Đề án 705/705-K “Lira” – lớp Alfa
Tổng số tàu đã đóng: 7+1
Các biến thể:
+ 705 – Đề án cơ sở, nằm trong sự khai thác sử dụng thí nghiệm (1971)
+ 705-K “Lira” – Đề án đóng loạt với thiết bị sản xuất hơi nước mới (1975)
+ 705-D – Đề án sáng kiến với sự tăng cường cơ số đạn, trang bị thiết bị sản xuất hơi nước với lò phản ứng nước – nước (năm 1960)
+ 705-A (686) – Đề án trước phác thảo, trang bị 6 tên lửa chống tàu “Ametist”/”Malakhit” (1962)
+ 705-B (687) – Đề án phác thảo tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tổ hợp D-5 (1965).
Vào đầu những năm 80, một trong số các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đang hoạt động ở Cực Bắc, đã lập kỷ lực, trong vòng 22 giờ đã thực hiện việc giám sát tàu nguyên tử của “kẻ thù tiềm tang” đang ở trong phạm vi mạn tàu. Trong sự tuyệt vọng, mặc dù đã có những nỗ lực, thủy thủ đoàn tàu ngầm NATO cố gắng thay đổi tình hình, “cắt đuôi” tàu địch nhưng không thành công: sự giám sát chỉ dừng lại sau khi nhận được mệnh lệnh từ bờ. Trường hợp này xảy ra với tàu ngầm nguyên tử thuộc Đề án 705 và trở thành trang chói lọi trong lịch sử ngành đóng tàu Liên Xô. Đánh giá tàu ngầm ngày, các chuyên gia hàng đầu của Nga đã bị thu hút từ những ưu điểm cho đến những nhược điểm.
Đồng thời với các công việc về tàu ngầm nguyên tử Đền án 627, 645 và 671 ở Phòng thiết kế thí nghiệm số 142 ở Leningrad đã tiến hành mạnh mẽ việc tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật phi truyền thống mới, có khả awnng đảm bảo sự đột phá về chất lượng trong sự phát triển ngành đóng tàu ngầm. Năm 1959, một trong số các chuyên gia hàng đầu trong Phòng thiết kế A.B.Petrov đã đưa ra đề xuất về chế tạo tàu ngầm nguyên tử tốc độ cao với tổ hợp một trục tự động kích thước nhỏ và giảm biên chế thủy thủ đoàn. Theo quan điểm này, tàu mới là “tàu ngầm đánh chặn – tiêm kích”, có tốc độ dưới nước, hơn 40 hải lý, có khả ăng trong thời gian ngắn cần thiết đi tới điểm quy định ở đại dương để tấn công tàu ngầm hoặc tàu nổi của địch. Trước khi địch phát hiện và tấn công bằng ngư lôi, tàu phải thực hiện loạt phóng ngư lôi từ các thiết bị ngư lôi của mình.
Lượng choán nước thấp của tàu (khoảng 1500 tấn) trong sự phối hợp với thiết bị năng lượng mạnh đã đảm bảo bổ hợp tốc độ nhanh và tính cơ động cao. Tàu ngầm nguyên tử phải theo đường riêng trong thời gian vài phút rời khỏi tường thành, nhanh chóng tới triển khai tới khu mặt nước và rời khỏi căn cứ để giải quyết nhiệm vụ chiến đấu, còn sau khi quay “về nhà”, tự neo đậu.