Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:46:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329654 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #140 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2012, 01:57:05 pm »


K-147 (năm 1984 được trang bị hệ thống giám sát sau tàu ngầm theo vết rẽ nước) từ 29 thangs5 đến 1 tháng 7 năm 1985 đã tiếp nhận tham gia cuộc diễn tập các lực lượng tàu ngầm Hạm đội Phương Bắc “Aport”, trong quá trình này đã thực hiện sự giám sát trực tiếp 6 ngày tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo của Mỹ “Simon Woliwar” (lớp “Lafayette”), đã sử dụng các khí tàu thủy âm và phi thủy âm.

Trường hợp rất bi tham đối với K-314 vào tháng 3 năm 1984. Cùng với tàu chống ngầm loại lớn “Vladivostoc” đã thực hiện giám sát cụm tàu xung kích của Mỹ trong thành phần gồm tàu sân bay “Kitty Hawk” và 7 tàu bảo vệ, đang cơ động tới biển Nhật Bản. Tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, 21 tháng 3, trong thời gian nổi để xác định tình trạng nổi, đã làm rách bởi mạn đáy tàu sân bay mỹ độ dài gần 40 mét. Kết quả là việc cơ động của Hải quân Mỹ bị dừng lại và “Kitty Hawk” đã bị mất dầu qua vết rách, phải “bò” đến Nhật Bản, còn tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, chỉ bị hỏng bánh lái và được kéo tới vịnh Chazma, ở đó, nó đồng thời được sửa chữa. Sự kiện này đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực trên truyền thông Mỹ. Đặc biệt trên các tạp chí Hải quân đã đánh giá thấp khả năng phòng thủ của tàu chiến Mỹ, để cho các tàu ngầm của “kẻ thù tiềm tang” nỏi trực tiếp dưới sống tàu sân bay.

Ngày 14 tháng 3 năm 1989, tàu đầu tiên trong Đề án 671 – K-314 đã bị loại khỏi biên chế khi đang nằm trong Hạm đội Thái Bình Dương. Trong năm 1993 – 1996, biên chế chiến đấu của Hải quân đã loại bỏ các tàu còn lại trong lớp. Tuy nhiên, việc tháo dỡ tàu bị kéo dài. Tới thời điểm này, phần lớn trong số chúng đang neo đậu, chờ đợi số phận của mình theo thời gian.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #141 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2012, 02:31:59 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


+ K-38 (số hiệu xưởng 600); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” Leningrad (số 196) 12 tháng 4 năm 1963; hạ thủy 28 tháng 7 năm 1966; gia nhập biên chế 5 tháng 11 năm 1967; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9-10 năm 1971 đã hoàn thành cuộc hành quân với tàu ngầm K-323 dưới lớp băng vùng cực; năm 1972 và 1977 đã khởi động lại các lò phản ứng; năm 1979, trực chiến ở vịnh Péc xích, thực hiện giám sát các tàu chiến Mỹ; năm 1984, bị tại nạn nhỏ do rò rỉ trong đường bao số 1; năm 1992 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 được bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ thành kim loại.

+ K-69, sau đó là K-369 (số hiệu xưởng 601); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” ở Leningrad (số 196) 31 tháng 1 năm 1964; hạ thủy 22 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1973 và 1978, khởi động lại các lò phản ứng; tháng 12 năm 1985 đã xảy ra cháy, thủy thủy đoàn có thương vong; năm 1994, bị loại khỏi danh sách chiến đấu của Hải quân và giải tán, 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác và tháo dỡ thành kim loại.

+ K-147 (số hiệu xưởng 602); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 31 tháng 1 năm 1964; hạ thủy 22 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1973 và 1978 khởi động lại các lò phản ứng; tháng 12 năm 1985, đã xảy ra bốc cháy, thủy thủ đoàn thương vong; năm 1994 bị loại khỏi biên chế và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995, bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ thành kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #142 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 12:07:52 pm »


+ K-153 (số hiệu xưởng 603); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 16 tháng 12 năm 1964; hạ thủy 15 tháng 3 năm 1969; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1975 đến 1980 đã khởi động lại lò phản ứng; 19 tháng 9 năm 1984 va chạm ởi vịnh Gibraltar với tàu phá băng nguyên tử “Bratstvo” và bị thương ở bộ phận mũi thân ngoài, còn trên vị trí nổi, đã cùng tàu hỗ trợ “PM-24” tới Khammamet (Tunis) để sửa chữa; tháng 10 năm 1984 quay lại căn cứ; năm 1994 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-306 (số hiệu xưởng 604); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 20 tháng 3 năm 1968; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế 4 tháng 12 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1974 đến 1979; khởi động lại các lò phản ứng; năm 1975, trong thời gian sẵn sàng phục vụ chiến đấu đã va chạm dưới nước với tàu ngầm Hải quân Mỹ; tàu theo đường hành quân về căn cứ và sau đó được sửa chữa ở xưởng số 10 tại Polyarnưi; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-323; từ 20 tháng 12 năm 1972 là “50 năm Liên bang Xô Viết” (số hiệu xưởng 605); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad 5 tháng 7 năm 1968; hạ thủy 15 tháng 3 năm 1970; gia nhập biên chế 29 tháng 10 năm 1970; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9-10 năm 1971 hoàn thành cuộc hành quân cùng với K-38 dưới lớp băng vùng cực; năm 1975 và 1981 khởi động lại lò phản ứng; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; được kéo về neo đậu ở Severodvinsk.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #143 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 12:18:18 pm »


+ K-370 (số hiệu xưởng 606); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 19 tháng 6 năm 1969; hạ thủy 26 tháng 6 năm 1970; gia nhập biên chế 4 tháng 12 năm 1970; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 12 tháng 2 năm 1979 khởi động lại lò phản ứng; năm 1981 – 1984 trải qua trung tu và nâng cấp ở xưởng “Nerpa”; năm 1994 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, giải tán và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-438; từ 1990 là B-438 (số hiệu xưởng 608); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 13 tháng 6 năm 1970; hạ thủy 23 tháng 3 năm 1971; gia nhập biên chế 16 tháng 9 năm 1971; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ 5 đến 12 thangs4 năm 1979 đã tham gia cuộc tập trận “Razbeg-79”; 10 đến 16 tháng 4 năm 1980 khởi động lại các lò phản ứng; từ tháng 2 năm 1985 đến tháng 4 năm 1989 đã trải qua trung tu và nâng cấp ở Murmansk-60; năm 1994 được đưa vào danh sách dự bị; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 8 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-367 (số hiệu xưởng 609); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 14 tháng 4 năm 1970; hạ thủy 2 tháng 7 năm 1971; gia nhập biên chế 5 tháng 12 năm 1971; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1979 khởi động lại các lò phản ứng; năm 1989 đã bị tai nạn trong hệ thống điều tiết các lò phản ứng; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #144 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 12:44:52 pm »


+ K-314 (số hiệu xưởng 610); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196)  5 tháng 9 năm 1970; đóng tiếp theo Đề án 671-V; hạ thủy 28 tháng 3 năm 1972; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1972; năm 1974; sau khi hành quân tới Viễn Đông theo hải trình phía Nam đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 21 tháng 3 năm 1984 ở biển Nhật Bản đã va chạm với tàu sân bay “Kitty Hawk” trong khi đang thực hiện giám sát cụm tàu sân bay tiến công, bị thương nhẹ, chỉ bơi được và được kéo tới Vladivostoc và đưa lên vịnh Chazma tới âu tàu để sửa chữa đến 21 tháng 8 năm 1984; năm 1984 đã hoàn thành cuộc hành quân 9 tháng với sự ghé vào Aden và Cam Ranh; 10 tháng 8 năm 1985 ở Chazma khi đang khởi động lò phản ứng, tàu ngầm nguyên tử bên cạnh đã có vụ nổ lớn từ lò phản ứng với sự xuất hiện phóng xạ, tàu bị nhiễm phóng xạ nặng; năm 1989, đã xảy ra tai nạn lò phản ứng thành bên trái với sự mất kín đường bao số 1; 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; kéo về vịnh Pavlov.

+ K-398 (số hiệu xưởng 611); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 22 tháng 4 năm 1971; hạ thủy 2 tháng 8 năm 1972; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1972; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1977 và 1982, khởi động lại các lò phản ứng; năm 1995 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; 1 tháng 9 năm 1995 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-454 (số hiệu xưởng 612); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 24 tháng 7 năm 1971; đóng tiếp theo Đề án 671-V; hạ thỷ 5 tháng 5 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 10 năm 1973; sau khi hành quân tới Viễn Đông trong tháng 8-9 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1989 đưa vào biên chế dự bị; năm 1990, trải qua trung tu với sự nạp điện lại các lò phản ứng; 5 tháng 7 năm 1994 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #145 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 12:55:42 pm »


+ K-462 (số hiệu xưởng 632); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 3 tháng 7 năm 1972; hạ thủy 1 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 17 tháng 2 năm 1977, ở phía bắc vịnh Ruwbatri va chạm với tàu đánh cá ở độ sâu tiềm vọng, các thiết bị di động bị hỏng; năm 1984, xảy ra tai nạn nhẹ với sự rò rỉ đường bao thứ nhất; tháng 3 năm 1995 được đưa đến sửa chữa tại xưởng số 10 ở Polyarnưi, nhưng từ năm 1996 đã bị loại khỏi biên chế chiến đấu và mang đến cơ sở tháo dỡ.

+ K-469 (số hiệu xưởng 01614); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 5 tháng 9 năm 1973; đóng tiếp theo Đề án 671-V; hạ thủy 10 tháng 6 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; từ tháng 1 năm 1974 bắt đầu cuộc hành quân 107 ngày với tàu ngầm nguyên tử Đề án 670 qua các Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương; 20 tháng 4 năm 1974, trên thành tàu xảy ra hỏa hoạn, thủy thủ đoàn đã dập tắt thành công; 6 tháng 5 năm 1974, tàu tới vịnh Avanchin; tháng 1 năm 1976 hoàn thành thêm một cuộc hành quân xuyên đại xương tới Hạm đội Thái Bình Dương qua Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương với tàu ngầm nguyên tử tuần dương chiến lược K-171, đã đi hết 80 ngày, qua 21 754 dặm; 16 tháng 7 năm 1976 bị mắc cạn ở biển Phần Lan; năm 1983 đã trải qua sửa chữa và nạp điện lại cho các lò phản ứng ở Đá Lớn; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; năm 1996 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ.

+ K-481 (số hiệu xưởng 01615); khởi công ở “xưởng Tư lệnh Hải quân” tại Leningrad (số 196) 27 tháng 9 năm 1973; hạ thủy 8 tháng 9 năm 1974; gia nhập biến chế 27 tháng 12 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 8-9 năm 1976 thực hiện cuộc hành quân tới vùng cực; đầu năm 1979 nạp điện lại cho các lò phản ứng; năm 1979 sẵn sàng chiến đấu ở vịnh Péc xích; thực hiện giám sát các tàu chiến Mỹ; năm 1984, nạp điện lần thứ hai cho các lò phản ứng; năm 1993 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải tán; năm 1995, tháo dỡ ở xưởng “Nerpa”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #146 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 01:07:34 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 4250

+ chìm: 6085

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 94,3 (86)

+ chiều rộng nhất: 10,6

+ lượng choán nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,3

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước – nước kiểu VM-4, tổng công suất, mW: 144

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (2 lò phản ứng hơi nước và 2x4 động cơ điện PG-41); 1 thiết bị tuabin răng cưa chính 615

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 31 000 (22 790)

+ 2 máy phát điện tuabin OK-2, công suất, kW: 2x2000

+ 1 máy phát điện diesel, công suất, mW: 1x200

+ 2 động cơ điện hỗ trợ PG-135, công suất, sức ngựa: 2x270

1 trục; 1 chân vịt 5 cánh; 2 chân vịt hỗ trợ

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 11,5

+ ngầm: 33,5

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 320

+ giới hạn: 400

Thời gian hoạt động: 50 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 76 (32)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 01:16:40 pm »


Vũ khí

Ngư lôi và ngư lôi – tên lửa

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 6 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SET-65, 53-65K, TEST-71: 18

+ tổ hợp tên lửa chống tàu – tên lửa chống tàu PPK-2 “Vyuga” (chỉ có trên 3 tàu ngầm Đề án 671-V)

+ các tên lửa chống tàu điều khiển: 81-R (SS-N-15 “Starfish”): 2…4

Mìn

+ có thể mang các loại mìn (PMR-1 và R-1) thay cho đạn ngư lôi: 18

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: -

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: RLK-101 “Albatros” (Snoop Tray)

+ đài thủy âm: GAK MGK-300 “Rubin” hoặc “Rubicon” (Shark Teeth); MG-509 “Radian” hoặc MG-519 “Mouse Roar); ZPS

+ các khí tài tác chiến điện tử: “Nakat-M” (Brick Group) (Brick Spit/Brick Pulp); “Zavesa” (đài tìm phương)

+ hệ thống phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước: SOKS (trên một số tàu ngầm nguyên tử)

+ tổ hợp đạo hàng: “Sigma”

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: tổ hợp các khí tài: VAN-M hoặc “Anis” và “Iva”

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: MRP-10.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #148 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2012, 05:00:14 pm »

Đề án 705/705-K “Lira” – lớp Alfa


Tổng số tàu đã đóng: 7+1

Các biến thể:

+ 705 – Đề án cơ sở, nằm trong sự khai thác sử dụng thí nghiệm (1971)

+ 705-K “Lira” – Đề án đóng loạt với thiết bị sản xuất hơi nước mới (1975)

+ 705-D – Đề án sáng kiến với sự tăng cường cơ số đạn, trang bị thiết bị sản xuất hơi nước với lò phản ứng nước – nước (năm 1960)

+ 705-A (686) – Đề án trước phác thảo, trang bị 6 tên lửa chống tàu “Ametist”/”Malakhit” (1962)

+ 705-B (687) – Đề án phác thảo tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh với tổ hợp D-5 (1965).

Vào đầu những năm 80, một trong số các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đang hoạt động ở Cực Bắc, đã lập kỷ lực, trong vòng 22 giờ đã thực hiện việc giám sát tàu nguyên tử của “kẻ thù tiềm tang” đang ở trong phạm vi mạn tàu. Trong sự tuyệt vọng, mặc dù đã có những nỗ lực, thủy thủ đoàn tàu ngầm NATO cố gắng thay đổi tình hình, “cắt đuôi” tàu địch nhưng không thành công: sự giám sát chỉ dừng lại sau khi nhận được mệnh lệnh từ bờ. Trường hợp này xảy ra với tàu ngầm nguyên tử thuộc Đề án 705 và trở thành trang chói lọi trong lịch sử ngành đóng tàu Liên Xô. Đánh giá tàu ngầm ngày, các chuyên gia hàng đầu của Nga đã bị thu hút từ những ưu điểm cho đến những nhược điểm.

Đồng thời với các công việc về tàu ngầm nguyên tử Đền án 627, 645 và 671 ở Phòng thiết kế thí nghiệm số 142 ở Leningrad đã tiến hành mạnh mẽ việc tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật phi truyền thống mới, có khả awnng đảm bảo sự đột phá về chất lượng trong sự phát triển ngành đóng tàu ngầm. Năm 1959, một trong số các chuyên gia hàng đầu trong Phòng thiết kế A.B.Petrov đã đưa ra đề xuất về chế tạo tàu ngầm nguyên tử tốc độ cao với tổ hợp một trục tự động kích thước nhỏ và giảm biên chế thủy thủ đoàn. Theo quan điểm này, tàu mới là “tàu ngầm đánh chặn – tiêm kích”, có tốc độ dưới nước, hơn 40 hải lý, có khả ăng trong thời gian ngắn cần thiết đi tới điểm quy định ở đại dương để tấn công tàu ngầm hoặc tàu nổi của địch. Trước khi địch phát hiện và tấn công bằng ngư lôi, tàu phải thực hiện loạt phóng ngư lôi từ các thiết bị ngư lôi của mình.

Lượng choán nước thấp của tàu (khoảng 1500 tấn) trong sự phối hợp với thiết bị năng lượng mạnh đã đảm bảo bổ hợp tốc độ nhanh và tính cơ động cao. Tàu ngầm nguyên tử phải theo đường riêng trong thời gian vài phút rời khỏi tường thành, nhanh chóng tới triển khai tới khu mặt nước và rời khỏi căn cứ để giải quyết nhiệm vụ chiến đấu, còn sau khi quay “về nhà”, tự neo đậu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #149 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2012, 05:01:08 pm »

Các bản vẽ thiết kế Đề án 705





Các khoang tàu ngầm


1.Khoang ngư lôi; 2.Khoang máy điện; 3.Trạm trung tâm, cho người ở; 4.Khoang lò phản ứng; 5.Khoang thiết bị tuabin răng cưa chính; 6.Khoang bánh lái và trang thiết bị khác
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM