Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:40:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329728 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #110 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2012, 02:53:10 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


+ K-525; từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Archangel”; (số hiệu 605); khởi công 25 tháng 7 năm 1978 ở “xí nghiệp đóng tàu phương Bắc” (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 3 tháng 5 năm 1980; gia nhập biên chế 2 tháng 10 năm 1981; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; cuối những năm 1990 bị đưa vào danh sách dự bị.

+ K-206; từ 14 tháng 4 năm 1987 đến 15 tháng 2 năm 1992 là “Đoàn viên thanh niên Minsk”; từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Murmansk” (số hiệu 606); khởi công 22 tháng 4 năm 1979 ở “xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc” ở Severodvinsk; hạ thủy 10 tháng 12 năm 1982; gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1983; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; cuối những năm 1990 bị đưa vào biên chế dự bị.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #111 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2012, 03:02:40 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 12 500

+ ngầm: 22 500

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 144

+ chiều rộng nhất: 18,2

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 9,2

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước OK-650B, tổng công suất, mW: 380

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước, 2 thiết bị tuabin răng cưa OK-9

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 98 000 (72 000)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện – diesel DG-190, công suất, kW: 2x800

2 trục; 2 chân vịt 7 cánh; 2 thiết bị lái

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 15

+ ngầm: 30…32

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480…500

+ ngầm: 600

Thời gian hoạt động: 120 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 94 (42)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #112 vào lúc: 18 Tháng Giêng, 2012, 03:20:43 pm »


Trang bị vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-225 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit”: 12x2

+ tên lửa chống tàu có cánh 3M45 (SS-N-19 “Shipwreck”: 24

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”): 2 (16)

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-76A: 6

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm USET-80: 18

+ tên lửa chống ngầm điều khiển 83-P “Vodopad”/84-P “Veter”; các tên lửa “Shkval”: thay cho ngư lôi

+ thủy lôi: có thể mang theo thủy lôi thay cho các ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus-949”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRKP-58 “Radian” (Snoop Head/Pair)

+ đài thủy âm: GAK MGK-540 “Skat-Z”; HOR-1; MG-519 “Arfa”; MGS-30; HOK-1; MG-512 “Vint”; MG-518 “Sever”; MG-543; BGAS trên tàu thứ hai

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Anis”, “Zona” (Bald Head/Rim Hat, Park Lamp); 2xVIPS

+ tổ hợp đạo hàng: “Medevitsa-949”; “Sintez” – đạo hàng vũ trụ; ADK-3M “Parus” – đạo hàng vũ trụ; GKU-1M – thủy la bàn

+ các khí tàu chỉ thị mục tiêu của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh: “Selena” (Punch Bowl); MRSTs-2

+ tổ hợp thông tin vô tuyến: “Molnia-M”; “Kora”; “Zub

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikhrom-M”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #113 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 05:48:30 pm »

Đề án 667-AT “Grusha” (“Quả lê”) – Lớp Yankee Notch (class Yankee Notch)


Tổng số tàu đã đóng: 4+1

Trong những năm 70 ở Mỹ, dựa trên những thành công đạt được trong lĩnh vực chế tạo các động cơ phản lực – không khí nhỏ gọn có tính kinh tế cao, đã bắt đầu nghiên cứu các tên lửa chiến lược có cánh trước âm kích thước nhỏ cho Không quân và Hải quân. Dòng tên lửa cho Hải quân phảo được phóng từ các thiết bị ngư lôi tiêu chuẩn 533mm, thực hiện khả năng bay trên độ cao thêm và bắn cháy các mục tiêu trên bộ bằng đầu đạn hạt nhân từ tầm xa 2000-2500km với độ chính xác cao trong sai số vòng dưới 200 mét). Sự xuất hiện của loại vũ khí mới hiệu quả cao đã gây ra sự chênh lệch trong cán cân cân bằng giữa các siêu cường trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân chiến lược. Điều này yêu cầu phía Liên Xô phải tìm “câu trả lời” thích hợp.

Mệnh lệnh đã được giao cho khoa học và công nghiệp chuyên ngành về tiến hành đánh giá khả năng kỹ thuật và tính hợp lý trong quân sự trong việc chế tạo các tên lửa chiến lược có cánh, tương tự với các tên lửa có cánh của Mỹ “Tomahawk”. Sự phân tích đã chỉ ra rằng, nhiệm vụ có thể được giải quyết trong thời gian 5-6 năm, tuy nhiên, sự hợp lý trong việc tiến hành các công việc tương tự, những ý kiến của các chuyên gia đã bị chia rẽ: nhiều người cho rằng không cần thiết chế tạo tên lửa chiến lược có cánh, bởi vì chúng sẽ thua kém rất nhiều so với các tên lửa đạn đạo trong khả năng vượt qua sự phòng thủ chống tàu của địch, yêu cầu khi đó phải bỏ ra lượng đáng kể tài chính Nhà nước để chế tạo và phát triển cơ sở hạ tầng đảm bảo sử dụng chúng. Chi tết, đối với tên lửa có cánh, cần chế tạo các bản đồ số vị trí khu vực của đối thủ tiềm năng và các trung tâm máy tính mạnh, cần thiết để xử lý và đưa tới hệ thống dẫn bắn của các tên lửa thông tin về địa hình vị trí theo đường bay. Trong việc sử dụng tên lửa có cánh, những người ủng hộ cho rằng chúng tương đối đơn giản và rẻ, có khả năng sử dụng (trong đó không phải chế tạo đặc biệt) phương tiện mang khác nhau, còn đồng thời xác xuất cao vượt qua hệ thống phòng không của địch bằng kết quả tính toán tầm bay thấp và sự khó phát hiện bằng các ra đa định vị.

Kết quả là lãnh đạo Liên Xô trong năm 1976 đã ra quyết định mang tính nguyên tắc về sự phát triển các tên lửa có cánh chiến lược bắn từ các căn cứ trên không, trên biển và trên bộ. Khi đó, dự định chế tạo tên lửa có cánh cho Hải quân theo hai dạng – tốc độ trước âm kích thước nhỏ, có khả năng khởi động từ thiết bị ngư lôi của tàu ngầm, và tên lửa siêu âm kích thước lớn hơn, khởi động từ các thiết bị phóng đứng chuyên dụng.

Việc chế tạo tên lửa có cánh trước âm RK-55 “Granat” – tương tự với tên lửa Mỹ “Tomahawk”, được giao cho Viện nghiên cứu khoa học Sverdlovsk “Novator”, dưới sự lãnh đạo của L.V.Lyuiev. Sự thiết kế tên lửa có cánh được bắt đầu từ năm 1976. Năm 1984, chậm hơn 4 năm so với loại tương tự của Mỹ, tên lửa được tiếp nhận vào trang bị.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #114 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 06:35:38 pm »

Để đảm bảo sự tiếp nhận chiến đấu của các tên lửa có cánh, trang bị hệ thống dẫn bắn đối ứng cực trị, trong Hải quân đã xây dựng trung tâm tính toán đặc biệt theo sự thành lập các bản đồ số vị trí các bối cảnh dự đoán của chiến trường và vạch ra nhiệm vụ bay. Khí tài của hệ thống điều khiển tên lửa, tàu ngầm và trung tâm tính toán bờ biển đã được thiết kế tại Viện nghiên cứu khoa học thiết bị hàng không (viện trưởng và Tổng công trình sư A.S.Abramov).

Các tàu đầu tiên được trang bị tên lửa có cánh chiến lược “Granat”, là các tàu ngầm tuần dương Đề án 667-AT (mã số “Grusha”), được chế tạo trên cơ sở các tàu ngầm Đề án 667-A, đã bị loại khỏi biên chế Hải quân theo Hiệp ước Hạn chế vũ khí chiến lược (START-1) và có tình trạng kỹ thuật tốt. Đề án cải tạo lại 667-AT được chế tạo ở Phòng thiết kế Kỹ thuật Hải quân “Rubin”, Tổng công trình sư O.Ya.Margolin, giám sát viên chính từ Hải quân – Thuyền trưởng cấp 1 N.P.Nikolaev.

Kết quả hiện đại hóa, diễn ra ở Severodvinsk, các tàu ngầm bị cắt đi khoang số 5 (khoang tên lửa) và thay cho nó là hàn khoang mới, trong đó bố trí 8 (theo 4 mỗi bên thành) các thiết bị ngư lôi 533mm, lắp (lần đầu tiên trong ngành đóng tàu ngầm nội địa) dưới góc mặt phẳng đường kính của tàu, ở phần giữa thân. Trong quá trình hiện đại hóa, các tàu được nhận tổ hợp đạo hàng hiện đại “Tobol-667AT”, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus” và hàng loạt các hệ thống được hiện đại hóa và hệ thống mới khác. Thiết bị năng lượng chính và các hệ thống tổng hợp của tàu được giữ lại không thay đổi.

Vũ khí chính của tàu là tên lửa có cánh RK-55 “Granat” được bắn từ 8 thiết bị ngư lôi 533mm, bố trí ở khoang số 5 (cơ số đạn – 32 tên lửa có cánh hoặc ngư lôi tầm xa). Các tên lửa có cánh chiến lược RK-55 “Granat” có khối lượng khởi động 1700kg, chiều dài 8,09 mét và đường kính thân 0,51 mét. Tên lửa trang bị động cơ tuabin phản lực chính và máy gia tốc khởi động nhiên liệu rắn. Tên lửa có cánh mang đầu đạn hạt nhân công suất 100kT. Tốc độ tuần dương tương ứng M=0,7, tầm bắn tối đa – 3000km, hệ thống dẫn bắn – quán tính với sự hiệu chỉnh cực trị theo địa hình khu vực.

Vũ khí ngư lôi của Đề án 667-A được giữ lại – 4 thiết bị ngư lôi 533mm với cơ số đạn 12 ngư lôi kiểu 53-65K và SET-65, đồng thời 2 thiết bị ngư lôi 400mm (8 ngư lôi SET-73 hoặc khí tài bẫy thủy âm).

Trước khi Liên Xô tan rã, theo Đề án 667-AT đã kịp nâng cấp 4 tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa chiến lược Đề án 667-A: K-253 (kết thúc việc trang bị lại vào năm 1988), K-395 (1991), K-408 (1983) và K-423 (1987), còn 1 tàu ngầm – K-399 đã bị loại khỏi biên chế trước khi kết thúc nâng cấp. Các tàu Đề án 667-AT đã phục vụ ở Hạm đội Phương Bắc (ở phương Tây là lớp Yankee Notch). Đến năm 2000, trong biên chế chỉ còn lại tàu ngầm K-395.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #115 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 06:51:41 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ



(* - tàu còn nằm trong biên chế)

+ K-253 (số hiệu xưởng 414); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 11 năm 1966; 26 tháng 6 năm 1967 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Phương Bắc tại Severodinvsk; hạ thủy 5 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế 1 tháng 11 năm 1969; 28 tháng 11 năm 1969 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu phân loại vào tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống tàu; 22 tháng 7 năm 1982 – tàu ngầm loại lớn; 3 tháng 5 năm 1982 trở thành Đề án 667-AT và từ 17 tháng 5 năm 1984 đến 20 tháng 12 năm 1988 được nâng cấp ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

*+ K-395; (số hiệu 415); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 6 năm 1967; 8 tháng 9 năm 1967 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy Phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 28 tháng 7 năm 1969; gia nhập biên chế 5 tháng 12 năm 1969; 9 tháng 1 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là lớp tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống tàu; 18 tháng 4 năm 1985 là tàu ngầm loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 là tàu ngầm nguyên tử tuần dương; từ 24 tháng 6 năm 1988 đến 30 tháng 12 năm 1991, được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” và 11 tháng 2 năm 1992 trở thành Đề án 667-AT.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Giêng, 2012, 06:56:48 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #116 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 07:13:35 pm »


+ K-399 (số hiệu xưởng 151); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 21 tháng 6 năm 1967; 23 tháng 2 năm 1968 khởi công ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (Komsomol-na-Amur); khởi công 23 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế 24 tháng 12 1969; 9 tháng 1 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là lớp tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống ngầm; 27 tháng 10 năm 1980 – tàu ngầm loại lớn; 24 tháng 11 năm 1972 được tặng Huân chương của Bộ Quốc phòng Liên Xô “Vì sự quả cảm và lòng dũng cảm của chiến binh”; từ 25 tháng 2 năm 1974 đến 28 tháng 1 năm 1976 đã trải qua đại tu ở xưởng “Zvezda” tại cảng Đá Lớn; 18 tháng 1 năm 1982 cũng được nâng cấp ở đó theo Đề án 667-AT; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và đưa tới cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-408 (số hiệu xưởng 416); ghi tên vào danh sách tàu Hairq uân 21 tháng 6 năm 1967; 20 tháng 1 năm 1968 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 10 tháng 9 năm 1969; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1969; 9 tháng 1 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm mang tên lửa chống tàu; 3 tháng 10 năm 1984 – tàu ngầm loại lớn; 8 tháng 1 đến 19 tháng 3 năm 1971 đã hoàn thành cuộc hành quân từ Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc tới Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương mà không nổi và 27 tháng 3 năm 1971 đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; từ 10 tháng 1 năm 1975 đến 20 tháng 7 năm 1977 đã trải qua đại tu ở xưởng “Zvezda” ở cảng Đá Lớn; 8 tháng 7 năm 1983 cũng được nâng cấp ở đó và 17 tháng 3 năm 1983 trở thành Đề án 667-AT; 17 tháng 7 năm 1988 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-423 (số hiệu xưởng 440); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 12 tháng 1 năm 1968; khởi công 13 tháng 1 năm 1969 ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk; hạ thủy 4 tháng 7 năm 1970; gia nhập biên chế 13 tháng 11 năm 1970; 24 tháng 11 năm 1970 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; ban đầu là phân lớp tàu ngầm tuần dương; 25 tháng 7 năm 1977 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa chống tàu; 3 tháng 4 năm 1979 – tàu ngầm loại lớn; 3 tháng 6 năm 1992 – tàu ngầm nguyên tử tuần dương; từ 16 tháng 10 năm 1978 đến 27 tháng 12 năm 1987 được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” và 24 tháng 2 năm 1987 trở thành Đề án 667-AT; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #117 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 07:22:12 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 8700

+ ngầm: 13 800

Các kích thước, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 141,7 (-)

+ chiều rộng nhất: 12,8

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước kiểu VM-2-4, tổng công suất, mW: 89,2

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-700, 2 thiết bị tuabin răng cưa 635

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 40 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-2A, công suất, sức ngựa (kW): 2x3000

+ 2 máy phát điện – diesel DG-460, công suất, kW: 2x460

+ 2 động cơ điện DG-153, công suất, kW: 2x225

2 trục, 2 chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 320

+ ngầm: 400

Thời gian hoạt động: 70 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 121 (-).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #118 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 07:34:10 pm »


Trang bị

Tên lửa chiến lược

+ tên lửa có cánh liên lục địa RK-55 (SS-N-21 “Sampson”): 32

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K32M “Strela-2M” (SA-7 “Grail”): 2…4

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4/8 (mũi/thành)

+ các ngư lôi 533mm và tên lửa có cánh liên lục địa: 44

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 400mm: 8

Mìn

+ có thể mang mìn thay cho ngư lôi: 24

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Albatros” (Snoop Tray)

+ hệ thống thủy âm: tổ hợp thủy âm “Rubicon” (Shark Gill)

+ khí tài tác chiến điện tử: “Zaliv-P”

+ tổ hợp đạo hàng: “Tobol-667-AT”; KNS “Tsiklon-B”

+ tổ hợp thông tin vô tuyến: “Molnia-l” (Pert Spring); ăng ten phao tiêu lai “Paravan”; các đài vô tuyến siêu âm và sóng ngắn; đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: “Khrom-KM”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #119 vào lúc: 19 Tháng Giêng, 2012, 07:35:35 pm »

Một số ảnh về ngầm Đề án 677-AT





Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM