Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:15:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329755 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #190 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2012, 02:59:11 pm »

Vũ khí


Tên lửa chiến lược

+ tên lửa có cánh RK-55 “Granat” (SS-N-21 “Sampson” trên Đề án 671-RTM là tên lửa có cánh chiến lược 3M10V2 “Granat”: có bộ phận ngư lôi thay thế

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”)

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-73 hoặc 65-76: 6

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm 53-65K SET-65: 18

+ ngư lôi - tên lửa 83-R “Vodopad”/84-R”Veter”; các tên lửa “Shkval”: có ngư lôi thay thế

Mìn

+ có thể mang theo mìn thay cho ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện


+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRK-500 “Kaskad” (Snoop Tray)

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS” hoặc “Skat-2M” trên Đề án 671-RTM; đài thủy âm “Skat-B” (Shark Teeth, Mouse Roar); đài thủy âm lớn “Ruza-P”

+ các khí tài tác chiến điện tử: MRP-21A “Zaliv-P”, “Zona”, “Anis”, “Zavesa” (Brick Group, Park Lamp);

+ hệ thống phát hiện mục tiêu theo vết rẽ nước: SOKS

+ tổ hợp đạo hàng: “Medveditsa-671-RTM”; “Sintez” – đạo hàng vũ trụ

+ tổ hợp thông tin liên lạc: “Molnia-L” (Kremmy-2); “Tsunami-BM” – liên lạc vũ trụ; “Paravan” – ăng ten lai

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: MRK-57 “Korma”.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Hai, 2012, 05:36:30 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #191 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2012, 04:20:24 pm »

Đề án 945 “Barrakuda” – Lớp Sierral-I


Tổng số tàu đã đóng: 2

Các biến thể

+ 945 “Barrakuda” (Lớp Sierra-I) – tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 với thân tàu bằng titan (1984)

+ 945-A “Kondor” (Lớp Sierra-II) – phiên bản hiện đại hóa, tăng cường lượng choán nước, vũ khí mới (1990).

Song song với các công việc theo sự chế tạo các tàu ngầm nguyên tử đa chức năng thế hệ thứ 2, trong các phòng thiết kế hàng đầu Liên Xô, các trung tâm khoa học Hải quân chuyên ngành đã tiến hành các công việc thăm dò chế tạo tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3. Chi tiết. Phòng thiết kế số 112 Gorki (hiện nay là Nizhegorod) “Lazurit” năm 1971 đã bắt đầu chuẩn bị chế tạo tàu ngầm nguyên tử này theo Đề án 673, trong đó áp dụng nhiều giải pháp tiên tiến. Sau đó, các công việc về tàu ngầm nguyên tử ở Gorki đã được tiếp tục, còn tiếp đó, sản phẩm này đã được sử dụng khi thiết kế tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 đầu tiên ở Liên Xô.

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trong việc thiết kế tàu ngầm nguyên tử đa năng lớn được đưa ra vào tháng 3 năm 1972. Trong đó, phía Hải quân đã đặt ra nhiệm vụ hạn chế lượng choán nước trong các giới hạn, đảm bảo việc đóng tàu trong nội bộ các xưởng ở Liên Xô. Nhiệm vụ chính của tàu ngầm nguyên tử mới, nhận số hiệu Đề án 945 và mã số “Barrakuda” phải là giám sát, theo dõi các tàu ngầm tên lửa và cụm tàu sân bay tiến công của đối thủ tiềm tang, đồng thời đảm bảo sự tiêu diệt các mục tiêu đó ngay khi bắt đầu chiến đấu. Tổng công trình sư của Đề án là I.I.Kvash, còn giám sát viên chính từ phía Hải quân – Thuyền trưởng cấp 2 I.P.Bigachenko.

Một cách nguyên tắc, phần tử chính của tàu ngầm nguyên tử mới là sự tiếp nhận đối với việc chế tạo thân trong từ hợp kim titan với độ lưu chảy giới hạn 70-72 kg lực/cm2, đảm bảo sự tăng độ lặn sâu giới hạn gấp 1,5 lần so với tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 2. Việc sử dụng hợp kim titan có độ cứng riêng cao cho phép giảm khối lượng thân tàu với lượng choán nước đến 25-30%, tạo nên khả năng đóng tàu ngầm nguyên tử ở xưởng tại thành phố Gorki và vận chuyển nó sau đó theo các đường hệ thống nước nội bộ. Ngoài ra, thiết kế titan cho phép giảm mạnh trường từ tính của tàu (theo tham số này, các tàu ngầm Đề án 945 duy trì vị trí hàng đầu thế giới cho đến thời điểm này). Tuy nhiên, việc sử dụng titan có mặt khác – là giá thành đóng tàu tăng lên một cách căn bản, hạn chế số lượng tàu được đóng, còn theo các nguyên nhân kỹ thuật, không phải toàn bộ các cơ sở đóng tàu có thẻ tham gia vào chương trình đóng tàu (công nghệ đóng tàu thân titan không được thực hiện ở Komsomol-na-Amur).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #192 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2012, 04:53:32 pm »

Theo so sánh với tàu ngầm nguyên tử thế hệ trước, tổ hợp ngư lôi – tên lửa của tàu mới phải có cơ số đạn gấp đôi do kết quả tiếp nhận cơ số đạn mới và hệ thống chỉ thị mục tiêu hiện đại hóa, tăng tầm bắn (gấp 3 lần đối với ngư lôi – tên lửa và 1,5 lần – đối với ngư lôi), đồng thời khả năng chiến đấu cao (thời gian chuẩn bị đến khi bắn loạt đầu tiên được rút ngắn gấp 2 lần).

Tháng 12 năm 1969, ở phòng thiết kế Minaviaprom (Bộ công nghiệp hàng không) “Novator” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư L.V.Lyulev đã bắt đầu các công việc chế tạo tổ hợp tên lửa chống ngầm mới thế hệ thứ 2 “Vodopad” (đường kính 533mm) và “Veter” (650mm), được sử dụng trong nhiệm vụ đầu tiên, để trang bị cho các tàu ngàm nguyên tử thế hệ thứ 3 tương lai, trong đó có Đề án 945. Trong sự khác biệt với các tàu ngầm tiền nhiệm – tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh “Viuga-53” – “Vodopad” phải được tổ hợp hóa (bố trí, ghép bộ) như bộ phận chiến đấu đặc biệt, cũng như ngư lôi kích thước nhỏ tự dẫn đường UMGT-1 (nhà thiết kế - cơ quan nghiên cứu khoa học “Uran”) với tầm xa phản ứng theo kênh thủy âm 1,5km, tầm hoạt động xa 8km và tốc độ tối đa 41 hải lý. Việc sử dụng 2 kiểu ghép bộ đã mở rộng đáng kể phạm vi tiếp nhận vũ khí. Theo so sánh với tổ hợp “Viuga-53”, “Vodopad” đồng thời tăng khả năng khởi động ở độ sâu tối đa (150 mét), mở rộng phạm vi tầm bắn (từ độ sâu 20-50 mét – 5-50km, từ 150 mét – 5-35km), giảm đáng kể thời gian chuẩn bị trước phóng (10 giây). “Veter” có tấm bắn gấp đôi so với “Vodopad”, đồng thời có thể được ghép bộ như ngư lôi UMGT (ngư lôi tự dẫn bắn kích thước nhỏ), cũng như đầu đạn hạt nhân. Tổ hợp “Vodopad” dưới chỉ số RPK-6 gia nhập biên chế Hải quân năm 1981 (chúng chỉ được trang bị cho tàu ngầm nguyên tử, không dành cho các tàu nổi), còn “Veter” (RPK-7) – năm 1984.


Thêm một dạng vũ khí mới, được áp dụng trên Đề án 945 (và các tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 khác), là hệ thống điều khiển vô tuyến tự dẫn bắn trong hai mặt phẳng của ngư lôi kiểu TEST-71. Hệ thống được sử dụng để tiêu diệt các tàu ngầm và trang bị hệ thống tự dẫn bắn thủy âm thụ - chủ động, cùng với với hệ thống điều khiển vô tuyến theo các dây dẫn đảm bảo sự dẫn bắn tới mục tiêu trong 2 mặt phẳng. Sự xuất hiện hệ thống điều khiển vô tuyến cho phép thực hiện sự kiểm tra cơ động của ngư lôi và sự hoạt động của khí tài dẫn bắn. Đồng thời, điều khiển chúng trong quá trình bắn. Trắc thủ trên thành tàu ngầm, trong sự liên quan từ nhận định tình hình chiến thuật, có thể ngăn (cấm) sự tự dẫn bắn hoặc ngắm lại cho ngư lôi. Thiết bị động lực điện đảm bảo sự di chuyển của ngư lôi trong hai chế độ - sục sạo (tìm kiếm - ở tốc độ 24 hải lý) và chế độ tiếp cận (40 hải lý) với các chế độ chuyển mạch nhiều lần. Tầm hoạt động xa tối đa (trong sự liên quan tới tốc độ yêu cầu) nằm trong các giới hạn 15-20km. Độ sâu sục sạo và tiêu diệt mục tiêu là từ 2 đến 400 mét. Theo so sánh về sự “êm” mà ngư lôi TEST-71 tiếp nhận vượt trội đáng kế ngư lôi Mk.48 của Mỹ với động cơ pít tong, mặc dù Mk.48, trong sự đối chiếu tầm xa, có tốc độ cao hơn không nhiều (50 hải lý).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #193 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2012, 05:19:05 pm »

Tổ hợp đạo hàng mới “Simfonia” cho phép giảm lỗi giới hạn trong việc xác định vị trí của tàu ngầm 5 lần, đồng thời tăng cường đáng kể phạm vi (khoảng cách) giữa các lần nổi để xác định các tọa độ. Được lắp trên tàu ngầm Đề án 945, tổ hợp thông tin liên lạc “Molnia-MTs” gồm có hệ thống thông tin liên lạc vệ tinh và ăng ten lai “Paravan”. Trong đó, tầm xa thông tin liên lạc tăng gấp 2 lần, còn độ lặn sau của đài thu tín hiệu vô tuyến – gấp 3 lần.


Tàu được trang bị các ống nhòm tiềm vọng “Lebed-21” (chỉ huy) và “Kutum” (với tổ hợp vô tuyến MTK-110).

Để xử lý các câu hỏi về độ vững chắc và công nghệ ở xưởng “Krasnoe Sormovo” tại thành phố Gorki đã xây dưng khoang ngoài trờ từ hợp kim titan, đồng thời khoang bán ngoài trời từ hợp kim khác, bền vững hơn titan, được dung để sử dụng trên các tàu ngầm nguyên tử tương lai có độ lặn sâu siêu lớn. Các khoang được đưa tới Severodvinsk, ở đó, trên khu vực đóng tàu chuyên dụng đã trải qua các thí nghiệm tĩnh lực và độ ăn mòn.

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 945 được chế tạo theo sơ đồ hai thân. Thân ngoài bằng thép có các phần cuối mũi hình elip và mạn tàu hình thoi, vách ngăn dạng “xe con” của các khí tài di động và khoang chiến đấu, đòng thời cánh đuôi cai, trong đó bố trí mũ chụp đối với ăng ten lai của tổ hợp thủy âm. Sư đóng các lỗ ngoài thành tàu được thực hiện với sự hỗ trợ các van ống xả nước của tải trọng dằn chính. Thân trong, được chế tạo từ hợp kim titan, có hình dạng đơn giản – bộ phận giữa hình trụ và phần cuối hình nón. Các vách ngăn cuối – hình cầu. Thiết kế cố định thân tàu của các thùng vững loại trừ điện áp vòng, xuất hiện khi ép tàu ở độ lặn sau. Thân trong được chia thành 6 khoang không thấm nước. Có hệ thống bơm hơi 2 khẩn cấp 2 thùng tải trọng dằn chính với sự hộ trợ của máy phát điện khí (kết quả các sản phẩm đốt nhiên liệu rắn). Tàu ngầm nguyên tử được trang bị thùng nổi cứu nạn (bố trí trong vách ngăn các thiết bị di động), có khả năng chứa toàn bộ thủy thủ đoàn (31 sỹ quan và 28 chuẩn úy Hải quân). Đối với cá nhân mỗi thủy thủ đoàn đã có điều kiện sinh hoạt tốt.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #194 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2012, 05:38:02 pm »


Bản vẽ thiết kế tàu ngầm nguyên tử đa năng Đề án 945


Thiết bị năng lượng chính của tàu ngầm nguyên tử có công suất tiêu chuẩn 43 000 sức ngựa, bao gồm 1 lò phản ứng nước OK-650A (180mW) và 1 tổ hợp tuabin răng cưa chính. Lò phản ứng OK-650A có 4 máy phát điện hơi nước, 2 bơm tuần hoàn đối với đường bao số 1 và số 4; 3 bơm của đường bao thứ 3. Tàu được trang bị 2 máy phát điện tuabin xoay chiều, 2 bơm nhiên liệu và 2 bơm điện. Để phục vụ các khí tài dòng điện 1 chiều có 2 nhóm pin ắc quy và 2 bộ đổi tần số thuận nghịch.

Để giảm cấp độ trường vật lý đã tiếp nhận bộ giảm chấn 2 tầng đối với toàn bộ máy móc và khí tài. Toàn bộ trang bị, hoạt động trong chế độ tiếng ồn thấp, được lắp trong các khối giảm chấn nhiều tầng (lớp). Bánh lái chân vịt nhiều cánh có các tính năng thủy âm được tăng cường và giảm tần số quay.

Trong trường hợp thiết bị năng lượng chính bị hỏng, để dẫn động, dự kiến có nguồn năng lượng điện khẩn cấp và các khí tài chuyển động dự trữ. Có 2 động cơ diesel DG-300 với các bộ đổi tần số thuận nghịch (2x500kW) với lượng dự trữ nhiên liệu trong 10 ngày. Chúng được sử dụng để tạo ra dòng điện một chiều đối với các động cơ điện bánh lái và xoay chiều – đối với các thiết bị chung của tàu. Để đảm bảo di chuyển dưới nước với tốc độ 5 hải lý, tàu ngầm nguyên tử được trang bị 2 động cơ điện chân vịt có dòng điện một chiều công suất 300kW, bố trí trong nôi hình cầu trên cánh đuôi ngang ở mạn tàu, mỗi cánh đuôi đó làm việc bằng chân vịt riêng.

Tổ hợp vũ khí ngư lôi – tên lửa và hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Omnibus” đảm bảo sự bắn đơn và bắn loạt không hạn chế độ lặn sâu (cho đến độ sâu giới hạn). Tàu có sự bố trí các thiết bị ngư lôi hai hàng theo truyền thống – 4 thiết bị 533mm và 2 thiết bị 650mm. Trong khoang mũi bố trí 2 bệ để bảo trì cơ số đạn và các khí tài cung cấp đạn theo chiều dọc và ngang cùng khí tài nạp đạn nhanh (UBZ). Trong cơ số đạn gồm có 40 đơn vị vũ khí – ngư lôi – tên lửa (PLUR) và ngư lôi, thay thế cho bộ phận ngư lôi và ngư lôi – tên lửa có thể mang theo mìn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #195 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2012, 06:08:04 pm »

Các biến thể

Tàu ngầm thứ hai thuộc Đề án 945 khác biệt so với tàu đầu tiên ở sự xuất hiện ăng ten lai “Paravan”, khoang được bố trí trên thượng tầng ngay sau vách ngăn các khí tài di động.

Năm 1990, trong biên chế Hải quân Liên Xô đã gia nhập tàu ngầm nguyên tử Đề án 945-A (mã số “Kondor”), được chế tạo trên cơ sở Đề án 945 cùng ở phòng thiết kế “Lazurit”. Do giá thành cao, đề án này không được triển khai đóng đồng thời với số lượng lớn, chỉ hạn chế ở 2 tàu ngầm.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên của Đề án 945 (K-239) được khởi công ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki 8 tháng 5 năm 1982, hạ thủy 29 thnags 7 năm 1983 và gia nhập biên chế 21 tháng 9 năm 1984. Tàu đồng lớp thứ 2 (K-276) được khởi công 21 tháng 8 năm 1984 ở cùng xưởng, hạ thủy 26 tháng 7 năm 1986 và gia nhập biên chế Hải quân 27 tháng 10 năm 1987. Cả hai tàu được đóng ở “Krasnoe Sormovo”, còn sau khi hạ thủy theo hệ thống nước nội bộ đã tới Severodvinsk, nơi chúng được đóng tiếp và gia nhập biên chế. Ở phương Tây, các tàu ngầm nguyên tử mới của Liên Xô nhận tên gọi lớp Sierral-I.

Tình hình đến năm 2008

Cả 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 945 đều gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc (sư đoàn tàu ngầm số 6, phân hạm đội tàu ngầm số 1 đóng căn cứ ở Zapadnaia Litsa, nơi chúng đã phục vụ một cách thành công.

Ngày 11 tháng 2 năm 1992, gần quần đảo Kildin, với tàu ngầm nguyên tử K-276 đã xảy ra sự cố: trong khu vực biển thuộc Nga, tàu ngầm Nga đã va chạm với tàu ngầm Mỹ SSN-689 “Baton Ruzh” (lớp Los Angeles) ở khu vực dưới mặt nước, đang cố gắng thực hiện việc theo dõi bí mật các tàu ngầm Nga ở khu vực huấn luyện. Kết quả của sự va chạm là tàu ngầm Nga bị vết thương ở vách ngăn mui, còn thương tích tàu ngầm mỹ trở nên rất nặng nề, nó “bò” về căn cứ, sau đó, Tư lệnh Hải quân Mỹ đã tiếp nhận quyết định không sửa chữa tàu, và loại nó khỏi biên chế và tháo dỡ. Sau khi khôi phục sửa chữa, tàu ngầm nguyên tử K-276 quay lại biên chế tháng 7 năm 1996.

Tháng 6 năm 1992, 2 tàu ngầm nguyên tử Đề án 945 được chuyển thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn với sự thay đổi chữ đầu tiên trong số hiệu chiến thuật từ “K” thành “B”. Hiện nay, trong biên chế phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 1 thuộc Hạm đội Phương Bắc của Hải quân Nga (căn cứ mới ở vịnh Ara), tàu ngầm nguyên tử “Kostroma” (trước đó là B-276) vẫn tiếp tục phục vụ, còn tàu đầu tiên B-239 “Karp” năm 1998 đã bị loại khỏi biên chế chiến đấu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #196 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2012, 01:02:01 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


+ K-239, từ 3 tháng 7 năm 1992 là B-239, từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Karp” (số hiệu xưởng 301); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 16 tháng 3 năm 1979 như là phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; khởi công ở xưởng “Krasnoe Sormovo” tại Gorki (số 112) 8 tháng 5 năm 1982; hạ thủy 29 tháng 7 năm 1983; tháng 8-9 năm 1983 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp và các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biến chế 21 tháng 9 năm 1984; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 7 tháng 12 năm 1984; năm 1985, sau các hoạt động huấn luyện lớn, trên tàu ngầm nguyên tử đã trải qua các thí nghiệm hoạt động ở vịnh Andereev; trong năm đó đã tiến hành các thí nghiệm lặn sâu ở biển Na Uy; trong giai đoạn từ năm 1986 đến 1990, đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thủy thủ đoàn đã nhận và hoàn thành các nhiệm vụ trực chiến luân phiên, thực hiện những lần ra khơi tới trường bắn; năm 1990 đã thực hiện các nhiệm vụ trực chiến “xuất sắc”; trong năm, tàu đã trở thành tàu xuất sắc nhất trong Hạm đội, thủy thủ đoạn được tặng giải thưởng từ Hội đồng Quân sự Hạm đội Phương Bắc “Vì sự giám sát xuất sắc các tàu ngầm”, được tặng Cờ đỏ luân lưu từ Hội đồng Quân sự Hạm đội Phương Bắc; giai đoạn từ năm 1990 đến 1992 đã thực hiện nhiệm vụ trực chiến, thủy thủ đoàn đã nhận và hoàn thành các nhiệm vụ trực chiến luân phiên, thực hiện việc ra khơi thường xuyên tới trường bắn; 3 tháng 7 năm 1992, phân loại lại thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; tháng 11-12 năm 1994 đã tới xưởng “Zvedochka” (thành phố Severodvinsk) để tiến hành sửa chữa;  30 tháng 5 năm 1998 do không có kinh phí sửa chữa đã bị loại khỏi biên chế của Hải quân, bàn giao cho cơ sở khác để bảo trì dài hạn và neo đậu ở Severodvinsk.

+ K-276, từ 3 tháng 6 năm 1992 là B-276, từ 6 tháng 4 năm 1993 là “Krab”, từ 15 tháng 11 năm 1996 là “Kostroma” (số hiệu xưởng 302 – vẫn đang phục vụ trong Hải quân Nga); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 2 năm 1992 như là phân lớp tàu ngầm nguyên tử tuần dương; khởi công ở xuouwngr “Krasnoe Sormovo” tại Gorki (số 112) 21 tháng 8 năm 1984; hạ thủy 26 tháng 7 năm 1986; tháng 8 năm 1986 được đưa theo hệ thống nước nội bộ tới Severodvinsk để đóng tiếp và các thí nghiệm bàn giao; gia nhập biên chế 27 tháng 10 năm 1987; 30 tháng 12 năm 1987 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9-10 năm 1988; tháng 8-11 năm 1988; tháng 6-9 năm 1990 và tháng 5-7 năm 1991 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; 11 tháng 2 năm 1992 khi đang xử lý nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Barents ở vùng nước sâu Kildin đã va chạm ở vị trí nổi với tàu ngầm nguyên tử Mỹ SSN-689 “Baton Rouge” và bị thương ở vách ngăn mui cùng mũ chụp đài thủy âm, nhưng được kéo về căn cứ; trong giai đoạn từ 28 tháng 3 năm 1992 đến 29 tháng 6 năm 1992 đã trải qua sửa chữa khôi phục khẩn cấp ở xưởng “Nerpa” ở vịnh Olenia; sau khi sửa chữa năm 1992 đã thực hiện nhiệm vụ trực chiến; 3 tháng 7 năm 1992 đã phân loại lại thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; tháng 4-6 năm 1994 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; cuối năm 2000 đã tới xưởng “Nerpa” để tiến hành trung tu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #197 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2012, 01:13:17 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ nổi: 5850

+ ngầm: 8200

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 107 (-)

+ chiều rộng nhất: 12,3

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,7

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 1 lò phản ứng nước kiểu OK-650A, công suất, mW: 180

+ 1 thiết bị sản xuất hơi nước OK-300 (1 lò phản ứng nước và 4 động cơ PG); 1 thiết bị tuabin răng cưa chính

+ 1 tuabin hơi nước, công suất, sức ngựa (kW): 43 000 (31 600)

+ 2 máy phát điện tuabin, công suất, kW: 2x3200

+ 2 máy phát điện – diesel DG-300, công suất, kW: 2x500

+ 2 động cơ điện hỗ trợ, công suất, kW: 2x370

1 trục; 1 chân vịt nhiều cánh; 2 động cơ bánh lái bổ sung

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 12,2

+ ngầm: 35

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 480

+ giới hạn: 600

Thời gian hoạt động: -

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 59 (31).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #198 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2012, 01:25:13 pm »


Vũ khí

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần 9K310 “Igla-1”/9K38 “Igla” (SA-14
Gremlin”/SA-16 ”Gimlet”): 1 (8 )

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 650mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 650mm 65-75: 12

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi TEST-71, USET-80: 28

+ ngư lôi – tên lửa 83-R “Vodopad”/86-R “Veter”; các tên lửa “Shkval”: thay thế cho bộ phận ngư lôi

Mìn

+ có thể mang mìn thay cho bộ phận ngư lôi: -

Trang bị vô tuyến điện

+ hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Omnibus”

+ đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRKP-58 “Radian” (Snoop Pair)

+ đài thủy âm: tổ hợp thủy âm MGK-500 “Skat-KS” (Shark Gill); đài thủy âm lớn

+ các khí tài tác chiến điện tử: PMU “Zona”, “Anis”; “Zavesa” – đài tìm phương vô tuyến; GPD

+ tổ hợp đạo hàng: “Simfonia”; “Sintez” – đạo hàng vũ trụ

+ tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến: “Molnia-MTs” (Kremmy-2); “Tsumani-BM” – thông tin liên lạc vũ trụ; “Paravan” – ăng ten lai (trên thành tàu ngầm nguyên tử); PMU “Kora”

+ đài ra đa định vị hội thoại nói: -.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2012, 01:54:26 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #199 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2012, 01:54:06 pm »

Tàu ngầm nguyên tử Đề án 685 “Plavnik” – Lớp Mike


Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có.

Tháng 8 năm 1966, Bộ Tư lệnh Hải quân đã đưa ra nhiệm vụ kỹ - chiến thuật để thiết kế tàu ngầm nguyên tử có độ lặn sâu cao thí nghiệm (Đề án 685) với độ lặn sâu giới hạn, gấp 2,5 lần chí số tương ứng của các tàu ngầm nguyên tử ngư lôi khác. Các công việc, nhận số hiệu “Plavnik”, đã tiến hành ở Phòng thiết kế Trung ương số 18 (Phòng thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin”) dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư N.A.Klimov (năm 1977, Yu.N.Kormilitsưn), giám sát viên chính từ Hải quân là Thuyền trưởng cấp 2 A.Ya.Tomchin, sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 N.V.Shalonov.

Tàu ngầm nguyên tử độ lặn sâu cao được chế tạo như một tàu chiến đấu mạnh, có khả năng giải quyết nhiệm vụ luân phiên rộng rãi, trong đó bao gồm cả sục sạo, phát hiện, giám sát lâu dài và tiêu diệt các tàu ngầm nguyên tử, đồng thời các nhóm tàu sân bay, tàu nổi lớn và tàu vận tải của địch. Quá trình thiết kế tàu ngầm mất thời gian hơn 8 năm. Đề án kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử được phê duyệt tháng 12 năm 1974. Trong vai trì vật liệu chính trên Đề án 685 đã quyết định sử dụng hợp kim titan.

Để xác định khả năng hoạt động của hợp kim titan, trong các điều kiện thiết kế thân tàu chịu áp lực cao ở độ sâu lớn đã quyết định thực hiện tổ hợp nghiên cứu và thí nghiệm rộng rãi. Trong các khoang mô phạm, nửa ngoài trờ và ngoài trời của tàu ngầm đã tiến hành các phương pháp thiết kế, công nghệ chế tạo các chi tiết thiết kế khác nhau của thân tàu, sự kiểm tra thí nghiệm độ bền vững thiết kế về tĩnh lực, chu kỳ và động lực đã được thực hiện.

Trong các khuôn khổ của chương trình chế tạo tàu ngầm nguyên tử Đề án 685 ở Severodvinsk đã xây dựng 3 sàn đóng tàu chuyên dụng, tuy nhiên trong đó có đường kính 5 mét và dài 20 mét, mặt khác, tương ứng 12 và 17 mét và sàn thứ 3 – 15 và 55 mét. Trong thùng đầu tiên chịu áp lực 400kg lực/cm2 khi tải trọng một lượt là 200kg lực/cm2 – khi tải trọng tuần hoàn. Thùng thứ 2 có áp suất làm việc 200kg lực/cm2 và thùng thứ 3 – 160kg lực/cm2. Thí nghiệm, nhận được trong quá trình thực hiện Đề án 685 đã dự kiến sử dụng rộng rãi khi thiết kế và đóng tàu ngầm nguyên tử thế hệ mới.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM