Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:25:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329778 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #100 vào lúc: 15 Tháng Giêng, 2012, 10:22:41 pm »


Vũ khí

Vũ khí tiến công

+ thiết bị phóng SM-97 cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-70 “Ametist”: 10x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-70 (4K66) “Ametist” (SS-N-7 “Starbright”): 10

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ cơ số ngư lôi 533mm và tên lửa chống tàu điều khiển: 8

Thủy lôi

+ có thể mang theo thủy thôi thay thế cho bộ phận ngư lôi –

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros”; MTP-10 (đạo hàng)

+ các đài thủy âm: GAK MGK-300 “Rubin”; MG-509; MG-29; “Radian-1” (dò mìn)

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Zavesa” (tìm phương”; VAN-M

+ tổ hợp đạo hàng: “Sigma-661”; “Samum-1”

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikhrom”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #101 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 02:52:38 pm »

Đề án 949 “Granit” (Lớp Oscar-I – Oscar-I class)


Tổng số tàu đã đóng: 2

Biến thể

+ 949 “Granit” (Lớp Oscar-I) – Đề án cơ sở sản xuất hàng loạt tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit” (1981)

+ 949-A “Antei” (Oscar-II class) – biến thể được hiện đại hóa với sự tăng cường lượng choán nước (1987).

Kết quả của việc hiện đại hóa vũ khí Hải quân của đối thủ tiềm năng (các máy bay tiêm kích – yểm trợ cất cánh từ tàu sân bay F-14 “Tomcat”, máy bay chống ngầm S-3 “Viking”), các khả năng chống tàu sân bay của các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô thuộc Đề án 675 (thậm chí là sau khi được nâng cấp) có vẻ như trở nên yếu thế trong việc tiêu diệt các cụm đối thủ của chúng. Yêu cầu chế tạo tổ hợp tên lửa mới, có tầm bắn xa và uy lực mạnh hơn đáng kể với sự khởi động ngầm, đảm bảo tiến hành cuộc tấn công quy mô lớn dưới nước vào các tàu (trước hết là tàu sân bay) từ xa với khả năng chọn lọc tiêu diệt mục tiêu.

Dưới tổ hợp mới yêu cầu thiết bị mang mới có khả năng thực hiện bắn loạt từ vị trí ngầm 20-24 tên lửa (theo tính toán, rõ ràng mật độ này cho phép “bắn thủng” hệ thống phòng thủ tên lửa chống tàu trên các cụm tàu sân bay tương lai của Mỹ). Ngoài ra, tàu tên lửa mới phải có khả năng ngụy trang, tốc độ và độ lặn sâu cao, đảm bảo cho nó khả năng vượt qua sự phòng thủ chống ngầm của địch và thoát khỏi sự truy đuổi.

Các công việc sơ bộ về chế tạo tàu ngầm tên lửa thế hệ thứ 3 bắt đầu năm 1967, năm 1969, Hải quân đã đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật chính thức về chế tạo “tàu ngầm tên lửa tuần dương hạng nặng”, trang bị tổ hợp tên lửa chiến thuật.

Đề án, nhận số hiệu 949 và mã số “Granit”, được chế tạo ở Phòng thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin”, dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư P.P.Pustưntsev. Sau cái chết của ông vào năm 1977, Tổng công trình sư là I.L.Baranov, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân – thuyền trưởng hạng 2 V.N.Ivanov. Khi thiết kế tàu ngầm tên lửa mới đã dự kiến sử dụng rộng rãi lượng trữ khoa học – kỹ thuật và các giải pháp thiết kế riêng, nhận được khi chế tạo tàu ngầm có tốc độ lớn nhất trên thế giới thuộc Đề án 661.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #102 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 03:47:35 pm »

Tổ hợp tên lửa “Granit”, được chế tạo ở Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52 (hiện nay là tổ chức nghiên cứu – khoa học lắp ráp xe máy), phải đáp ứng được yêu cầu rất cao: tầm bắn xa – không dưới 500km, tốc độ tối đa – không dưới 2500km/h. So với các tổ hợp có ý nghĩa tương tự trước đó, “Granit” khác ở quỹ đạo linh hoạt thích hợp, khả năng phóng đa năng (ngầm và nổi), đồng thời cho các phương tiện mang (tàu ngầm và tàu nổi) , sự bắn loạt với sự bố trí không gian hợp lý của tên lửa, hệ thống chọn lọc phòng thủ nhiễu của hệ thống điều khiển. Cho phép bắn vào các mục tiêu, có tọa độ với sự sai số lớn và thông tin cũ. Toàn bộ các thao tác theo sự bảo dưỡng hàng ngày và khởi động của các tên lửa đều thực hiện tự động hóa. Kết quả là “Granit” sở hữu khả năng thật trong việc giải quyết nhiệm vụ bất kỳ trong các trận chiến trên biển chỉ bằng một phương tiện mang.

Tuy nhiên, hiệu quả của tổ hợp tên lửa chống tàu tầm xa trong mực độ đáng kể được xác định bằng các khả năng của các khí tài trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Hệ thống “Uspekh”, cơ sở là máy bay Tu-95, không có độ ổn định tác chiến cần thiết. Vì thế, đầu những năm 1960, trước khoa học chuyên ngành và ngành công nghiệp đã đặt ra nhiệm vụ chế tạo lần đầu tiên trên thế giới hệ thống quan sát vũ trụ trong mọi điều kiện thời tiết các mục tiêu nổi trên mọi khu vực mặt nước trên đại dương và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu với sự truyền tải thông tin một cách trực tiếp tới các phương tiện mang vũ khí hoặc các trạm chỉ huy trên cạn (trên tàu). Mệnh lệnh đầu tiên của Nhà nước về triển khai các công việc thiết kế - thí nghiệm về sự chế tạo hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển (MRKTs) đưa ra vào tháng 3 năm 1961. Với công việc có quy mô rộng lớn này được giao cho các trung tâm khoa học và tập thể công trình sư lớn của đất nước.

Tổ chức chính, đảm nhận việc chế tạo hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu ban đầu được xác định là Phòng thiết kế - thí nghiệm số 52, dưới sự lãnh đạo của Tổng công trình sư V.N.Chelomen. do sự chế tạo (đến nay chưa có hệ thống tương tự trên thế giới) thiết bị năng lượng hạt nhân mang theo duy nhất đối với vệ tinh nhân tạo, gồm có trong thành phần hệ thống được giao cho tập thể Phòng thiết kế thí nghiệm số 670 (Viện nghiên cứu khoa học “Sao Đỏ”) thuộc bộ thiết bị xe máy (?). Tuy nhiên, Phòng thiết kế thí nghiệm số 52 không có đủ năng lực sản xuất cần thiết, đảm bảo việc sản xuất hàng loạt các khí tài vũ trụ cho Hải quân. Kết quả là tháng 5 năm 1969, chương trình được quyết định giao cho Phòng thiết kế Leningrad và xưởng “Arsenal” mang tên M.V.Frunze, trở thành những nơi chính trong việc thực hiện chương trình vệ tinh “Hải quân”.

Hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển gốm có hai kiểu khí tài vũ trụ: vệ tính với đài ra đa định vị mang theo và thiết bị năng lượng hạt nhân, đồng thời vệ tính với đài vũ trụ trinh sát kỹ thuật vô tuyến, trang bị thiết bị năng lượng mặt trời. Cũng vào đầu năm 1970, xưởng “Arsenal” đã bắt đầu sản xuất các mẫu khí tài vũ trụ thí nghiệm. Các thí nghiệm thiết kế - bay của khí tài trinh sát ra đa định vị vũ trụ được bắt đầu năm 1973, còn vệ tinh trinh sát kỹ thuật vô tuyến – trong cùng năm. Khí tài trinh sát ra đa định vị vũ trụ được tiếp nhận vào trang bị năm 1975, còn tổ hợp trong dạng hoàn toàn đầy đủ (với khí tài trinh sát kỹ thuật vô tuyến vũ trụ) – năm 1978.

Tổ hợp trinh sát kỹ thuật vô tuyến vũ trụ đảm bảo sự phát hiện và sự tìm phương mục tiêu, bức xạ các tín hiệu điện từ. Khí tài vũ trụ có hệ thống định hướng ba trục cao và ổn định trong không gian. Trong vai trò nguồn nguồn, sử dụng thiết bị năng lượng mặt trời trong sự phố hợp với các ắc quy hóa học đệm (hoãn xung). Khí tài tên lửa nhiên liệu lỏng đa chức năng đảm bảo sự ổn định của khí tàu vũ trụ, hiệu chỉnh độ cao của quỹ đạo, cung cấp xung phân tán trong sự tách thiết bị vũ trụ tới quỹ đạo. Khối lượng của thiết bị vũ trụ - 3300kg, chiều cao hoạt động hiệu quả của quỹ đạo – 420km; độ nghiêng của quỹ đạo – 65 độ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #103 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 04:16:48 pm »

Tổ hợp vũ trụ 17K114 được sử dụng để tiến hành trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển. Trong thành phần của nó có thiết bị vũ trụ 17F16, ra đa định vị quan sát hai mặt, đảm bảo phát hiện mục tiêu nổi theo toàn bộ chế độ thời tiết cũng như ngày và đêm. Trong vai trò nguồn mang theo, sử dụng thiết bị năng lượng hạt nhân, sau khi hoàn thành bởi khí tài hoạt động chủ động được tách và vận chuyển tới quỹ đạo cao hơn. Thiết bị tên lửa nhiên liệu lỏng đa chuwcsnawng phục vụ sự ổn định của thiết bị vũ trụ, đồng thời cung cấp xung phân tán trong sự tách khí tài vũ trụ tới quỹ đạo. Khối lượng thiết bị vũ trụ - 4300kg, chiều cao làm việc hiệu quả của quỹ đạo – 280km, độ nghiêng quỹ đạo – 65 độ.

Ngoài thành phần vũ trụ, trong thần phần khí tài trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu đường biển còn có các trạm thu thông tin trên tàu một cách trực tiếp từ các khí tài vũ trụ, đảm bảo xử lý thông tin và cung cấp sự chỉ thị mục tiêu tới việc sử dụng vũ khí tên lửa (nhà thiết kế - Viện nghiên cứu khoa học Kiev “Kvant”).

Tháng 11 năm 1975, đã bắt đầu các thí nghiệm của tổ hợp tên lửa P-700, nhận cùng tên gọi cũng như mã số của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh – “Granit”, đã hoàn thành vào tháng 8 năm 1983. Tuy nhiên, trước thời điểm chúng hoàn thành, tháng 4 năm 1980 trong biên chế Hạm đội Phương Bắc đã gia nhập tàu ngầm nguyên tử đầu tiên K-525 thuộc Đề án 949.

Cũng như toàn bộ các tàu ngầm Liên Xô trước, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 949 theo thiết kế hai thân – thân trong và vỏ thủy động lực bên ngoài. Bộ phận mạn tàu với hai trục chân vịt và cánh đuôi được chế tạo tương tự với tàu ngầm nguyên tử Đề án 661. Khoảng cách 3,5 mét giữa các thân trong và thân ngoài đảm bảo trữ lượng nổi thực tế và tính sống còn của tàu khi bị trúng ngư lôi. Tuy nhiên, cũng do việc này mà tàu ngầm có lượng choán nước lớn – 22 500 tấn – trong đó 10 000 tấn là nước.

Thân trong có dạng hình trụ, được chế tạo từ thép AK-33 dày từ 45 đến 69mm và được tính toán tới độ lặn sâu giới hạn 600 mét, độ sâu hoạt động hiệu quả 480 mét. Các vách ngăn hình nhẫn của thân trong được đúc, hình cầu, bán kính mũi – 8 mét, bán kính mạn – 6,5 mét. Các vách ngăn ngang phẳng: giữa các vách ngăn khoang số 1 và 2, đồng thời 4 và 5 chúng được tính toán để chịu được áp suất 40 atm và có độ dày 20mm. Bằng cách này, tàu ngầm được chia thành 3 khoang – khoang ẩn đối với tình huống khẩn cấp ở độ sâu 400 mét: khi chìm bộ phận thân trong, người trong trường hợp này có cơ hội được cứu và trong khoang thứ nhất, hoặc trong khoang số 2-3, hoặc trong các khoang mạn tàu. Các vách ngăn còn lại ở trong các khu vực cứu nạn được tính toán chịu được áp suất 10atm (ở độ sâu hơn 100 mét). Thân trong được chia thành 9 khoang:

1.Ngư lôi

2.Điều khiển, pin ắc quy

3.Các trạm chiến đấu và khoang vô tuyến

4.Phòng cho người ở

5.Trang bị điện và các máy móc hỗ trợ

6.Lò phản ứng

7,8.Thiết bị tuabin răng cưa

9.Động cơ điện để chèo (chân vịt).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #104 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 04:27:53 pm »


Chú thích

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 949

Lượng choán nước nổi – 13 400 tấn

Tốc độ ngầm – hơn 30 hải lỳ

Vũ khí: tổ hợp P-700 “Granit” với 24 tên lửa 3M-45; 4 thiết bị ngư lôi 533mm; 2 thiết bị ngư lôi 650mm, cơ số đạn: 28 ngư lôi; ngư lôi – tên lửa hoặc mìn

Công suất thiết bị động lực: 10 000 sức ngựa

Độ lặn sâu: 600 mét

Thời gian hoạt động: 120 ngày

Chiều dài – 143 mét

Chiều rộng – 13,8 mét

Lượng mớn nước – 9 mét

Thủy thủ đoàn – 94 người.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Giêng, 2012, 05:31:46 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #105 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 05:10:15 pm »

Vách ngăn hầm các thiết bị di động được bố trí một hướng thuộc bộ phận mũi tàu ngầm. Chúng khác thường ở chiều dài lớn – 29 mét. Ngoài các thiết bị di động, trong đó thùng cứu nạn nổi, được sử dụng cho toàn bộ thủy thủ đoàn, 2 thiết bị chuyên dụng để bắn các khí tài chống thủy âm, các thùng dành cho tổ hợp tên lửa phòng không trên tàu “Igla-1”. Vách ngăn hầm các khí tài di động (cũng như thân ngoài) có sự tăng cường phủ băng và nóc hình tròn để làm vỡ lớp băng khi nổi trong tình trạng băng đá phức tạp. Các bánh lái ngang ở mũi được bố trí trong phân cuối mũi tàu và xếp gọn trong thân tàu. Thân ngoài được bao lớp che phủ chống thủy âm.

Thiết bị năng lượng của tàu được đồng nhất hóa tối đa với thiết bị năng lượng của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chiến lược Đề án 949 và có sử dụng khối và hệ thống giảm chấn hai tầng. Hệ thống gồm hai lò phản ứng nước dạng OK-650B (mỗi lò công suất 190mW) và hai tuabin hơi nước (tổng công suất 98 000 sức ngựa) với thiết bị tuabin răng cưa OK-9, làm việc trên hai trục chân vịt trong hai khoang khác nhau. Đồng thời có máy phát điện tuabin 3200kW và 2 máy phát điện – diesel dự bị DG-190 theo 800kW, đòng thời 2 thiết bị lái.

Do kết quả của thiết bị năng lượng hai trục có sự dữ trữ 100%. Thiết bị sản xuất hơi nước, tổ hợp tuabin răng cưa chính, máy phát điện tuabin tự động, các động cơ điện và hàng trục với chân vịt bánh lái một thành được nhân đôi hoàn toàn bởi thành thứ hai, vì thế, khi hỏng bất cứ phần tử nào hoặc toàn bộ thiết bị máy bị hỏng hoàn toàn ở một bên thành, tàu ngầm không mất khả năng chiến đấu.

Vũ khí chính của tàu ngầm Đề án 949 gồm có 24 tên lửa chống tàu có cánh “Granit” trong các thiết bị phóng đôi (theo cặp). Các thùng với tên lửa nằm ngoài thân trong và có góc nâng cố định – 40 độ. Sự chỉ thị mục tiêu của tên lửa chống tàu có cánh được đảm bảo từ các vệ tinh của hệ thống trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu 17K114 được nhắc tới ở trên. Tàu ngầm được trang bị ăng ten nổi dạng lai –“Zubatka”, cho phép tiếp nhận sự thông tin vô tuyến, chỉ thị mục tiêu và các tín hiệu đạo hàng vệ tinh, nằm ở độ sâu lớn và dưới băng. Ăng ten được bố trí trong thượng tầng sau vách ngăn khoang.

Tên lửa 3M35 thuộc tổ hợp “Granit” được trang bị đầu đạn hạt nhân (công suất 500kt) hoặc đầu đạn nổ (750kg), trang bị động cơ tuabin phản lực chính KR-93 với máy gia tốc nhiên liệu rắn hình nhẫn. Tầm bắn tối đa 550…600km, tốc độ tối đa – 2,5M trên tầm cao và 1,5M – tầm thấp. Khối lượng khởi động – 7000kg, chiều dài – 19,5 mét, đường kính thân – 0,88 mét, sải cánh – 2,6 mét.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #106 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 06:16:40 pm »

Các tên lửa có thể bắn đơn hoặc bắn loạt (24 tên lửa chống tàu khởi động trong nhịp độ cao). Trong trường hợp sau, giữa các tên lửa trong loạt thực hiện sự phân chia mục tiêu tự động. Loạt phóng đảm bảo tạo thành một cụm các tên lửa dày đặc, đơn giản hóa việc vượt qua các khí tài phòng không của địch. Sự tổ chức bay của toàn bộ các tên lửa, loạt phóng, tìm kiếm lệnh và “bắn trúng” nói bằng máy quan sát ra đa định vị bằng một tên lửa, bay cao hơn một chút so với các tên lửa còn lại, cho phép các tên lửa chống tàu có cánh còn lại của loạt phóng thực hiện việc bay trên quỹ đạo chính trong chế độ im lặng vô tuyến. Trong quá trình bay của các tên lửa, thực hiện sự phân bố tối ưu giữa chính với các mục tiêu trong mệnh lệnh. Tốc độ siêu âm và quỹ đạo bay phức tạp, khả năng kháng nhiễu cao của các khí tài vô tuyến điện và sự xuất hiện của hệ thống đặc biệt loại bỏ các tên lửa phòng không và không đối không của địch, đảm bảo cho “Granit” khi bắn cả loạt có xác xuất cao khi vượt qua hệ thống phòng không và chống tên lửa đối hạm của cụm tàu sân bay (được tính toán, để đánh chìm cụm tàu sân bay tấn công của Mỹ cần thiết trúng 9 tên lửa “Granit”). Để tăng cường tính sống còn cho đầu đạn tên lửa khỏi khí tài chống tên lửa tầm gần, nó được bọc thép.

Tổ hợp ngư lôi – tên lửa tự động “Leningrad-949” cho phép tiếp nhận các ngư lôi, đồng thời ngư lôi – tên lửa “Vodopad” và “Veter” trong mọi độ sâu. Tổ hợp gồm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 2 thiết bị 650mm với các khí tài nạp đạn nhanh với các giá đỡ cung cấp đạn dọc và ngang, bố trí trong bộ phận mũi thân và các khí tài điều khiển bắn ngư lôi “Grinda”. Nhờ khí tài nạp đạn nhanh, toàn bộ cơ số đạn ngư lôi có thể được sử dụng trong thời gian tổng cộng vài phút. Cơ số đạn gồm 24 ngư lôi (650mm chống tàu 65-76A, 533mm đa năng USET-80), các tên lửa “Shkval” và tên lửa chống ngầm (83-P và 84-P). Các ngư lôi có thể bắn ở độ sâu 480 mét ở tốc độ từ 13 hải lý (các ngư lôi 65-76A) đến 18 hải lý (USET-80).

Cơ sở của vũ khí vô tuyến điện của tào ngầm nguyên tử Đề án 949 là hệ thống điều khiển thông tin MVU-132 “Omnibus”, các bản điều khiển được bố trí trong trạm chỉ huy chính ở khoang số 2. Tàu ngầm được trang bị tổ hợp thủy âm MGK-540 “Skat-3”, trong thành phần gồm có máy xác định canh gác NOR-1, đài dò mìn MG-519 “Arfa”, đài-máy đáp khẩn cấp MGS-30, máy dò đạo hàng vòng NOK-1, MG-512 “Vint”, máy đo tiếng ồn MG-518 “Sever”, MG-543. Toàn bộ các khí tài này cho phép trong chế độ tự động phát hiện, tìm phương và theo dõi toàn bộ các mục tiêu có thể (đồng thời 30) trong các chế độ tìm phương băng tần rộng và hẹp, phạm vi âm thanh và hạ âm. Có ăng ten thu thấp tần lai, lắp từ ông trên ở bộ phận ổn định mạn tàu (lắp từ thân thứ hai), đồng thời, máy dò âm dưới nước, bố trí theo thành thân ngoài. Tầm xa của tổ hợp thủy âm – 220km. Chế độ cơ bản – thụ động, nhưng có khả năng phát hiện tự động, đo cự ly, góc vòng và khoảng cách tới mục tiêu trong chế độ chủ động.

Tổ hợp đạo hàng tự động “Medveditsa” gồm có máy tìm phương, hệ thống đạo hàng nối theo máy đáp – hải đăng thủy âm, hệ thống vũ trụ ADK-3M, thủy la bàn GUK-1M, la bàn từ KM-145-P2, hệ thống quán tính, hành trình kế và các khí tài khác, toopr hợp tính toán kỹ thuật số biệt lập “Struna”. Tất cả các khí tài thông tin được kết nối tới tổ hợp “Molnia-M”. Sự thu thông tin tình báo từ tổ hợp vệ tinh hoặc máy bay có thể được thực hiện trong vị trí ngầm tới ăng ten lai “Zubatka”. Sau khi xử lý thông tin nhận được sẽ dẫn tới hệ thống điều khiển thông tin chiến đấu “Omnobus”. Trên tàu đồng thời có tổ hợp vô tuyến – quang học MTK-110, cho phép thực hiện sự quan sát bằng mắt thường dưới nước ở độ sâu 50…60 mét.

Đối với các thành viên thủy thủ đoàn tàu ngầm Đề án 949 đã được tạo điều kiện tối đa để hoạt động lâu ngày (thời gian hoạt động của tàu ngầm được đánh giá trong 120 ngày). Toàn bộ cá nhân được đảm bảo vị trí cứu nạn cá nhân trên các thuyền 1; 2; 4 và 6 chỗ. Các khoang cho người ở được trang bị mạng lưới truyền tải vô tuyến. Trong tàu ngầm có buồng chỉ huy và nhà ăn có thể tiếp nhận đồng thời 42 người, để chuẩn bị thức ăn và nướng bánh mỳ - khoang bếp, gồm có các buồng nấu. Trữ lượng lương thực, thực phẩm được bố trí đầy đủ trong các khoang thực phẩm (trong đó có ướp lạnh) và kho chứa. Trên tàu ngầm đồng thời có phòng thể thao, bể bơi, nhà tắm nắng, góc riêng…

Trong toàn bộ các chế độ bơi của tàu khi thiết bị năng lượng chính hoạt động, hệ thống quạt và điều hòa không khí đảm bảo trong các phòng tiêu chuẩn không khí theo thành phần hóa học, nhiệt độ và độ ẩm. Hệ thống hoàn nhiệt hóa học không khí đảm bảo trong các khoang của tàu ngầm trong thời gian bơi dài ngày, sự cung cấp ô xi và khí cacbonic trong các giới hạn tiêu chuẩn được đặt ra, còn hệ thống làm sạch không khí loại bỏ các tạp chất có hại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #107 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2012, 06:21:04 pm »

Bản vẽ thiết kế tàu ngầm tuần dương Đề án 949 "Granit"





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #108 vào lúc: 17 Tháng Giêng, 2012, 03:59:59 pm »

Các khí tài cứu nạn khẩn cấp được thiết kế trên Đề án  949 dành cho thủy thủ đoàn vượt trội các khí tài tương tự của tàu ngầm thuộc các đề án khác. Trữ lượng nổi của đề án là hơn 30%, đảm bảo sự bơi ở vị trí nổi và tính không chìm khi bị đắm hoàn toàn khoang bất kỳ ở thân trong và 2 khoang liên tiếp tiếp giáp với khoang bị ngập nước của thùng tải trọng dằn chính một bên thành. Dự kiến, dự trữ không khí cao áp đảm bảo khả năng bơm hơi tải trọng dằn trong số lượng càn thiết để bù trừ sự nổi âm khi bị ngập nước khoang bất kỳ với sự hỏng 2 thùng tải trọng dằn chính ở độ sâu 150 mét. Thời gian bơm hơi của toàn bộ các thùng tải trong dằn từ độ sâu tiềm vọng là 90 giây. Đối với sự bơm hơi khẩn cấp có sự phục vụ của các mày phát điện khí hơi thuốc nổ. Hệ thống thủy lực làm việc từ 2 trạm bơm tương tác nhân đôi của hệ thống thủy lực bánh lái và tàu, bố trí trong các khoang số 3 và 10 và trong trường hợp đầy, đảm bảo cho tàu ngầm có năng lượng dự trữ đủ cho 3 hoạt động của các bánh lái ngang mạn và mũi. Các khí tài thoát nước của tàu đảm bảo sự thoát nước ở vị trí nổi trên mọi độ sâu đến giới hạn. Ngoài ra, sự xả nước ở độ sâu giới hạn là hơn 90 mét khối/giờ.

Tàu ngầm được chia theo chiều dài và 2 khu vực cứu nạn: từ khoang số 1 đến số 4 và từ khoang số 5 đến khoang số 10. Trong khu vực mũi đã lắp thùng nổi để cứu nạn cho toàn bộ thủy thủ đoàn từ độ lặn sâu giới hạn (trong vách ngăn các thiết bị di động). Trong khu vực mũi có hệ thống cứu nạn cá nhân – bằng đường cửa ra trên trang bị của thợ lặn từ cửa cứu nạn, bố trí trong khoang số 10. Mỗi khu vực được phân chia bởi các vách ngăn giữa, nhiệm vụ chíh – đảm bảo tính không ngập nước của tàu.

Phao tiêu tự động của tổ hợp V-600, nổi từ độ sâu 1000 mét, đảm bảo sự cung cấp thông tin tự động ở cự ly 3000 mét trong thời gian 5 ngày về thông số khẩn cấp tới tàu ngầm và các tọa độ của nó ởi thời điểm tách phao tiêu từ tàu ngầm. Cửa cứu nạn của khoang số 10 cho phép sử dụng thiết bị cứu nạn của thủy thủ, tiếp nhận vào trang bị năm 1980. Cửa ra vào có hệ thống mở âu (kè) với sự điều khiển bán tự động (hoặc bằng tay), đảm bảo việc rời tàu của cá nhân từ độ sâu 220 mét, đồng thời sự mở kè khi rời theo cáp phao tiêu từ độ sâu 100 mét mà không làm đắm khoang số 10. Sự bố trí tấm quây – bệ trên khoang số 10 đảm bảo sự lắp ghép khí tài cứu nạn ở khu vực nước sâu hoặc phễu cứu nạn được thả theo dây cáp định hướng.

Trong Hải quân Liên Xô, các tàu ngầm Đề án 949 được phân vào lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương loại I. Ở Phương Tây, chúng mang tên gọi Oscar class.

Theo các đánh giá của hàng loạt chuyên gia trong nước, theo tiêu chuẩn “hiệu quả/giá thành”, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 949 là khí tài được ưu tiên hơn cả trong việc chống lại các tàu sân bay của địch. Theo tình hình đến giữa những năm 1980, giá của một tàu ngầm Đề án 949 là 226 triệu rúp, theo đánh giá chỉ bằng 10% giá thành tàu sân bay đa chức năng “Roosevelt” (2,3 triệu USD, không tính đến giá thành phụ khác). Trong cùng thời gian đó, theo tính toán của các chuyên viên Hải quân và công nghiệp, một tàu ngầm nguyên tử có thể với xác xuất cao loại khỏi vòng chiến tàu sân bay và hàng loạt tàu bảo vệ nó. Tuy nhiên, cũng khá nhiều các chuyên gia đã hoài nghi những đánh giá này, cho rằng, hiệu quả của tàu ngầm nguyên tử đã bị phóng đại tương đối nhiều. Liên quan tới đó là vấn đề chỉ thị mục tiêu và nhận dạng thường xuyên là “gót chân asin” của bất kỳ vũ khí tầm xa nào và đặc biệt là tên lửa. Đối với hiệu quả tieu diệt các mục tiêu ngầm cũng như tàu nổi cần thiết nhận sự chỉ thị mục tiêu trực tiếp trước khi bắn, thì cần tỷ lệ thời gian thật cao. Trong nguyên tắc chỉ thị mục tiêu này đối với tàu ngầm tên lửa có cánh có thể nhận được từ thiết bị vũ trụ (khí tài trinh sát vũ trụ và chỉ thị mục tiêu “Legenda”) và trinh sát hàng không (hệ thống “Uspekh-U”). Nhưng thiết bị vũ trụ rất dễ bị thương – thậm chí trước khi bắt đầu các hoạt động tác chiến có thể hoặc là bắn hỏng, hoặc bị áp chế, thiết bị trinh sát hàng không cung cấp thông tin phù hợp trong khu vực không chế của không quân địch để tiến hành các cuộc không chiến với chúng, còn sự chỉ thị mục tiêu từ nhận được từ tàu nổi trong thời gian tiến hành các trận chiến sẽ là không thực tế. Nên xem xét thực tế rằng, tàu sân bay là vũ khí chiến đấu tổng hợp, có khả năng giải quyết cao các nhiệm vụ phạm vi rộng, khí đó, cũng như các tàu ngầm là các tàu có nhiệm vụ chuyên môn hẹp hơn đáng kể. Và nếu không so sánh với các tàu sân bay Mỹ, thì 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 949 (thậm chí ở Liên Xô, nơi đã đóng số lượng lớn các tàu ngầm) có giá thành đắt hơn, ví dụ như tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11435 “Thống chế Hải quân Liên Xô Kuznetsov”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #109 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2012, 02:48:13 pm »

Biến thể

Bắt đầu từ thân tàu thứ 2 trên tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh Đề án 949 được lắp ăng ten lai của đài thủy am, bố trí trong mũ chụp dạng ống trên bộ phận cân bằng dọc phía trên.

Sau hai tàu đầu tiên được đóng theo Đề án 949, đã bắt đầu đóng các tàu ngầm tuần dương theo Đề án hiện đại hóa 949-A (mã số “Antei”). Kết quả của sự nâng cấp là tàu ngầm nhận khoang bổ sung (V-bis), cho phép tăng cường hoàn chỉnh bố cục bên trong các trang bị vũ khí và thiết bị mang theo. Kết quả là lượng choán nước của tàu tăng lên, trong thời điểm đó đã thành công trong việc tăng cường khả năng ngụy trang và lắp khí tài hiện đại.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu ngầm nguyên tử Đề án 949 được tiến hành ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” ở Severodvinsk (xưởng 402) từ năm 1978. Đã đóng được 2 tàu ngầm – K-525 (sau đó là “Archangel”) và K-206 (“Murmansk”) và gia nhập biên chế Hải quân mùng 2 tháng 10 năm 1981 và 20 tháng 12 năm 1983. Các công việc đóng tàu sau đó được tiến hành theo Đề án hiện đại hóa 949-A. Ban đầu, kế hoạch dự kiến đóng hơn 20 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh, nhưng sự tan rã của Liên Xô và khủng hoảng kinh tế ở Nga nên chương trình này thực tế đã bị chấm dứt.

Tình trạng đến năm 2007

Hiện nay, 2 tàu ngầm Đề án 949 đã bị đưa vào danh sách dự bị.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM