Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:56:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330216 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #80 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 03:58:48 pm »


K-83 (từ tháng 1 năm 1978, là K-212) và K-325, 22 tháng 8 đến 6 tháng 9 năm 1978 đã hoàn thành, lần đầu tiên trong lịch sử cuộc hành quân quân di chuyển qua vùng cực tới Thái Bình Dương. Theo kế hoạch lúc đầu, tàu ngầm đầu tiên, bơi qua vùng cực từ biển Barents tới Chukotckoe, truyền tải tín hiệu về việc nổi, sau đó tàu thứ hai sẽ xuất phát . Tuy nhiên, đã xác định tuyến hành quân có khả năng đáng tin cậy và hiệu quả hơn – trong thành phần cụm tàu chiến thuật, để giảm sác xuất tai nạn khi bơi dưới lớp băng đá của các tàu ngầm một lò phản ứng (trong trường hợp lò phản ứng bị hỏng trên một trong số các tàu ngầm nguyên tử, tàu khác có thể tìm kiếm, hỗ trợ nó trong lớp băng). Ngoài ra, các tàu ngầm trong cụm tàu đã thực hiện hả năng hỗ trợ thông tin liên lạc với nhau khi có sự hỗ trợ của hệ thống thông tin liên lạc siêu âm ngầm trong chế độ điện thoại, cho phép các tàu phối hợp với nhau. Cụm hành quân đã giải quyết các câu hỏi về sự đảm bảo dưới mặt nước (hoặc dưới mặt băng) trong vấn đề kinh tế. Do sự tham gia trong chiến dịch này, các chỉ huy tàu, đòng thời là Tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 11 đã được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Toàn bộ các tàu Đề án 670 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương đều biên chế trong sư đoàn 10, phân hạm đội tàu ngầm số 2. Nhiệm vụ chính của chúng là giám sát (khi nhận được mệnh lệnh phù hợp – tiêu diệt) các tàu sân bay Mỹ. Cụ thể, K-201 tháng 12 năm 1980 đã thực hiện cuộc giám sát kéo dài nhóm tàu sân bay tiên công, dẫn đầu là tàu sân bay “Soral Sea”. Do thiếu số lượng các tàu ngầm chống ngầm  trong Hạm đội Thái Bình Dương, các tàu ngầm Đề án 670 được sử dụng vào nhiệm vụ tìm kiếm các tàu ngầm Mỹ trong khu vực tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược.

Bi kịch nhất là số phậm của K-429. 24 tháng 6 năm 1983, do sai lầm của thủy thủ đoàn, tàu bị chìm ở độ sâu 39 mét trên trường bắn huấn luyện ở vịnh Saran (gần bờ biển Kamchatka). Khi đó, 16 người hy sinh. 9 tháng 8 năm 1983, tàu ngầm được trục vớt (chính chiến dịch trục vớt cũng cũng đã tiến hành mà không phải không có lỗi: thêm 4 khoang “bổ sung” bị đắm, dẫn tới công việc trở nên nặng nề hơn). Công việc sửa chữa phục hồi tiêu tốn tới 300 triệu rúp hoàn thành vào đầu tháng 9 năm 1985. Tuy nhiên, sau một vài ngày, 13 tháng 9, do kết quả của việc bị hư hỏng quá nặng, con tàu bất hạnh một lần nữa đắm gần tường của xưởng ở Đá Lớn. Năm 1987, tàu không được đưa trở lại biên chế và bị loại khỏi biên chế Hải quân, cải tạo thành đài tập – huấn luyện UTS-130, đóng ở Kamchatka và được sử dụng cho đến nay.

Sau K-429, các tàu còn lại trong biên chế đến năm 1987, đầu năm 1990, các tàu ngầm khác thuộc Đề án 670 đã bị loại khỏi biên chế.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #81 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 04:18:22 pm »

Một trong số các tàu ngầm Đề án 670 – K-43 – đã trở thành tàu ngầm nguyên tử đầu tiên trong Hải quân Ấn Độ. Đầu năm 1970, Ấn Độ đã bắt đầu thực hiện chương trình quốc gia chế tạo tàu ngầm, nhưng công việc kéo dài 7 năm và tiêu tốn 4 triệu đô la không mang lại kết quả mong đợi: công việc quá phức tạp hơn là dự tính lúc đầu. Kết quả là đã có quyết định thuê một trong số các tàu ngầm nguyên tử từ Liên Xô – đồng minh chiến lược của Ấn Độ. Sự lựa chọn của Hải quân Ấn Độ là “Charlie” (các tàu lớp này đã thể hiện mình rất tốt trên Thái Bình Dương).

Năm 1983, trong trung tâm huấn luyện Hải quân ở Vladivostoc, sau đó, trên thành K-43, đã tiến hành việc bàn giao tàu cho Ấn Độ, bắt đầu là việc huấn luyện 2 thủy thủ đoàn người Ấn Độ. Tới thời điểm đó, tàu đã trải qua đại tu và nâng cấp theo Đề án 06709. Sau khi hoàn thành huấn luyện các thủy thủ đoàn, tàu ngầm một lần nữa được đưa vào sửa chữa và mùa hè năm 1987 đã chuẩn bị hoàn toàn việc chuyển giao. Mùng 5 tháng 1 năm 1988, K-43 (được đổi tên thành UTS-550) đã mang cờ Ấn Độ rời khỏi Vladivostoc và sau vài ngày đã cùng thủy thủ đoàn Liên Xô tới Ấn Độ.

Đối với K-43, tàu ngầm mới nhất và mạnh nhất trong Hải quân Ấn Độ mang tên “Charka” và số hiệu chiến thuật S-71, đã xây dựng căn cứ với những điều kiện thuận lợi nhất: bến tàu đặc biệt với cần cẩu 60 tấn, phục vụ đảm bảo an toàn phóng xạ, nhà triền mở, các phân xưởng. Khi đỗ, trên thành tàu được cung cấp nước, không khí nén và năng lượng điện. “Charka” được khai thác sử dụng trong Hải quân Ấn Độ trong vòng 3 năm, đó là thời gian gần với một cuộc hành quân dài ngày. Tất cả các lần bắn tên lửa  huấn luyện đều trúng trực tiếp mục tiêu. Mùng 5 tháng 1 năm 1991, thời hạn cho thuê đã hết. Ấn Độ đã đưa ra điều kiện lớn về chi trả tiền và thậm chí chế tạo thêm một tàu ngầm tương tự. Tuy nhiên, Moskva không đồng ý đề xuất này theo các nguyên nhân chính trị.

“Charka” trở thành trường đại học đối với tàu ngầm Ấn Độ. Nhiều sỹ quan đã phục vụ trên tàu, hiện nay đang nắm những vị trí chủ chốt trong Hải quân nước này (có thể nói, rằng tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh đã mang lại cho Ấn Độ 8 thống chế). Kinh nghiệm, nhận được trong quá trình khai thác sử dụng tàu nguyên tử đã cho phép tiếp tục các công việc về chế tạo tàu ngầm nguyên tử riêng của Ấn Độ “S-2”.

“Charka”, 28 tháng 4 năm 1992 một lần nữa ghi danh vào Hải quân Nga, đến Kamchatka, ở đó đã hoàn thành sự phục vụ của mình. 3 tháng 7 năm 1992, tàu bị loại khỏi biên chế Hải quân.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #82 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 05:13:17 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ K-25 (số hiệu xưởng 703); ghi tên vào dánh sách Hải quân 27 tháng 1 năm 1965; khởi công 2 tháng 12 năm 1965 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1968; tháng 8 đã được chuyển tới Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên 30 tháng 12 năm 1968; 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 7 tháng 4 năm 1970 được tặng huân chương Lenin; 23 tháng 5 năm 1975 – huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô “Vì sự quả cảm và lòng dũng cảm”; tháng 5 năm 1974 trong thời gian tên lửa đã bắn trúng tên lửa huấn luyện vào tàu kéo; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ 21 tháng 12 năm 1978 đến 31 tháng 3 năm 1983 đã trải qua trung tu ở xưởng số 1 tại vịnh Pala (cảng Vyuzhnưi); mùa thu năm 1984 đã hoàn thành cuộc hành quân vượt đại dương qua các vùng cực từ vịnh Motov đến vịnh Krasheninnikov (Vilyuchinsk, trước đó là Petropavlovsk-Kamchatski-50); 15 tháng 11 năm 1984 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và đưa đến neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.

+ K-43, từ 30 tháng 8 năm 1984 là UTS-550, từ 1 tháng 3 năm 1989 là K-43, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-43 (số hiệu xưởng 701); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 13 tháng 5 năm 1962; khởi công 9 tháng 5 năm 1964 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 11) ở Gorki; hạ thủy 2 tháng 8 năm 1966; năm 1967 được đưa tới Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1967; 27 tháng 11 năm 1967 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; là tàu đầu tiên của lớp; từ 30 tháng 11 năm 1973 đến 28 tháng 11 năm 1979 đã trải qua trung tu ở xưởng “Nerpa” ở vịnh Olenia (Snezhnogorsk); 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; mùa thu năm 1980 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Mostov tới vịnh Krasheninnikov; 17 tháng 12 năm 1980 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 20 tháng 3 năm 1981 khi đang xử lý nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu trên trường bắn gần bờ Kamchatka đã va chạm với tàu ngầm nguyên tử K-184 ở vị trí nổi, bị thương đường bao thân ngoài; từ 8 tháng 7 đến 1983 đến 27 tháng 12 năm 1984 ở xưởng số 49 tại vịnh Seldevaia (Vilyuchinsk) được nâng cấp theo Đề án 06709, liên quan với đó, 30 tháng 8 năm 1984 đổi tên thành UTS; 27 tháng 12 năm 1984 bị loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô và chuyển giao cho Hải quân Ấn Độ dưới hình thức cho thuê và đổi tên thành S71 “Chakra”; 15 tháng 1 năm 1988 giải thể; 1 tháng 3 năm 1989 một lân nữa ghi tên vào biên chế Hải quân và 1 tháng 3 năm 1991 tiếp nhận vào Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương từ thủy thủ đoàn Ấn Độ; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân, bị tháo dỡ và neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.

+ K-87, từ 15 tháng 1 năm 1978 là K-212 (số hiệu xưởng 702); ghi danh vào biên chế các tàu Hải quân 24 tháng 1 năm 1963; khởi công 6 tháng 2 năm 1965 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 20 tháng 3 năm 1968 và tháng 5 năm 1968 được đưa đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1968; 8 tháng 1 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ 22 tháng 8 đến 6 tháng 9 năm 1978 cùng với K-325 đã hoàn thành cộc hành quân theo cụm tàu từ vịnh Motov tới vịnh Krasheninnikiv; 13 tháng 11 năm 1978 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương, do thực hiện thành công nhiệm vụ, thủy thủ đoàn được tăng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô về sự quả cảm và lòng dũng cảm ngày 22 tháng 9 năm 1978; 4 tháng 11 năm 1978, chỉ huy cuộc hành quân và chỉ huy tàu được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô; năm 1980-84 ở xưởng số 30 (cảng Dunai) đã trải qua nâng cấp; năm 1984 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về việc bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; từ 16 tháng 12 năm 1988 nằm trong xưởng ở vịnh con Chazhma (vịnh Sterlok) đã trải qua đại tu; nhưng 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và chuyển giao cho cơ sở tháo dỡ, neo ở vịnh Pavlov (Fokino).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #83 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 05:48:59 pm »

+ K-143, từ 25 tháng 7 năm 1977 là K-121; từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-121 (số hiệu 704); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1965; khởi công 25 tháng 11 năm 1966 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1969 và tháng 5 năm 1969 được mang đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1969; 28 tháng 11 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; mùa thu năm 1983 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Motov tới vịnh Krasheninnikov; 6 tháng 10 năm 1983 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; tháng 8 năm 1984 trên thành tàu đã xảy ra tai nanjl 1 tháng 3 năm 1987 ở vịnh Avachin đã va vào đất; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 đổi cờ Hải quân Liên Xô thành cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ vào neo đậu ở vịnh con Sever (vịnh Vladimir), từ 6 tháng 8 năm 1996 và vịnh Pavlov (Fokinno).

+ K-201, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-201 (số hiệu xưởng 721); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 4 năm 1970; khởi công 16 tháng 11 năm 1971 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy tháng 9 năm 1972 và nhanh chóng chuyển đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1972; 31 tháng 1 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ 20 tháng 1 đến 5 tháng 5 năm 1974 cùng với K-314 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Motov đến vịnh Krasheninnikov diễn ra từ 10 đến 25 tháng 3 năm 1974; có dừng đỗ ở Berbera (Somali); 27 tháng 5 năm 1974 ghi danh vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 8 tháng 10 năm 1977 trong thời gian bơi gần bờ Kamchatka, tàu đã bị vướng vào lưới cá do tàu đánh cá Nhật Bản thả; 15 tháng 1 năm 1978 quay trở lại phân lớp tàu tuần dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992, thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; những năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân.

+ K-302, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-302 (số hiệu xưởng 713); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 12 tháng 1 năm 1968; khởi công 17 tháng 1 năm 1969 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 11 tháng 7 năm 1970 và nhanh chóng được đưa tới Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 1 tháng 12 năm 1970; 21 tháng 12 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 6 năm 1972 và tháng 2 năm 1974 đã va chạm đáy với thương tích khá nặng của thân ngoài; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở thành tàu ngầm tuần dương; tháng 4 năm 1979 đã có đám cháy trong lưới động lực do sự đóng mạch ngắn, dập lửa bằng thành viên thủy thủ đoàn; từ 20 tháng 4 năm 1985 đến 4 tháng 3 năm 1988 trải qua trung tu ở xưởng số 10; tháng 8-9 năm 1988 đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Motov tới vịnh Krasheninnikov; 28 tháng 9 năm 1988 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô thành cờ Thánh Anderi; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân và chuyển giao cho cơ sở khác; được đưa tới neo đậu ở Sever (vịnh Vladimir); từ 30 tháng 6 năm 1966 tới vịnh Pavlov.

+ K-308, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-308 (số hiệu xưởng 711); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 6 năm 1967; khởi công 29 tháng 12 năm 1967 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 19 tháng 2 năm 1970 và mùa xuân nă 1970 chuyển đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 20 tháng 9 năm 1970; 20 tháng 10 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 14 tháng 12 năm 1972 kỷ niệm 50 năm Liên bang Xô Viết được tặng Huân chương từ Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, Đoàn chủ tịch tối cao và Hội đồng bộ trưởng Liên Xô; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 13 tháng 4 năm 1978 va chạm với K-490 thuộc Đề án 667-BDR; từ 20 tháng 9 năm 1982 đến 10 tháng 5 năm 1984 đã trải qua trung tu ở xưởng số 10; mùa thu năm 1985 đã di chuyển từ Motov tới Krasheninnikov; 31 tháng 10 năm 1985 ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1988 được tặng giải thưởng của Bộ tư lệnh Hải quân theo việc bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân và mang đi tháo dỡ, neo ở vịnh Krasheninnikov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #84 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 07:07:39 pm »


+ K-313, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-313 (số hiệu xưởng 705); khởi công 14 tháng 7 năm 1966 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; 3 tháng 11 năm 1966 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 16 tháng 7 năm 1969; tháng 8 năm 1969 được đưa đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 16 tháng 12 anwm 1969; tháng 8 năm 1970 khi đỗ ở căn cứ đã bị đắm khoang số 2; 8 tháng 6 năm 1971 khi đang ở vị trí dưới nước, qua hệ thống quạt thông gió đã xảy ra vụ chìm cục bộ 3 khoang; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 19 tháng 12 năm 1978, tàu va chạm ở vịnh Zapadnaia Litsa vời tàu chống ngầm loại nhỏ MPK-90; từ 11 tháng 12 năm 1981 đến 18 tháng 9 năm 1985 đã trải qua trung tu ở xưởng số 10; tháng 9 năm 1986 đã hoàn thành cuộc di chuyển từ Motov tới vịnh Krasheninnikov; 25 tháng 9 năm 1986 ghi tên vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm hạt nhân loại lớn; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giao cho cơ sở khác; được đưa đến neo đậu ở vịnh Krasheninnikov; 29 tháng năm năm 1997 bị đắm gần bến tàu do sự vận hành thiết bị không đúng; 5 tháng 10 năm 1997 được trục vớt nhưng ngày hôm sau lại bị vùi xuống đất do bão lớn; 10 tháng 10 năm 1997; được kéo lên lần thứ 2, tuy nhiên, sau đó 6 phút lại đắm lần nữa; trúc vớt 13 tháng 10 năm 1997 và sau khi tháo lò phản ứng đã kéo về chỗ nước nông.

+ K-320, từ 28 tháng 4 năm 1992 là B-320 (số hiệu xưởng 721); khởi công 30 tháng 4 năm 1968 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; 29 tháng 1 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 18 tháng 1 năm 1970 trên tàu đã xảy ra sự mất kiểm soát trong việc khởi động lò phản ứng với sự lựa chọn khối lượng lớn nước (?) trong các thùng ở xưởng (7 người bị chiếu xạ lại); hạ thủy 27 tháng 3 năm 1971; tháng 5 năm 1971 được mang đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1971; 27 tháng 10 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 19 tháng 1 năm 1972 đã va chạm với tàu ngầm K-131 Đề án 675 ở vịnh Motov; năm 1973 trên tàu đã bị đắm cục bộ khoang lò phản ứng; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; ; tháng 9 awnm 1979 đã hoàn thành cuộc di chuyển từ Motov tới Krasheninnikov, do đó 26 tháng 11 năm 1979  thủy thủ đoàn được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 25 tháng 9 năm 1979, ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1984 và 1985 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về việc bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; năm 1985-87 ở xưởng số 30 đã trải qua nâng cấp; 28 tháng 4 năm 1992 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử loại lớn; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Anderi; năm 1992 được tặng giải thưởng của Bộ Tư lệnh Hải quân về bắn tên lửa vào mục tiêu trên biển; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác, được neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #85 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 09:01:00 pm »

+ K-325 (số hiệu xưởng 714); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; khởi công 6 tháng 9 năm 1969 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1971; tháng 6 năm 1971 được mang đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1971; 6 tháng 12 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 22 tháng 12 năm 1973 đã xuất hiện đám cháy ở cuộn dây cáp ở khoang tuabin; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn; 15 tháng 1 năm 1978 trở lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; từ 22 tháng 8 đến 6 tháng 9 năm 1978 cùng với K-212 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Motov đến Krasheninnikov; 13 tháng 11 năm 1978 đã ghi danh vào biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; do thực hiện thành công nhiệm vụ này, thủy thủ đoàn được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 4 tháng 11 năm 1978, chỉ huy cuộc hành quân và chỉ huy tàu được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao tháo dỡ, neo ở vịnh Krasheninnikov.


+ K-429, từ 5 tháng 3 năm 1987 là UTS-130 (số hiệu xưởng 715); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 2 năm 1970; khởi công 26 tháng 1 năm 1971 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; hạ thủy 22 tháng 4 năm 1972; tháng 5 năm 1972 được đưa đến Severodvinsk để đóng nốt và thí nghiệm; gia nhập biên chế 15 tháng 9 năm 1972; 31 tháng 10 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 3 năm 1973 trên tàu bị đắm cục bộ khoang lò phản ứng; năm 1975 khi đang bơm, thùng tải trọng dằn số 13 đã bị vỡ; đầu năm 1977 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Motov đến vịnh Krasheninnikov; 30 tháng 4 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; do thực hiện thành công nhiệm vụ này, thủy thủ đoàn được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô; 31 tháng 1 năm 1978, chỉ huy cuộc hành quân và chỉ huy tàu được phong Anh hùng Liên Xô; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm loại lớn;  15 tháng 1 năm 1978 quay lại phân lớp tàu ngầm tuần dương; 23 tháng 6 năm 1983 bị đắm ở biển Bering gần bờ Kamchatka trong thời gian xử lý nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu (16 người hy sinh); 9 tháng 8 năm 1983 được trục vớt và kéo về xưởng số 49 tại Seldevaia (Vilyuchinsk) để khắc phục sửa chữa, ở đó bị đắm do lỗi vận hành thiết bị; 12 tháng 10 năm 1986 được đưa về neo đậu ở vịnh Krasheninnikov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #86 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 09:47:52 pm »


Chú thích

Các khí tài di động

1.Đài ra đa định vị trinh sát MRP-10 “Zaliv-P”; 2.Khí tài cho hoạt động nén dưới nước (hầm không khí); 3.Đài ra đa định vị nhìn vòng RLK-101 “Albatros”; 4.Máy tìm phương “Veslo-P”; 5.Ăng ten liên lạc “Topol”; 6.Rãnh để đặt ăng ten chân cắm “Iskra”; 7.Kính tiềm vọng PZNS-10; 8.Топовый огонь - Đèn cột mũi (bác hps)

Trang bị

9.Thiết bị phóng SM-97 cho tên lửa “Ametist”; 10.Các thiết bị ngư lôi 533mm; 11.Các thiết bị ngư lôi 400mm; 12.Các ngư lôi trên giá đỡ; 13.Cửa vận chuyển ngư lôi

Các khí tài kỹ thuật

14.Máy dò đạo hàng nhìn vòng; 15.Khí tài số 1-1 thuộc tổ hợp thủy âm “Kerch”; 16.Ăng ten thủy âm; 17.Khí tàu 1-3 thuộc tổ hợp thủy âm; 18.Đài thủy âm; 19.Trạm chuẩn bị khởi động trước phóng cho tên lửa “Ametist”; 20.Khoang thông tin liên lạc; 21.Khoang các khí tài trinh sát vô tuyến

Các thùng

22.Bảo vệ sinh học; 23.Nước uống; 24.Đường rãnh hình nhẫn; 25.Ngư lôi phụ; 26.Nhiên liệu; 27.Dầu; 28.Dầu tuabin; 29.Điều khiển; 30.Tải trọng dằn thân trong; 31.Chênh mớn nước; 32.Thùng nóng

Các buồng (khoang) và tổ hợp

33.Lò phản ứng; 34.Máy phát điện hơi nước; 35.Bộ truyền động; 36.Máy phát điện tuabin tự động; 37.Máy phát điện diesel; 38.Khoang bảng phân chia chính và bộ đổi tần số.39.Khí tài thủy âm; 40.Máy lạnh; 41.Trạm la bàn; 42.Khí tài nổi cứu nạn; 43.Khoang (của sỹ quan); 44. Các đài điều khiển “Ametist”; 45.Khoang bếp; 46.Lương thực, thực phẩm; 47.Bảng điều khiển thiết bị năng lượng chính; 48.Khoang cách ly; 49.Mỏ neo; 50.Ổ gối đỡ; 51.Khớp trục răng cưa liên kết MZS 75; 52.Máy làm bay hơi.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Giêng, 2012, 10:14:19 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #87 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 10:00:29 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 3574

+ ngầm: 4980

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 95,5 (-)

+ chiều rộng nhất: 9,9

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,5

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ thiết bị sản xuất hơi nước OK-350; 1 lò phản ứng nước VN-4-1, công suất, mW: 89,2

+ 1 thiết bị tuabin răng cưa GZTA-631, 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 18 800 (13 820)

+ 2 máy phát điện tuabin TMVV-2, công suất, kW: 2x2000

+ 1 máy phát điện-diezel, công suất, kW: 1x500

+ 1 động cơ điện hỗ trợ, công suất, sức ngựa: 1x270

1 trục; 1 chân vịt 5 cánh hoặc 2 theo sơ đồ “tiếp đôi”; 2 động cơ phụt nước hỗ trợ

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 12

+ ngầm: 26

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 250

+ giới hạn: 26

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 86 (23)
Logged
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #88 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 10:12:43 pm »


Chú thích

Các khí tài di động

1.Đài ra đa định vị trinh sát MRP-10 “Zaliv-P”; 2.Khí tài cho hoạt động nén dưới nước (hầm không khí); 3.Đài ra đa định vị nhìn vòng RLK-101 “Albatros”; 4.Máy tìm phương “Veslo-P”; 5.Ăng ten liên lạc “Topol”; 6.Rãnh để đặt ăng ten chân cắm “Iskra”; 7.Kính tiềm vọng PZNS-10; 8.Топовый огонь (?)

Топовый огонь = Đèn cột mũi
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #89 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2012, 10:12:58 pm »

Trang bị

Vũ khí tấn công

+ thiết bị phóng SM-97 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 “Ametist”: 8x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-70 (4K66) “Ametist” (SS-N-7 “Starbright”): 8

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm 53-65K, SAET-60M, SET-65: 12

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 400mm SET-40, MGT-2: 4

Thủy lôi

+ có thể mang thủy lôi thay cho bộ phận ngư lôi: 26

Trang thiết bị vô tuyến điện

+ hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu: “Berst”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” hoặc MRK-50 “Kaskad”

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm “Kerch” hoặc MGK-400 “Rubicon” (Shark Fin); GPS

+ các khí tài tác chiến điện tử: MRP-21A “Zaliv-P”; “Veslo-P” – đài tìm phương; VAN-M (Stop Light, Brick Group, Park Lamp); GPD “Anbar”

+ tổ hợp đạo hàng: “Sigma-70”

+ tổ hợp thông tin liên lạc: “Molnia”; “Paravan”; “Iskra”, “Anis”, “Topol”

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: - .
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM