Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:46:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329734 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #170 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2012, 02:43:27 pm »

Đề án 671-RTM “Shuka” (“Cá măng” – lớp Victor-III)


Tổng số tàu đã đóng: 26+1.

Các biến thể:

+ 671-RTM “Shuka” – loạt tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 với tổ hợp thủy âm mới trên cơ sở Đề án 671-RT (1977)

+ 671-RTMK – loạt tàu ngầm nguyên tử nhận vũ khí tên lửa chiến lược “Granat”.

Song song với sự triển khai các công việc theo sự chế tạo một cách nguyên tắc các tàu ngầm nguyên tử mới Đề án 945 và 971, ở Liên Xô đã bắt đầu tiến hành thí nghiệm rất thành công việc nâng thiết kế đã không còn sử dụng thuộc các Đề án 671/671-RT. Trên cơ sở Đề án nâng cấp 671-RTM (mã số “Shuka”) đã tiến hành nghiên cứu theo sự phân phối thế hệ mới trang bị khí tài – tổ hợp thủy âm công suất mạnh, tổ hợp đạo hàng, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu, tổ hợp tự động hóa các khí tài liên lạc vô tuyến, các khí tài tổ hợp trinh sát, đồng thời các phương pháp làm giảm sự lộ ngụy trang của tàu. Thực tế, Đề án 671-RTM mới, đồng thờ với tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa chiến lược Đề án 667-BDRM là sự “vận hành trơn tru” từ tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2 sang thế hệ thứ 3.

Việc thiết kế được tiến hành ở Phòng thiết kế số 143, Tổng công trình sư của Đề án 671-RTM là G.N.Chernưshev (cho đến thời điểm các tàu ngầm Đề án 671 và Đề án 671-RT), năm 1984, R.A.Shmakov thay thế ông. Giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 G.V.Nikolaev.

Một trong số các phần tử quan trọng nhất trong trang bị của tàu ngầm nguyên tử nâng cấp phải là tổ hợp tên lửa chống ngầm “Shkval” mà việc thiết kế được bắt đầu theo sự tương đồng với Mệnh lệnh năm 1960. Trong thành phần của tổ hợp gốm có tên lửa siêu thanh phóng trực tiếp dưới nước tốc độ 200 hải lý (tầm xa – 11km). Việc này đạt được do việc sử dụng động cơ, hoạt động trên nhiên liệu phản ứng nước, đồng thời do sự tính toán hoạt động của đạn trong lỗ hổng khí, đảm bảo sự tối thiểu hóa sức cản thủy lực. Việc điều khiển tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân, được thực hiện nhờ hệ thống quán tính, không nhạy cảm với các dải nhiễu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #171 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2012, 02:44:20 pm »

Các bản vẽ tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM:





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #172 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2012, 02:48:40 pm »

Bản vẽ các khí tài di động của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM


Hình dáng bên ngoài và sự bố trí cơ số đạn trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM

Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #173 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2012, 03:24:46 pm »

Lần bắn đầu tiên của tên lửa phóng dưới nước được tiến hành ở hồ Issưk-Kul năm 1964, ngày 29 tháng 11 năm 1977, tổ hợp VA-111 “Shkval” với tên lửa M-5 được tiếp nhận vào trang bị Hải quân. Đáng chú ý, rằng tổ hợp hiệu quả cao tương tự, có xác xuất tiêu diệt mục tiêu gần như tuyệt đối, có tầm xa tương tự ở nước ngoài cho đến thời điểm này vẫn chưa có.

Việc chế tạo ở Liên Xô tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM thực tế cùng với ở Mỹ bắt đầu thực hiện chương trình đóng tàu ngầm nguyên tử đa năng thế hệ thứ 3 lớp SSN-688 – lớp tàu ngầm có số lượng lớn nhất trên thế giới (năm 1996, Hải quân Mỹ đã nhận tàu ngầm cuối cùng – thứ 62 trong lớp), trang bị tổ hợp thủy âm mạnh AN/BQQ-5. Tàu đầu tiên trong lớp – “Los Angeles” – gia nhập biên chế Hải quân năm 1976. CÁc tàu ngầm mới của Mỹ, so với trước đó, vượt trội các tàu ngầm cùng loại của Liên Xô về sự ngụy trang và các tính năng của tổ hợp thủy âm. Tuy nhiên sự đột phá này, theo sự công nhận của chính người Mỹ, là sự giản ước đáng kể và không hơn tính chất “chính kịch” trước đó. Tới thời gian đó, các tàu ngầm nguyên tử Mỹ thực tế so sah được với các tàu ngầm Liên Xô về tốc độ tối đa dưới nước (mặc dù thua kém một số tham số về độ lặn sâu). Tới thời điếm này, các tàu ngầm “Cá măng” có tính cơ động và sức sống chiến đấu tốt hơn. Chúng có một số điểm vượt trội về vũ khí. Do kết quả tính toán cấp độ cao của sự tự động hóa phức hợp của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM có thủy thủ đoàn ít hơn đáng kể so với “Los Angeles”, cho phép tạo trên tàu điều kiện sống tốt hơn. Tuy nhiên theo tổng thể, theo các đánh giá của một số chuyên gia, các tàu ngầm Đề án 671-RTM (mang tên gọi lớp Victory-III ở phương Tây) và SSN-688 là các tàu ngầm có giá trị tương đương.

Theo thiết kế, Đề án 671-RTM, cũng như các tàu trước thuộc lớp Đề án 671, là hai thân. Thiết kế thân ngoài được thiết kế từ theo ít từ tính. Trên thân ngoài sử dụng lớp phủ chống thủy âm ít từ tính và cao su cách âm. Thân trong gồm có các hình trụ đường kính khác nhau, liên kết bằng các miếng đệm hình nón. Khi chế tạo thân trong sử dụng thép AK-29, độ dày các tấm thép 35mm. Các vách ngăn không thấm nước bằng thép bên trong được tính toán chịu áp lực 10kg lực/cm2. Chúng phân chia thân trong thành 8 khoang:

1 – thiết bị ngư lôi và cơ số đạn, khoang cho người ở và lương thực

2 – buồng, buồng của sĩ quan và nhà ăn cho hạ sĩ quan và thành viên thủy thủ đoàn, bếp ăn

3 – trạm trung tâm, khoang thực phẩn và các máy móc hỗ trợ

4 – lò phản ứng

5 – khối tuabin răng cưa chính và máy phát điện tuabin tự động, thiết bị cất nước mặn và trạm thiết bị năng lượng

6 – máy nén khí, thiết bị làm lạnh bằng máy phun hơi nước, bộ đổi tần PR-501-2

7 – khoang cho người sống, máy phát điện-diezel

8 – các động cơ điện bánh lái, các bộ dẫn động tay lái, bếp, trạm hóa học.

Các bánh lái mũi ngang của tàu được chế tạo từ titan, chúng được thực hiện bằng cách gập và được bố trí trong bộ phận trước của thân. Cánh đuôi mạn tàu hình chữ thập (dấu cộng), trên tay lái thẳng cao lắp mũ chụp cho ăng ten lai của đài thủy âm. Vách ngăn các hầm của khí tài di động được chế tạo từ nhôm. Hình dáng mũ chụp mang lại cho nó kiểu “ô tô con”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #174 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2012, 03:51:14 pm »


Thiết bị năng lượng chính của tàu (công suất trên trục là 31 000 sức ngựa) thực tế là tương đồng với thiết bị năng lượng chính trên tàu ngầm nguyên tử thuộc các Đề án 671-RT và 671: 2 lò phản ứng nước – nước kiểu VM-4 công suất nóng 72mW và 4 máy phát điện hơi nước PG-4T, một tổ hợp tuabin răng cưa 615. Trong hệ thống năng lượng điện của tàu gồm có 2 máy phát điện tuabin tự động OK-2 công suất 2000kW, hoạt động trên dòng điện 1 xoay chiều hiệu điện thế 380V, 50Hz. Tàu đồng thời có máy phát điện – diesel công suất 460kW, trong trường hợp làm lạnh bắt buộc của thiết bị sản xuất hơi nước đảm bảo sự di chuyển ở vị tri tiềm vọng ngầm dưới các động cơ điện chân vịt hoặc nạp điện các pin ắc quy.

Trong vai trò khí tài di chuyển dự bị (cũng như trên các lớp tàu ngầm trước) có 2 động cơ điện 1 chiều PG-138 công suất mỗi động cơ 275 sức ngựa. Mỗi động cơ, được bố trí trên cánh đuôi đứng. Chân vịt hai cánh đóng vai trò dẫn động. Trong vai trò động cơ chính sử dụng chân vit 7 cánh đường kính lớn vòng quay thấp (290 vòng/phút). Trong vị trí ngầm, tàu đạt tốc độ tối đa 31 hải lý, ở vị trí nổi – 10 hải lý.

Tổ hợp bố sung được tiếp nhận nhằm tăng cường sự che phủ cho tàu ngầm nguyên tử do kết quả áp dụng một cách nguyên tắc các giải pháp mới theo sự giảm chân, sự mở các máy móc và cấu trúc. Thiết bị tuabin răng cưa và các máy phát điện tuabin tự đọng với các máy móc hỗ trợ được lắp trong khung chung trong tổ hợp duy nhất với bộ giảm chấn hai tầng hiệu quả cao: các bộ giảm chấn được sử dụng khi cố định các thiết bị trên khung, còn khung được cách ly từ thân bằng các bộ giảm chấn khí nén sợi cao su, tạo thành tầng cách ly thứ 2. Tàu được nhận khí tài giảm từ tính, gây khó khăn cho việc phát hiện tàu bằng từ kế hàng không.

Ban đầu, trên các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM dự kiến lắp tổ hợp thủy âm “Skat-M” (sự ghép bộ nhỏ) hoặc tổ hợp thủy âm “Skat-B” (sự ghép bộ lớn). Sự khác biệt của chúng là kích thước của các ăng ten chính, bằng sự thay đổi số lượng các trụ chống ở trong thân trong và trên ra giới tải trọng trên tàu. Trong cả hai tổ hợp, ăng ten chính được lắp trong hộp hình trụ, bên trong đó bố trí thiết bị xử lý thông tin sơ cấp. Cuối cùng, ở Phòng thiết kế đã quyết định dừng lại ở phiên bản mang tính “thỏa hiệp” – tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #175 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2012, 02:25:12 pm »

Tổ hợp thủy âm “Skat-KS” đảm bảo phát hiện và phân loại mục tiêu, đồng thời theo dõi tự động trong sự tìm phương theo tiếng ồn trong các phạm vi tần số âm thanh và hạ âm. Tổ hợp cho phép phát hiện mục tiêu nhờ  sự tìm phương theo tiếng vọng với sự đo khoảng cách tới chúng và cung cấp các thông tin gốc đối với sự chỉ thị mục tiêu cho vũ khí ngư lôi. Theo các khả năng của mình, tổ hợp “Skat-KS” vượt trội gấp 3 lần các tổ hợp thủy âm thế hệ trước và gần với các tổ hợp của Mỹ (mặc dù kém các tổ hợp đó theo các thông số khối lượng – kích thước). Tầm xa phát hiện mục tiêu tối đa trong các tình trạng thủy âm tiêu chuẩn là 230km. Các máy thu tiếng ồn mang theo đã được tiếp nhận (máy dò âm dưới nước), làm việc trong chế độ thụ động, đồng thời ăng ten hạ âm lai kéo dài, trong dạng thu gọn được bố trí trong thùng hình cầu đặc biệt, bố trí trên cánh đuôi đứng của tàu ngầm. Phiên bản này, sự bố trí ăng ten lai kéo dài dẻo bắt buộc là thiết kế một trục của phần mạn tàu ngầm nguyên tử, loại bỏ thiết bị ăng ten trong thân trong hoặc trên bộ phận cân bằng, cũng như trên các tàu ngầm hai trục.

Ngoài ra, tàu ngầm Đề án 671-RTM trang bị các khí tài phi thủy âm phát hiện mục tiêu – đài phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước), đài cảm biến được bố trí trên vách ngăn mui. Đài đảm bảo phát hiện các tàu ngầm và tàu địch theo sự bất thường từ vết rẽ nước.

Tổ hợp đạo hàng “Medveditsa-671-RTM” đảm bảo sự xử lý tự ddoognj liên tục các tọa độ vị trí, góc vòng, tốc độ tương đối của nước và đất, các góc lắc bên và sống tàu, đồng thời sự truyền tải tự động của các tham số này tới các hệ thống khác của tàu. Tổ hợp này được lắp trên tàu đầu tiên K-524 và sau khi được tiếp nhận vào trang bị năm 1980, chúng được trang bị trên toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM.

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus” thực hiện sự thu tự động, xử lý và phản ánh trực quan thông tin, đảm bảo sự tiếp nhận các giải pháp cơ động, việc sử dụng vũ khí chiến đấu, đồng thời điểu khiển bắn ngư lôi và tên lửa.

Tàu được trang bị tổ hợp thông tin liên lạc tự động hóa mới “Molnia-L” với hệ thống thông tin liên lạc vũ trụ “Tsunami-B”, đồng thời tổ hợp trinh sát đặc biệt.

Trang bị của tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM gồm có 4 thiết bị ngư lôi 533mm và 2 thiết bị ngư lôi 650mm thuộc tổ hợp “Ladoga 1V-671RT” với hệ thống chuẩn bị thiết bị ngư lôi “Kalmar”. Trên các tàu ngầm nguyên tử thuộc Đề án này đã xuất hiện tổ hợp chống ngầm mới “Vodopad” và “Veter” với các tên lửa 83-R và 84-R. Ngoài ra, tàu ngầm nguyên tử có thể mang theo các loại đạn biệt kích điều khiển “Sirena” và các khí tài “đặc nhiệm”.

Việc nắm vững khai thác sử dụng các tàu ngầm Đề án 671-RTM có một số khó khăn. Nguyên nhân gồm có khả năng hoạt động của hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus”: đến giữa những năm 80, hệ thống này không có khả năng giải quyết hoàn toàn các nhiệm vụ của nó. Trên các tàu được đóng trước, “Omnibus” đã tiến hành khai thác sử dụng các tàu ngầm và hạn chế một cách thực tế các khả năng chiến đấu của chúng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #176 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2012, 03:08:46 pm »

Các biến thể


Đến thời điểm đóng 5 tàu thuộc Đề án 671-RTM (K-138, K-292, K-388, K-414 và K-448) đã được lắp bánh lái chân vịt tiếng ồn thấp được thiết kế theo sơ đồ “tiếp đôi”.

Sự hiện đại hóa quan trọng nhất được áp dụng trên các tàu ngầm Đề án 671-RTM là loại vũ khí mới – các tên lửa có cánh trước âm kích thước nhỏ chiến lược “Granat” với tầm bắn tối đa 3000km (tương tự với “Tomahawk” của Mỹ). Như là K-254 được đóng tiếp theo Đề án thay đổi 671-RTMK – với tổ hợp vũ khí được bố sung tên lửa có cánh. Trên tàu được lắp thiết bị ngư lôi bổ sung trong thượng tầng trước mui, qua đó thực hiện việc bắn tên lửa có cánh (lần phóng đầu tiên thực hiện ngày 13 tháng 11 năm 1981). Sau khi xử lý tổ hợp, them 6 thân tàu được đóng ở Leningrad: K-244, K-292, K-388, K-138, K-414 và K-448 đồng thời được đóng tiếp theo Đề án 671-RTMK, trong thành phần vũ khí gồm có các tên lửa 3M10V2. Sau đó, trong quá trình nâng cấp, các tên lửa có cánh được trang bị them trên hai tàu nữa: K-524 (năm 1986-96) và K-502 (1988-92).

Sự trang bị cho tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTMK các tên lửa có cánh đã làm cho chúng trở thành các tàu ngầm đa năng, có khả năng giải quyết một loạt các nhiệm vụ trong các cuộc chiến tranh thông thường cho đến chiến tranh hạt nhân. Theo các thông số kích thước khối lượng của tên lủa có cánh “Granat”, thực tế không khác các loại ngư lôi tiêu chuẩn. Việc này cho phéo tiếp nhận chúng từ các thiết bị ngư lôi 533mm tiêu chuẩn. Bên ngoài, các tàu Đề án 671-RTMK thực tế không khác so với các tàu ngầm trước, bởi vì tất cả những sự khác biệt đều liên quan vào sự bố trí các trang thiết bị bên trong, các khí tài và hệ thống điều khiển bắn. Do kết quả của việc tăng cấp độ tự động trang bị khí tài, thủy thủ đoàn được rút gọn còn 96 người. Ngoài ra, bộ phận lớn các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTMK trang bị tổ hợp thủy âm “Skat-KS” được thay bằng tổ hợp “Skat-2M” hiện đại hơn.

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu ngầm Đề án 671-RTM đã được quyết định tổ chức đồng thời ở xưởng Tư lệnh Hải quân tại Leningrad (với sự đóng tiếp sau đó ở xưởng sửa chữa tàu “Zvedochka”) và Komsomol-na-Amur (với sự đóng tiếp sau đó ở xưởng sửa chữa tàu ở Đá Lớn). Tàu đầu tiên trong Đề án  - K-524 – khởi công ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin năm 1977. Tổng cộng đến năm 1984, trong xưởng đã đóng 13 tàu ngầm nguyên tử (và thêm một tàu bị bỏ đóng) và cũng chừng đó tàu ở xưởng Tư lệnh Hải quân, nơi chúng được đóng đến năm 1992.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #177 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2012, 03:56:18 pm »

Tình hình đến năm 2007


Ban đầu, các tàu ngầm đầu tiên thuộc Đề án 671-RTM đã ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như là tàu ngầm nguyên tử loại lớn, nhưng từ tháng 7 năm 1977, đã quyết định đưa chúng vào phân lớp tàu ngầm tuần dương. Tháng 6 năm 1992, toàn bộ các tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM và 671-RTMK trong Hải quân Nga được phân loại lại từ tàu ngầm tuần dương trở thành các tàu ngầm nguyên tử loại lớn cấp 1 và thay đổi các số hiệu chiến thuật “K” thành ”B”.

16 tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RMT(K) gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc và 10 – Hạm đội Thái Bình Dương. Trong đó, các tàu ngầm đã di chuyển theo vùng cực từ Thái Bình Dương đến biển Bắc: năm 1981, 1982 và 1983. Cuộc hành quân này do các tàu ngầm K-255, K-324 và K-218 được đóng ở Komsomol-na-Amur.

Tháng 12 năm 1983. tàu ngầm nguyên tử K-324 Đề án 671-RTM đang thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở bờ biển Bắc Mỹ thuộc Đại Tây Dương. Tàu được giao nhiệm vụ giám sát tàu chiến Mỹ “Maccloy” đang tiến hành thí nghiệm hệ thống quan sát ngầm mới TasTAS (Towed Array Surveillance System) với ăng ten thủy âm lai tần số thấp kéo dài. K-324 đã thành công trong việc ghi lại thông tin về các tham số hoạt động của hệ thống, đồng thời làm rõ sự tương quan đặc biệt của các tàu nổi Mỹ với các tàu ngầm và các phần tử tổ hợp tại chỗ phát hiện thủy âm tầm xa. Tuy nhiên, “Maccloy” bất ngờ rút ngắn thí nghiệm và rời khỏi căn cứ, còn K-324 nhận lệnh thay đổi khu vực bơi. Bất ngờ, trên tàu xuất hiện sự rung lắc lớn, yêu cầu kiếm tra tình trạng tuabin chính. Khi nổi lên, chỉ huy tàu K-324 đã phát hiện rằng, họ đã nhậ được “món quà bất ngờ từ chú Sam”” – trên chân vịt của tàu mắc vào 400 mét ăng ten cáp bọc theo siêu bí mật TasTAS. Có vẻ như, tàu Liên Xô, nổi lên ở khu vực bãi tập của Mỹ, nhanh chóng bị phát hiện bởi “kẻ thù tiềm tàng”. Đến sáng, ở khu vực xảy ra sự cố đã xuất hiện các tàu khu trục “Peterson” và “Nicolson”, bao vây K-324. Tình hình chỉ dịu đi khi K-324 được hỗ trợ bởi tàu Liên Xô “Apdan”, kéo tàu ngầm tới Cuba, nơi nó được sửa chữa, còn ăng ten “đen đủi” được mang về Liên Xô để nghiên cứu chi tiết.

Một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử các tàu ngầm Đề án 671-RTM là tham gia vào các chiến dịch lớn của Hải quân Liên xô “Aprot” và “Atrina”, được tiến hành ở Đại Tây Dương do các lực lượng thuộc sư đoàn 33 và trong các cấp độ dao động đáng kể của “kẻ thù tiềm tàng” – Mỹ - trong các khả năng của Hải quân giải quyết nhiệm vụ chống ngầm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #178 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2012, 07:10:20 pm »


Ngày 29 tháng 5 năm 1985, từ Zapadnaia Litsa, có 3 tàu ngầm đồng thời rời khỏi căn cứ (K-299, K-324 và K-502 thuộc Đề án 671-RTM), đồng thời K-488 (Đề án 671-RT). Muộn hơn sau đó là K-147 (Đề án 671). Có vẻ như là, cuộc ra khởi của các tàu ngầm không thể thoát khỏi sự trinh sát của Hải quân Mỹ. Các cuộc tìm kiếm quy mô lớn đã được bắt đầu, tuy nhiên, không thu được kết quả như mong đợi. Tới thời điểm đó, các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô, đang hoạt động một cách bí mật đã thực hiện việc giám sát chặt chẽ các tàu ngầm tên lửa Mỹ trong các khu vực tuần tra chiến đấu của chúng (chi tiết, K-324 có 3 cuộc tiếp xúc thủy âm với các tàu ngầm nguyên tử Mỹ, kéo dài tổng cộng 28 giờ), đồng thời nghiên cứu chiến thuật hoạt động chống ngầm của mãy bay Mỹ. Người Mỹ chỉ có thể thiết lập được sự tiếp xúc với K-488 chỉ khi nó đã quay về căn cứ. Chiến dịch “Aport” đã hoàn thành mùng 1 tháng 7.

Tháng 3 năm 1987, cuộc diễn tập ngắn “Atrina” đã được tiến hành, trong đó có sự tham gia của 5 tàu ngầm ngầm thuộc Đề án 671-RTM – K-244, K-255, K-298, K-299 và K-52, các hoạt động được đảm bảo bởi lực lượng máy bay của Không quân thuộc Hải quân, đồng thời hai tàu trinh sát lớp “Kolguev” trang bị đài thủy âm với ăng ten thủy âm kéo dài. Mặc dù việc các tàu ngầm rời khởi căn cứ từ Zapadnaia Litsa, người Mỹ biết rất rõ, nhưng đã bị mất dấu ở khu vực Bắc Đại Tây Dương. Một lần nữa, cuộc đi săn tàu ngầm lại được bắt đầu mà trong đí thực tế đã tiếp nhận toàn bộ lực lượng chống ngầm của Mỹ ở Đại Tây Dương – các máy bay cất cánh từ boong và căn cứ trên bộ, 6 tàu ngầm nguyên tử chống ngầm (bổ sung các tàu ngầm đã được triển khai của Hải quân Mỹ ở Đại Tây Dương, 3 cụm tàu thăm dò mạnh, đồng thời 3 tàu mới nhất trang bị khí tài quan sát thủy âm kiểu T-AGOS-1 “Stalwart”, được sử dụng để tạo thành các xung động thủy âm gây. Trong cuộc săn lung của chiến dịch còn có sự tham gia của các tàu Hải quân Anh. Mật độ lực lượng chống ngầm dày đặc đến mức, hầu như không có cơ hội để nổi lên thực hiện việc liên lạc vô tuyến hoặc lấy không khí. Mặc dù vậy, tàu ngầm nguyên tử có thể tới khu vực biển Sargassov mà không bị phát hiện, ở đó, “tấm màn chắn” Liên Xô, cuối cùng cũng bị phát hiện. Các cuộc tiếp xúc đầu tiên với các tàu ngầm Mỹ đã thực hiện thành công chỉ sau 8 ngày sau khi bắt đầu chiến dịch “Atrina”. Khi đó, tàu ngầm nguyên tử Đề án 671-RTM đã bị nhận định sai lầm là tàu ngầm nguyên tử chiến lược tuần dương và làm tăng cường các mối quan tâm của chỉ huy Hải quân Mỹ và giới lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ (các sự kiện diễn ra trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trong bất kỳ thời điểm nào cũng có thể trở thành “nóng”). Khi quay lại căn cứ để tách khỏi sự theo dõi của các khí tài chống ngầm, chỉ huy tàu ngầm nguyên tử đã quyết định sử dụng các khí tài bí mật chống thủy âm.

Chiến dịch “Aprot” và “Atrina” được thực hiện thành công đã củng cố thêm khẳng định, rằng Hải quân Mỹ đối với số lượng lớn tàu ngầm hiện đại của Liên Xô đang sử dụng không thể tổ chức những hoạt động hiệu quả nhằm đối phó với chúng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #179 vào lúc: 31 Tháng Giêng, 2012, 07:41:44 pm »


Lần bơi dưới băng phức tạp nhất vào cuối năm 1985 do K-524 thực hiện. Ý định của cuộc hành quân là để đi từ Bắc Ledovitưi tới Đại Tây Dương, đi quanh Greenland từ đông bắc. Vì cuộc hành quân này, chỉ huy tàu ngầm nguyên tử được tặng danh hiệu Anh hung Liên Xô. Đi vào biển Linkon, tàu đã đi qua các vịnh hẹp và nông Robcon và Kennedi, chia cắt Greenland khỏi đất liền Grant và đất Grinnel, đi ngang qua lưu vực Kein và qua vịnh Smit, rời tới biển Baffinov và sau đó – bắc Đại Tây Dương. Hành trình diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm. Tàu phải đi qua các bãi nông và núi băng. Trên biển Baffinov do các núi băng ở độ sâu lớn hầu như không thể di chuyển. Trong các điều kiện này, khí tài thông tin liên lạc tin cậy duy nhất là thiết bị thủy âm. Ở Đại Tây Dương, K-524 đã đối đầu với tàu sân bay Mỹ “America” và “tấn công” nó một cách bí mật. Toàn bộ cuộc hành quân kéo dài 80 ngày, 54 trong số đó dưới băng, ở độ sâu trên 150 mét.

Đầu năm 1989, tương ứng với các thỏa thuận Nga – Mỹ với các tàu ngầm nguyên tử đa năng của Hải quân Mỹ và Nga đã tháo bỏ và cất trên bờ các vũ khí trang bị đầu đạn hạt nhân. Kết quả là các tàu ngầm Đề án 671-RTM (cũng như các tàu còn lại) chỉ giữ lại tên lửa “Shkval” và tên lửa có cánh “Granat”.

Giữa những năm 190, các tàu Đề án 671-RTM lần lượt bị loại khỏi biên chế. Các tàu đầu tiên bị loại thuộc Hạm đội Thái Bình Dương là K-427, K-492 và K-412 lần lượt tổng cộng 12, 10 và 6 tàu ngầm nguyên tử Sau khi bị cháy ở khoang tuabin xảy ra năm 1994, K-305 không quay trở lại biên chế, đưa vào biên chế dự bị kỹ thuật. Sau đó, danh sách các tàu bị rút gọn và đến năm 2000, phần lớn trong số chúng bị loại khỏi biên chế.

Tuy nhiên, các “Cá măng” tiếp tục chứng tỏ chất lượng chiến đấu cao. Nói về vấn đề này, xảy ra vào mùa đông năm 1996, trong 150 dặm từ quần đảo Cambride. Ngày 29 tháng 2, sứ quán Nga ở Luân Đôn đã thông báo cho chỉ huy Hải quân Anh với yêu cầu hỗ trợ cho thủy thủ tàu ngầm nguyên tử được chuyển lên thành tàu để phẫu thuật bệnh viêm ruột thừa, sau đó, phát hiện ra bệnh viêm quanh răng (sự điều trị chỉ có thể ở bệnh viện). Rất nhanh chóng, bệnh nhân được đưa lên bờ bằng trực thăng “Links” với tàu khu trục “Glasgow”. Khi đó, báo chí Anh đã thắc mắc bởi sự kiện, rằng tới thời điểm, khi mà ở Luân Đôn đang diễn ra các cuộc đàm phán về việc sơ tán bệnh nhân, ở Bắc Đại Tây Dương, cũng ở khu vực đó nơi có tàu ngầm nguyên tử Nga, đang diễn ra cuộc tập trận chống ngầm của NATO. Tuy nhiên, tàu chỉ bị phát hiện khi nó tự nổi lên để chuyển bệnh nhân – thủy thủ cho trực thăng, nghĩa là khả năng ẩn nấp của nó rất cao – tàu ngầm nguyên tử đã thực hiện sự giám sát các lực lượng chống ngầm của NATO, trong khi vẫn không bị phát hiện. Đáng chú ý là từ “Cá măng” (“Shuka”) được tiếp nhận bởi người Anh cho các tàu ngầm hiện đại hơn (tất nhiên, êm hơn) thuộc Đề án 971.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM