đậu ở vịnh Ara.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #63 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2012, 04:53:17 pm »

+ K-175 (số hiệu xưởng 171); khởi công 17 tháng 3 năm 1962 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1962; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1963; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1968 bị hạn chế công suất khai thác sử dụng của thiết bị động cơ chính với sự liên quan đến những hư hỏng; từ tháng 12 năm 1973 đến tháng 11 năm 1977 đã trải qua sửa chữa theo Đề án 675-MK ở xưởng số 49; từ tháng 4 đến 10 năm 1976 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế bình tụ điện của thiết bị năng lượng chính thành bên phải; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1979 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 55 ngày, trong thời gian này đã xuất hiện sự hỏng ở đường bao số 1; năm 1980 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 136 ngày với sự cung cấp lượng dự trữ trong các căn cứ cơ động; năm 1981-1982 đã trải qua sửa chữa định kỳ; năm 1983 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu của các lò phản ứng; năm 1985 đã thực hiện cuộc hành quân chiến đấu dài ngày; 29 tháng 9 năm 1985 tại bến cảng của thành phố Aden (Nam Yemen) đã xảy ra sự mất kín trong khu vực lò phản ứng do lỗi của thủy thủ đoàn, làm tăng lượng phóng xạ, sự phòng thủ khẩn cấp đã được sử dụng; tháng 11 năm 1986, ở căn cứ đã thực hiện việc phun các vật liệu phóng xạ làm bẩn toàn bộ các khu vực bên cạnh, sau đó tàu được đưa vào sửa chữa; năm 1988, lò phản ứng được khởi động lại, năm 1989 việc sửa chữa không được tiến hành đầy đủ và dừng; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở  vịnh Krasheninnikov.

+ K-184 (số hiệu xưởng 172); khởi công 2 tháng 2 năm 1963, ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1963; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1964; 4 tháng 11 năm 1964 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ tháng 4 năm 1967 đến tháng 11 năm 1969 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước ở xưởng số 30; trong giai đoạn từ 1971 đến 1972 đã thực hiện 2 cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu tổng cộng 72 ngày; năm 1973 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; từ tháng 10 năm 1975 đến tháng 12 năm 1979 đã trải qua sự nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 đã quay trở lại phân lớp tàu tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1986 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài lần lượt 239, 108, 60 và 111 ngày với sự bổ sung nhiên liệu dự trữ trong các căn cứ cơ động; 20 tháng 3 năm 1981 trong khu vực sẵn sang chiến đấu đã va chạm ở vị trí nổi với tàu ngầm mang tên lửa có cánh K-43 Đề án 670 – va thành bên phải với sống mũi tàu; năm 1984-84 đã trải qua sửa chữa định kỳ; tháng 3 năm 1986 trong thời gian phục vụ chiến đấu đã sự hóa mặn đường bao số 2 của hai thành tàu, việc sửa chữa ở căn cứ cơ động kéo dài 15 ngày; năm 1989 đã trải qua sửa chữa căn bản ở xưởng số 30, tháo dỡ các lò phản ứng, 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Pavlov, còn 28 tháng 9 năm 1992 - ở vịnh Chazhma.

+ K-189; từ 15 tháng 1 năm 1978 là K-144 (số hiệu xưởng 173); khởi công 6 tháng 4 năm 1963 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1964; gia nhập biên chế 24 tháng 7 năm 1965; 11 tháng 8 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1968 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 109 ngày; từ tháng 12 năm 1968 đến tháng 12 năm 1970 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân chiến đấu kéo dài 50 ngày; tháng 11 năm 1972 đến tháng 9 năm 1973 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1976 đã trải qua cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 120 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; 11 tháng 3 năm 1976 đã xuất hiện tai nạn ngập nước trong khoang lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 12 năm 1976 đến tháng 5 năm 1982 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; năm 1983 đến 1985 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 282 ngày với sự bổ sung lượng dự trữ ở các căn cứ cơ động và 2 cuộc hành quân kéo dài 62 ngày; 22 tháng 11 năm 1984 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về chuẩn bị huấn luyện tên lửa; năm 1987 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 223 ngày với sự bổ sung nguồn dự trữ ở các căn cứ cơ động; năm 1991 ngừng khai thác thiết bị năng lượng chính vì lý do hết thời gian phục vụ; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #64 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2012, 05:39:01 pm »

+ K-57, từ năm 1979 là K-557; từ năm 1992 là B-557 (số hiệu xưởng 174); khởi công 19 tháng 10 năm 1963 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 26 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1965; 25 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1968 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 164 ngày; từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 12 năm 1970 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 50 ngày; năm 1973 đã tiến hành sự tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; năm 1975 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 49 ngày; 25 tháng 1 năm 1975 ở căn cứ đã xảy ra tai nạn với sự không khởi động được hệ thống chữa cháy ở khoang số 5, 2 người đã hy sinh; từ tháng 10 năm 1976 đến tháng 12 năm 1979 đã trải qua sửa chữa và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; 25 tháng 7 năm 1977 đã trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từu 1980 đến 1989 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 250 ngày với sự tiếp tế dự trữ trong các căn cứ cơ động; 20 tháng 5 năm 1984 trong khu vực phục vụ chiến đấu đã xảy ra sự bốc cháy trong ổ ắc quy số 1, việc dập lửa được thực hiện bằng sức người; năm 1986 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; năm 1991 bị hạn chế hoạt động theo khả năng khai thác sử dụng của thiết bị sản xuất hơi nước thành bên trái; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.

+ K-31, từ năm 1987 là K-431 (số hiệu xưởng 175); khởi công 11 tháng 1 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 8 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1965; 11 tháng 11 năm 1965 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1965-68 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 56 ngày; từ tháng 7 năm 1968 đến tháng 6 năm 1971 đã trải qua trung tu với sự thay thế các máy phát điện hơi nước ở xưởng “Zvedochka”; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 90 ngày; năm 1974-75 đã tiến hành tái nạp nhiên liệu cho các lò phản ứng; trong giai đoạn từ 1976 đến 1981 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 223 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 12 năm 1981 đến tháng 12 năm 1982 đã trải qua sửa chữa; tháng 8 năm 1983 đến tháng 3 năm 1984 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu 193 ngày; 10 tháng 8 năm 1985 ở xưởng khi tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng đã xảy ra vụ nổ nóng 10 người hy sinh, trên tàu có đám cháy lớn, việc dập lửa chỉ có thể tiến hành ở khoang bị ngập nước, khu vực nhiễm phóng xạ trong khu vực bán kính 150 mét, tàu ngầm với sự hỗ trợ kéo đã cứu kéo được phần cuối mũi tàu lên cạn; 16 tháng 9 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazma.

+ K-48 (số hiệu xưởng 176); khởi công 11 tháng 4 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 16 tháng 6 năm 1965; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; 15 tháng 1 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1966 đến 1969 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 104 ngày; 23 tháng 10 năm 1967 được tặng thưởng Kỷ niệm chương của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao và Hội đồng Bộ trưởng Liên bang Xô Viết; năm 1970-1973 đã trải qua trung tu với sự thay thế các máy phát điện hơi nước và nâng cấp theo Đề án 675-K; 25 tháng 7 năm 1977, trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; năm 1977 đã tái nạp nhiên liệu cho lò phản ứng; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 10 tháng 11 năm 1978 trong thời gian bơi ở vị trí ngầm ở độ sâu 63 mét đã bị ngập nước trong khoang lò phản ứng qua ống dẫn tuabin của đường bao số 5; năm 1979 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 155 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; năm 1982-84 đã trải qua trung tu ở xưởng số 30; năm 1985-86 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 198 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; 22 tháng 12 năm 1987 ở căn cứ khi nạp điện lại cho pin ắc quy đã xảy ra vụ nổ ở ổ ắc quy ở khoang số 2, pin ắc quy bị hỏng; năm 1989 bị hạn chế sử dụng thiết bị năng lượng chính ở khu vực huấn luyện chiến đấu; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán và đưa vào neo đậu ở vịnh Severnưi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #65 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2012, 07:49:24 pm »

+ K-56, từ năm 1992 là B-56 (số hiệu xưởng 177); khởi công 30 tháng 5 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 10 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế 26 tháng 8 năm 1966; 9 tháng 9 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1967 đến 1970 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 98 ngày; từ tháng 8 năm 1970 đến tháng 8 năm 1972 đã trải qua sửa chữa với sự thay thế các máy phát điện hơi nước; 14 tháng 6 năm 1973, ở khu vực căn cứ trong vị trí nổi đã va chạm với tàu “Akademic Berg” bị thủng hai thân ở khu vực vách ngăn khoang số 2 – bị đắm hoàn toàn (thủy thủ đoàn trong khoang hy sinh), tàu được kéo lên bờ do bị hỏng nặng, sau đó được kéo bằng các tàu cứu kéo của Hải quân trên cầu phao về căn cứ; 14 tháng 7 năm 1977 ở biển trong độ sâu 80 mét đã xảy ra sự cố ở máy phát điện tuabin thành bên phải, tàu ngầm nguyên tử trong vị trí nổi đã thông gió khoang và tiếp tục phục vụ; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; năm 1977, sự cố không kính của lò phản ứng thành bên phải được khắc phục, sau đó tàu được đưa vào sửa chữa ; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978, tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; từ tháng 6 năm 1978 đến tháng 6 năm 1986 đã trải qua nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”; năm 1988 đã thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu kéo dài 215 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; 21 tháng 4 năm 1989 ở căn cứ, trong khoang số 8 đã xảy ra đám cháy, việc dập lửa được thực hiện bằng sức người; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Pavlov.

+ K-10 (số hiệu xưởng 178); khởi công 24 tháng 10 năm 1964 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1965; gia nhập biên chế 15 tháng 10 năm 1966; 31 tháng 10 năm 1966 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1966 đến 1970 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 163 ngày; từ tháng 1 năm 1970 đến tháng 12 năm 1971 đã trải qua trung tu; trong giai đoạn từ 1972 đến 1973 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 92 ngày; tháng 7 năm 1976 ở căn cứ, trong thời gian nạp pin ắc quy đã xảy ra sự đóng mạch ngắn; tháng 8-10 năm 1976 đã tiến hành sự tái nạp nhiên liệu của các lò phản uwngsl 28 tháng 2 năm 1977 ở trên biển đã bị hỏng bộ truyền động của máy phát điện tuabin thành bên phải; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978 đã thực hiện cuộc hành quân kéo dài phục vụ chiến đấu 46 ngày; 1 thnags 6 năm 1979 trong thời gian nạp điện pin ắc quy đã xảy ra vụ nổ trong ổ ắc quy số 1, tàu bị thương bên trong; từ tháng 7 năm 1980 đến tháng 6 năm 1981 đã trải qua sữa chữa định kỳ; 21 tháng 1 năm 1983, khi ở dưới nước đã va chạm với tàu ngầm nước ngoài và bị thương ở phần đuôi mũi thân tàu; 26 tháng 9 năm 1984 được mang đi sửa chữa và tái trang bị theo Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvedochka”, 30 tháng 5 năm 1989 việc sửa chữa và tái trang bị chấm dứt; năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và năm 1991 đưa đi neo đậu ở vịnh Pavlov; 1 tháng 9 năm 1994 giải thể và năm 1994-96 mang đến xưởng “Zvezda” để tháo dỡ.

+ K-94, từ 25 tháng 7 năm 1977 là K-204, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-204 (số hiệu xưởng 179); khởi công 20 tháng 3 năm 1965 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 20 tháng 5 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1966; 27 tháng 1 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1967 đến 1969 đã thực hiện 4 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 198 ngày; tháng 12 năm 1969 ở căn cứ đã xảy ra tai nạn với sự ngập nước trong hầm khoang số 9, trên tàu trang bị điện và máy móc trong khoang bị hỏng; năm 1972 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 50 ngày; từ tháng 12 năm 1972 đến tháng 9 năm 1976 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng số 49 trong đó, năm 1975 đã tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; tháng 3 năm 1976 đã xảy ra sự bốc cháy tong máy phát điện tuabin thành bên trái; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 1978 đến 1983 đã thực hiện 2 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 90 ngày và 2 cuộc hành quân sẵn sàng chiến đấu kéo dài 181 và 211 ngày với sự bổ sung dự trữ trong các căn cứ cơ động; trong năm 1983-84 trong đường bao số 1 của thiết bị năng lượng chính đã xảy ra tai nạn không lớn, sau đó năm 1987, tàu được đưa đi sửa chữa phục hồi; tháng 1 năm 1991 trong giai đoạn sửa chữa đã xảy ra tai nạn, kết quả là cả hai thiết bị sản xuất hơi nước đều bị hỏng; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán, tháo các lò phản ứng; năm 1996 được mang đi neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #66 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2012, 08:45:59 pm »


+ K-108 (số hiệu 180); khởi công 24 tháng 7 năm 1965 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1966; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1967; 25 tháng 11 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1974 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 138 ngày; 16 tháng 11 năm 1970 đã xảy ra sự bốc cháy pin ắc quy, làm hỏng 7 phần tử; năm 1974-76 đã trải qua trung tu; năm 1977 đã thực hiện cuộc hành quân chiến đấu dài ngày tổng cộng 36 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm cỡ lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1978-79 đã tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; năm 1981-82 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 96 ngày; năm 1983-85 đã trải quả sửa chữa định kỳ; năm 1989 đã tháo các lò phản ứng, sau đó 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Pavlov, từ 28 tháng 9 năm 1992 – vịnh Chazma.

+ K-7, từ năm 1974 là K-127; từ năm 1989 là B-192 (số hiệu xưởng 181); khởi công 6 tháng 11 năm 1965 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1966; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1967; 24 tháng 10 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1972, đã thực hiện 5 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 310 ngày; tháng 4-5 năm 1970 trong khuôn khổ cuộc hành quân “Okean” lần đầu tiên các từ các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đã hoàn thành cuộc hành quân tới Ấn Độ Dương cùng với tàu chống ngầm cỡ lớn “Otvazhnưi” Đề án 61. đã thực hiện việc bắn chính xác tổ hợp tên lửa trong các điều kiện nhiệt đới; từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 10 năm 1974 đã trải qua trung tu; trong giai đoạn từ 1975 đến 1978 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu; từ năm 1979 đến 1980 đã trải qua sửa chữa định kỳ; trong giai đoạn 1982 đến 1983 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 253 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các cảng căn cứ cơ động; năm 1984 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 85 ngày, bơi dưới nước 14 630 dawmjl từ tháng 2 năm 1984 đến tháng 3 năm 1988 đã trải qua trung tu ở xưởng “Zvezda”; từ năm 1989 đã nhận quyết định về việc sử dụng tàu ngầm chỉ trong các khu vực huấn luyện chiến đấu; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazma.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #67 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2012, 05:07:01 pm »


+ K-23; (số hiệu xưởng 182); khởi công 23 tháng 2 năm 1966 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 18 tháng 6 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1967; 11 tháng 1 năm 1968 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong giai đoạn từ 1968 đến 1971 đã thực hiện 3 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 125 ngày; 7 tháng 4 năm 1970 được tặng thưởng Huân chương Lenin; năm 1975 trong khi đang trên biển đã xảy ra sự hóa mặn đường bao số 2 và hỏng thiết bị năng lượng chính; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; từ tháng 3 năm 1977 đến tháng 10 năm 1984 đã trải qua trung tu và nâng cấp theo Đề án 675-MK ở xưởng “Zvezda”, trong đó; năm 1983 đã tiến hành tái nạp điện cho các lò phản ứng; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1986-87 đã thực hiện cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài 290 ngày với sự bổ sung dự trữ ở các căn cứ cơ động; năm 1989 đã nhận giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về sự huấn luyện tên lửa; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và đưa vào neo đậu ở vịnh Chazhma; từ 25 tháng 11 năm 1992 - ở vịnh Vladimir, từ 10 tháng 12 năm 1996 – vịnh Pavlov.

+ K-34; từ năm 1980 là K-134; từ 1993 là B-134 (số hiệu xưởng 183); khởi công 18 tháng 6 nă  1966 ở “xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin” (số 199) tại Komsomod-na-Amur; hạ thủy 23 tháng 9 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1968; 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 1969 đến 1978 đã thực hiện 6 cuộc hành quân phục vụ chiến đấu kéo dài tổng cộng 304 ngày; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ tháng 8 năm 1979 đến tháng 4 năm 1980 trải qua sửa chữa định kỳ với sự tái nạp điện cho các lò phản ứng; năm 1982-1988 đã qua trung tu và nâng cấp thành Đề án 675-MKV ở xưởng “Zvezda”; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; từ năm 1993 theo kết luận về thiết bị tuabin, việc sử dụng bị hạn chế trong khu vực huấn luyện chiến đấu và khu vực biển gần bờ; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và neo đậu ở vịnh Pavlov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #68 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2012, 05:17:19 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 4450

+ ngầm: 5760

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 115,4

+ chiều rộng nhất: 9,3

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-A, tổng công suất, mW: 140

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OKA-150, 2 thiết bị tuabin răng cưa GZTA-601

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 35 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin GPM-21, công suất, kW: 2x1400

+ 2 động cơ phát điện – diesel DG-400, công suất, kW: 2x450

+ 2 động cơ điện bổ sung PG-116, công suất, sức ngựa: 2x140

2 trục, 2 chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 14…15

+ ngầm: 29

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 240

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 137 (22).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #69 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2012, 05:33:08 pm »


Trang bị

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng tên lửa chống tàu có cánh P-6/P-6M: 8x1

+ tên lửa chống tàu có cánh 4K88/4K48 (SS-N-3B “Sepal” hoặc tên lửa có cánh P-5D (SS-N-3S “Shaddock”): 8

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SET-53M hoặc 53-61: 8

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mạn)

+ các ngư lôi 400mm SET-40: 4

Thủy lôi (mìn)

+ có thể mang theo thủy lôi thay cho bộ phận ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ Hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu: -

+ Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” (Snoop Tray)

+ Hệ thống thủy âm: MG-200M “Arktika-M”

+ Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực: 1x”Argument” (Front Piece/Front Door) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-6

+ Các khí tàu tác chiến điện tử: “Nakat-M” (Quad Loop D/F); “Van” (Stop Light); (Brick Pulp)

+ Tổ hợp đạo hàng: “Sila N-675”; “Lira-11”; “Mayak”

+ Tổ hợp thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

+ Đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM