daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2012, 05:58:17 pm » |
|
Đề án 670 “Skat” (Charlie-I class) Tổng số tàu đã đóng: 11 Các biến thể + 670 “Skat” (Charlie-I class) – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tên lửa chống tàu có cánh khởi động dưới nước P-70 “Ametist” (1967) + 06709 (Charlie-I class) – phiên bản tàu ngầm mang tên lửa có cánh cho Hải quân Ấn Độ (năm 1984) + 670-M “Skat-M” (Charlie-II class) – phiên bản hiện đại hóa với tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh mới P-120 (1973) + 06704 “Chaika-B” (Charlie-III class) – tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh, được trang bị để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Oniks” (1992). Vào cuối những năm 1950, ở Liên Xô đã phát triển các công việc về hình thành hình dáng các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2, được sử dụng cho việc sản xuất số lượng lớn và có xu hướng giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu khác nhau, một trong số các nhiệm vụ truyền thống là chống lại các tàu sân bay, đồng thời các tàu lớn của địch. Sau khi nghiên cứu hàng loạt các đề cử của phòng thiết kế về nhiệm vụ kỹ thuật với sự thiết kế tàu ngầm nguyên tử đơn giản và giá thành rẻ Đề án 670 (mã số “Skat” – Cá đuối), được tối ưu hóa để chống lại các mục tiêu nổi, đã giao cho Phòng thiết kế - thí nghiệm Gorsky số 112 (từ năm 1974 là Phòng thiết kế Trung ương “Lazurit”) tháng 5 năm 1960. Đây là tập thể công trình sư trẻ, được thành lập trong năm 1953 trong khi xưởng “Krasnoe Sormovo”, trước đó làm công việc về động cơ điện – diesel Đề án 613 (cụ thể, đã chuẩn bị các tài liệu theo các tàu này, để bàn giao cho Trung Quốc). Vì thế, việc chế tạo các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên đối với Phòng thiết kế - thí nghiệm là sự thử thách quan trọng. Tổng công trình sư của Đề án được giao cho V.P.Vorobiev, giám sát viên chính từ Hải quân – B.R.Mastyshkin. Sự khác biệt cơ bản của tàu mới so với tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh thế hệ thứ nhất (Đề án 659 và Đề án 675) là sự trang bị tổ hợp tên lửa có cánh chống tàu “Ametist” với sự khởi động ngầm (dưới nước) (nhà thiết kế chính – Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52). Mệnh lệnh của Nhà nước về việc chế tạo tổ hợp này đưa ra vào mùng 1 tháng 4 năm 1959.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2012, 06:29:12 pm » |
|
Một trong những vấn đề phực tạp nhất khi thiết kế Đề án tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh mới là cơ sở sản xuất hàng loạt được dự định hạn chế ở thành phố Gorki, ở trung tâm nước Nga, cách xa khu vực gần biển hơn hàng nghìn kilomet, đã buộc phải xác định các kích thước và lượng choán nước của tàu trong các giới hạn, cho phép vận chuyển tàu theo tuyến đường thủy nội bộ.
Kết quả cho các công trình sư là việc tiếp nhận (và “khai phá” của phía đặt mua) hàng loạt các giải pháo kỹ thuật phi truyền thống của Hải quân Liên Xô, trái ngược với “Các quy định về thiết kế tàu ngầm”. Chi tiết, đã quyết định chuyển sơ đồ 1 trục, đồng thời hy sinh sự đảm bảo khả năng nổi khi ngập nước một trong số các khoang kín không tràn nước. Tất cả cho phép bố trí trong các khuôn khổ đề án phác họa trong lượng choán nước tiêu chuẩn 2400 tấn (trong đó, trong quá trình thiết kế tiếp theo, tham số này đã được tăng lên thành 3000 tấn).
Theo so sánh với các tàu ngầm thế hệ thứ 2 khác, được thiết kế dưới công suất mạnh, nhưng với tổ hợp thủy âm “Rubin” đủ mạnh và kích thước lớn, trên Đề án 670 đã quyết định dừng tổ hợp thủy âm gọn hơn “Kerch”.
Năm 1959 ở Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52 đã phát triển đề án phác họa tổ hợp tên lửa “Ametist”. Trong sự khác biệt với tổ hợp tên lửa được thiết kế tại “Chelomen” là tên lửa chống tàu có cánh thế hệ thứ nhất P-6 và P-35, sử dụng động cơ tên lửa tuabin phản lực, trên tên lửa với sự khởi động ngầm đã quyết định tiếp nhận sử dụng động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, dẫn tới việc giảm một cách đáng kể tần bắn tối đa. Tuy nhiên, giải pháp khác ở thời gian đó đơn giản là không có, bởi vì trình độ kỹ thuật vào cuối những năm 1950 không có khả năng chế tạo hệ thống phóng động cơ tên lửa phản lực – không khí khi bay sau khi tên lửa khởi động. Các thí nghiệm tên lửa chống tàu có cánh “Ametist” đã bắt đầu vào năm 1961.
Sự phê chuẩn đề án kỹ thuật tàu ngầm nguyên tử mới diễn ra vào tháng 7 năm 1963, tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 có thiết kế hai thân với các đường bao dạng thoi của thân ngoài, có ở bộ phận mũi tiết diện hình elip bố trí vũ khí tên lửa.
Sự tiếp nhận các hệ thống thủy âm kích thước lớn, đồng thời hướng tới đảm bảo cho chúng khả năng tối đa các góc quan sát trong phạm vi mạn tàu, gọi là “sự làm tù” các đường bao mũi. Theo các nguyên nhân này, bộ phận các khí tài đã được bộ trí ở bộ phận trên phần cuối mùi của thân ngoài. Các bánh lái ngang trước (lần đầu tiên trong thực tế của ngành đóng tàu ngầm nội địa) được dịch chuyển tới phần giữa thân tàu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2012, 06:56:33 pm » |
|
Thân trong tàu được làm từ thép AK-29. Trong phần cuối bộ phận mũi được kéo dài 21 mét, tàu có hình dáng của “38”, có dạng hình trụ với đường kính nhỏ, có sự cần thiết bố trí trong thân ngoài các thùng tên lửa. Thân được chia thành 8 khoang không thấm nước: 1-(gồm ba hình trụ) – các khoang ngư lôi, cho người và ắc quy 2-Khoang cho thủy thủ đoàn 3-Khoang trạm trung tâm và ắc quy 4-Khoang máy (động cơ) điện 5-Khoang lò phản ứng 6-Khoang tuabin 7-Khoang máy (động cơ) điện Vách ngăn cuối phần mũi, đồng thời 6 vách ngăn giữa các khoang được chế tạo bằng phẳng, chúng phải chịu được áp lực đến 15kg lực/cm2. Thân ngoài, các thùng tải trọng dằn và mui vững chắc được chế tạo từ thép ít từ tính, còn thượng tầng và vách ngăn thiết bị di động của mui – từ hợp kim nhôm. Trong các nắp chụp của các ăng ten thủy âm, đồng thời trong các bộ phận thấm của phần cuối mạn tàu và trong cánh đuôi sử dụng hợp kim titan. Sự tiếp nhận các vật liệu khác nhau, trong hàng loạt các trường hợp tạo thành cặp tĩnh điện, yêu cầu tiếp nhận các biện pháp đặc biệt để bảo vệ khỏi sự ăn mòn (thiết bị bảo vệ kẽm, lớp đệm…). Để giảm tiếng ồn thủy âm khi di chuyển với tốc độ lớn, đồng thời tăng cường các tính năng thủy động lực lần đầu tiên trên các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đã tiếp nhận các cơ chế che chắn các lỗ thoát nước và thông gió. Thiết bị năng lượng chính công suất 15 000 sức ngựa trong trong mức độ đáng kể đã dduwowcjd đồng nhất với thiết bị năng lượng của Đề án 671 với công suất gấp đôi – lò phản ứng thiết bị sản xuất hơi nước đơn OK-350 gồm có lò phản ứng nước VM-4 (89,2 mW). Tuabin răng cưa GZTA-631 truyền động trong sự quay của chân vịt 5 cánh. Đồng thời có 2 động cơ phụt nước với thiết bị truyền động điện (công suất 270kW), đảm bảo khả năng di chuyển với tốc độ 5 hải lý.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2012, 09:48:33 pm » |
|
Cũng như trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 khác, trên tàu ngầm Đề án 670 trong hệ thống trong sự phát sinh và sự phân phối năng lượng điện đã sử dụng dòng điện xoay chiều 3 pha có hiệu điện thế 380V và tần số 50Hz.
Tàu được trang bị 2 máy phát điện tuabin tự động TMVV-2 (2000kW), máy phát điện diesel của dòng điện xoay chiều công suất 500kW với hệ thống điều khiển tự động hóa từ xa, đồng thời hai nhóm pin ắc quy (mỗi nhóm 112 phần tử).
Các biện pháp giảm trường thủy âm của tầu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh bao gồm sự tiếp nhận sự tự động hóa cách âm của các máy móc và bệ của chúng, đồng thời lớp ốp các vách ngăn và lớp lát boong được phủ bằng lớp chống rung. Toàn bộ bề mặt ngoài của thân ngoài, thượng tầng và vách ngăn mui đồng thời được bọc bằng lớp che cao su chống thủy âm. Lớp phủ tương tự có ở bề mặt ngoài thân trông. Nhờ đó, đồng thời bố cục một trục và một tuabin, tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 có độ ồn thủy âm rất thấp trong thời điểm đó (trong số các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2, nó được đánh giá ít tiếng ồn nhất). Trong toàn bộ hành trình, trong phạm vi siêu âm, các tần số tiếng ồn của tàu ngầm không quá 80 desiben, còn phạm vi âm thanh – 110 desiben và trong phạm vi hạ âm – 100 desiben. Ngoài ra, phần lớn phạm vi thủy âm trùng với tiếng ồn của biển. Để giảm từ tính, trên tàu ngầm lắp khí tàu khử từ.
Hệ thống thủy âm của tàu được phân chia thành ba phân hệ thống tự động, phục vụ cho việc dẫn động các khí tài tổng hợp của tàu, các nắp thùng tên lửa, đồng thời bánh lái. Trong quá trình khai thác sử dụng các tàu ngầm, chất lỏng làm việc của hệ thống thủy âm, do tính chất dễ cháy nguy hiểm của nó là vấn đề thường xuyên gây “đau đầu” cho thủy thủ đoàn, được thay mới, ít tính chất gây cháy hơn.
Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 670 có hệ thống điện phân tại chỗ (cố định) tái sinh không khí (cho phép chống lại nguồn tăng cường nguy hiểm gây cháy). Hiệu quả chống lại lửa đảm bảo bằng hệ thống dập lửa freon.
Tàu được trang bị tổ hợp đạo hàng quán tính “Sigma-670”, các tính năng chính xác của nó vượt trội 1,5 lần các tính năng tương ứng của khí tài đạo hàng trên tàu ngầm thế hệ thứ nhất. Tổ hợp thủy âm “Kerch” đảm bảo tầm xa phát hiện mục tiêu đến 25km. Đề điều khiển các khí tài chiến đấu mang theo của tàu ngầm đã lắp hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Brest”.
Theo so sánh với các tàu ngầm thế hệ thứ nhất trên tàu Đề án 670 được tăng cường tự động hóa cao. Chi tiết, sự điều khiển tự động hóa của tàu ngầm ở độ sâu và theo vòng, cân bằng trong khi hoạt động và neo đậu, quá trình lặn và nổi, ngăn ngừa độ mớn nước và sự sụt, điều khiển sự sẵn sàng trong việc bắn tên lửa và ngư lôi…
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2012, 09:53:15 pm » |
|
Các bản vẽ thiết kế tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chống tàu có cánh Đề án 670:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2012, 09:53:46 pm » |
|
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2012, 10:26:12 pm » |
|
Hình vẽ và chú thích tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 Tàu ngầm nguyên tử tuần dương Đề án 670 Lượng choán nước ngầm: 4800 tấn; tốc độ nổi: 17 hải lý; tốc độ ngầm: 24 hải lý; trang bị: 8 tên lửa chống tàu có cánh, 6 thiết bị ngư lôi 533mm; chiều dài: 94 mét; chiều rộng: 9,9 mét; lượng mớn nước: 7,5 mét Các số trên hình vẽ 1-Đài ăng ten thủy âm “Kerch”; 2-Các thiết bị ngư lôi; 3-Các ngư lôi dự trữ; 4-Các pin ắc quy; 5-Khoang ngư lôi; 6-Khoang dành cho người ở; 7-Trạm trung tâm; 8-Khoang máy và trang thiết bị điện hỗ trợ; 9-Khoang lò phản ứng; 10-Khoang tuabin; 11-Khoang mạn tàu; 12-Thùng phóng tên lửa
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2012, 05:25:16 pm » |
|
Khoang dành cho người ở được tăng cường. Toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu được đảm bảo giường ngủ cá nhân. Có buồng chỉ huy dành cho các sĩ quân và nhà ăn cho thủy thủ và chuẩn úy. Nội thất thiết kế hợp lý. Trên tàu có đèn chiếu sang ban ngày. Để cứu nạn cá nhân đoàn trong trường hợp khẩn cấp (từ độ sâu 400 mét) đã sử dụng khoang cứu nạn hình thoi, bố trí trước vách ngăn mui.
Trang bị tên lửa của tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 – 8 tên lửa chống tàu có cánh “Ametist” – bố trí trong các thiết bị thùng phóng SM-97, bố trí theo hai bên thành trong bộ phận trước của tàu ngoài thâm trong dưới góc 32,5 độ theo phương ngang. Tên lửa nhiên liệu rắn P-70 (4K-66, theo mã số NATO – SS-N-7 “Starbight”) khối lượng khởi động 2900kg có tầm bắn tối đa 80km và tốc độ 1160km/h. Tên lửa được thiết kế theo sơ đồ khí động học tiêu chuẩn và có cánh gấp, tự động mở ra sau khi khởi động. Sự bay diễn ra trên tầm thấp tương đối (50…60 mét), dẫn đến sự khó khăn khi bám bắt tên lửa bằng các khí tài phòng không thuộc tàu địch. Hệ thống ra đa định vị tự dẫn bắn của tên lửa chống tàu có cánh đảm bảo sự tự động lựa chọn mục tiêu lớn nhất (là mục tiêu, có bề mặt phản xạ lớn nhất). Trong cơ số đạn của tàu ngầm gồm có 2 tên lửa, trang bị đạn hạt nhân (công suất 1 kiloton), đồng thời 6 tên lửa với đầu đạn thường khối lượng 1000kg. Việc bắn tên lửa chống tàu có cánh có thể thực hiện bằng loạt bắn hai loạt phóng 4 tên lửa từ độ sâu 30 mét khi tốc độ của tàu không quá 5,5 hải lý và sóng cấp độ 5. Một trong số các nhược điểm của tên lửa P-70 “Ametist” là vết khói lớn (dày, đặc), còn giữ lại trên động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, làm mất sự ngụy trang tàu ngầm trong thời gian phóng tên lửa chống tàu có cánh.
Trang bị ngư lôi của tàu ngầm Đề án 670 được bố trí ở phần mũi tàu gồm có các thiết bị ngư lôi 533mm với cơ số đạn 12 ngư lôi 53-65K, SAET-60M hoặc SET-65, đồng thời 2 thiết bị ngư lôi 400mm (4 ngư lôi SET-40 hoặc MGT-2). Thay cho ngư lôi, tàu ngầm có thể mang trên thành 26 thủy lôi. Ngoài ra, trong cơ số đạn ngư lôi gồm có các mục tiêu giả “Anabar”. Sự điều khiển bắn ngư lôi được thực hiên bằng hệ thống điều khiển bắn “Ladoga-P-670”.
Ở phương Tây, các tàu Đề án 670 mang tên gọi lớp Charlie (“Charlie class”). Đáng chú ý, rằng sự xuất hiện của các tàu tên lửa mới trong biên chế Hải quân Liên Xô là vấn đề phức tạp đối với sự an toàn của các đoàn tàu sân bay Mỹ. Có độ ồn thấp so với các tàu ngầm tiền nhiệm – tàu ngầm nguyên tử Đề án 675 đã giảm sự tổn thương đáng kể cho tàu mới khỏi các khí tài săn ngầm của địch, còn sự khởi động ngầm của các tên lửa đã làm cho vũ khí chính của chúng có hiệu quả lớn đáng kể. Do tầm bắn gần của tổ hợp “Ametist” yêu cầu tới gần mục tiêu trên tầm xa 60 – 70km. Tuy nhiên, việc này có ưu điểm của nó: thời gian bay ở độ cao thấp là vấn đề gây khó khăn lớn trong việc tấn công chúng từ dưới nước ở tầm gần (cự ly “dao găm”).
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Giêng, 2012, 03:20:10 pm gửi bởi daibangden »
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2012, 06:15:51 pm » |
|
Biến thể Trong những năm 1980, 5 tàu ngầm Đề án 670 (K-212, K-302, K-308, K-313 và K-320) đã chịu sự nâng cấp với việc thay thế tổ hợp thủy âm “Kerch” bằng tổ hợp thủy âm mới “Rubicon”. Ngoài ra, trên toàn bộ các tàu ngầm, trước vách ngăn di động của khoang được lắp khí tàu cân bằng thủy cơ khí – tiết diện phẳng với góc âm xung kích (?), để bù trừ sự nổi thừa “phình to” của mũi tàu. Một số tàu ngầm trong lớp mượn chân vịt kiểu cũ được nhận các chân vịt bốn cánh tiếng ồn thấp đường kính 3,92 mét và 3,82 mét lắp theo dạng tiếp đôi trên một trục. Năm 1983, tàu ngầm nguyên tử K-43, được dự kiến bán cho Ấn Độ đã trải qua đạ tu và nâng cấp thành Đề án 06709, kết quả là tàu ngầm này nhận tổ hợp thủy âm “Rubicon”. Đồng thời trong quá trình hoạt động cũng đã lắp hệ thống điều hòa không khí, trang bị các phòng mới cho sỹ quan và thủy thủ đối với thủy thủ đoàn, tháo các khí tài thông tin liệc lạc và điều khiển bí mất. Sau khi hoàn thành huấn luyện cho thủy thủ đoàn Ấn Độ, tàu một lần nữa được đưa vào sửa chữa và mùa hè năm 1987 đã chuẩn bị hoàn toàn việc chuyển giao. Mùng 5 tháng 1 năm 1988, K-43 (trước đó đã được đổi tên thành UTS-500) đã được mang đến Vladivostoc và mang cờ Ấn Độ và sau vài ngày đã về đến Ấn Độ. Trong sự phát triển tiếp theo, trên cơ sở Đề án 670 đã chế tạo đề án hiện đại hóa – Đề án 670-M - với các tên lửa “Malakhii” hiện đại hơn với tầm bắn 120km. Chương trình đóng tàu Từ năm 1967 đến năm 1973 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” ở Gorki (bây giờ là Nhizhni Novgorod) đã đóng 11 tàu ngầm Đề án 670). Sauk hi vận chuyển trên xà lan chuyên dụng qua các hệ thống sông Volga, Marin và kênh Baltic-Biển Trắng, các tàu được đưa đến Severodvinsk, ở đó, công việc đóng nốt được thực hiện cùng các thí nghiệm và bàn giao cho phía nhận tàu (Hải quân). Đáng chú ý, rằng trong các giai đoạn đầu, có thực hiện chương trình xem xét triển khai đóng Đề án 670 ở biển Đen, nhưng đã bị dừng lại, nguyên nhân đầu tiên là vấn đề về địa lý (vấn đề rất lớn để vận chuyển tàu đến biển Đen). Biên bản tiếp nhận tàu đầu tiên – K-43 – được ký ngày 6 tháng 11 năm 1967, còn mùng 3 tháng 7 năm 1968, sau các thí nghiệm trên K-43, trong biên chế Hải quân đã tiếp nhận tổ hợp tên lửa “Ametist” với tên lửa P-70. Từ năm 1973 đến 198, trong cùng xưởng ở Gorki đã đóng thêm 6 tàu ngầm được nâng cấp theo Đề án 670-M.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Giêng, 2012, 09:08:42 pm gửi bởi daibangden »
|
Logged
|
|
|
|
daibangden
Trung tá

Bài viết: 14469
Чёрный Орёл
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 12 Tháng Giêng, 2012, 09:07:47 pm » |
|
Tình hình đến năm 2007 Tàu đầu tiên trong Đề án 670 – K-43 – gia nhập biên chế sư đoàn 11 phân hạm đội tàu ngầm số 1 Hạm đội Phương Bắc. Sau đó, đơn vị này tiếp tục nhận các tàu còn lại trong Đề án. Ban đầu, tàu ngầm Đề án 670 được xếp vào lớp tàu ngầm tuần dương, 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn, nhưng từ 15 tháng 1 năm 1978 một lần nữa quay trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương, còn 28 tháng 4 năm 1992 (các tàu ngầm riêng – 3 tháng 6) – phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn. Các tàu ngầm Đề án 670 đã bắt đầu phục vụ sẵn sàng chiến đấu trong năm 1972. Chúng đã thực hiện việc giám sát các tàu sân bay Mỹ, tham gia một cách tích cực và các cuộc hành quân và tập trận khác nhau, trong đó, lớn hơn cả là “Okean-75” (Đại dương–75), “Sever-77” (Phía Bắc-77), “Razbeg-81” (Chạy đà-81)… Trong năm 1977, nhóm bắn tên lửa chống tàu có cánh “Ametist” đầu tiên gồm có hai tàu ngầm tuần dương mang tên lửa có cánh Đề án 670 và một tàu tuần dương tên lửa. Một trong số những khu vực chính, nơi các tàu ngầm Đề án 670 trực chiến nhiều nhất là Địa Trung Hải. Trong những năm 1970-80, đó là nơi thu hút sự quan tâm chặt chẽ của hai cường quốc – Liên bang Xô Viết và Mỹ. Mục tiêu đầu tiên của các tàu tên lửa Liên Xô là các tàu chiến của Hạm đội 6 Hải quân Mỹ. Cần chú ý rằng, các điều kiện địa lý ở Địa Trung Hải đã làm cho các tàu ngầm Đề án 670 trở thành thứ vũ khí đáng sợ nhất ở đó. Sự có mặt của chúng hầu như không bị phát hiện bởi các tàu chiến Mỹ, không có khí tài đáng tin cậy nào của Mỹ phát hiện ra được mối đe dọa này. Sự biểu dương sức mạnh chiến đấu hiệu quả của các tàu ngầm Liên Xô là các cuộc bắn tên lửa vào các mục tiêu tiến hành ở Địa Trung Hải trong tháng 5 năm 1972 bởi tàu ngầm K-313. Lần lượt, địa bàn hoạt động của các tàu ngầm Đề án 670 thuộc Hạm đội Phương Bắc được mở rộng. Tháng 1-5 năm 1974 là cuộc hành quân di chuyển tổng hợp 107 ngày của tàu ngầm K-21 cùng với tàu ngầm Đề án 671 K-314 từ biển Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương theo hải trình hướng nam qua Ấn Độ Dương. Mùng 10-25 tháng 3, các tàu ngầm đã ghé vào cảng Berbera (Somali), ở đó các thủy thủ đoàn đã có kỳ nghỉ thời gian ngắn, sau đó, các tàu tiếp tục bơi và tới Kamchatka một cách thành công vào đầu tháng 5. Tháng 4 năm 1977, K-429 đã hoàn thành cuộc hành quân theo đường biển Bắc từ Hạm đội Phương Bắc tới Hạm đội Thái Bình Dương, ở đó, 30 tháng 4 năm 1977, tàu ngầm đã vào biên chế sư đoàn 10, phân hạm đội tàu ngầm số 2, đóng căn cứ ở Kamchatka. Trong tháng 8-9 năm 1979, trong cuộc hành quân tương tự kéo dài 20 ngày do tàu ngầm K-302 thực hiện. Sau đó, theo đường Biển Bắc tới Thái Bình Dương của K-43 (năm 1980), K-121 (năm 1977), K-143 (1983), K-308 (1985) và K-313 (1986).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|