Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:52:57 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329741 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #300 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 01:18:44 pm »

Tình hình đến năm 2008


Sau khi đóng 6 tàu ngầm Đề án 633 đã gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc, 13 – Hạm đội biển Đen và 1 – Baltic. Sự thật, lần lượt 12 tàu thuộc Biển Đen đã được chuyển qua Hạm đội Phương Bắc, còn sau đó, một bộ phận trong số chúng – tới Baltic.

Ngày 11 tháng 2 năm 1962 ở vùng Cực, tàu ngầm S-350 (tàu đầu tiên trong lớp) trong thời gian nổ cơ số đạn (12 ngư lôi) ở tàu ngầm bên cạnh Đề án 641 đã bị các vết biến dạng lớn và vỡ khoang số 1 và 2. Sau đó bị đắm gần bến tàu. Sau đó, tàu được trục vớt và sau thời gian sửa chữa vào tháng 5 năm 1966 đã trở lại biên chế lần nữa. Năm 1982, tàu ngầm này được giải tán và trang bị lại thành đài huấn luyện – học tập trên bờ UTS-350.

Giữa năm 2007, trong danh sách Hải quân Nga tàu ngầm Đề án 633-RV – PZS-50 (trước đó là S-49) trong biên chế Hạm đội Biển Đen đã chính thức bị loại khỏi biên chế. Thêm một tàu thuộc Đề án 633 – “Slava” (trước đó là S-101) – trong trong biên chế Hải quân Bungari.

Cũng như trước đó đã nhắc, Liên Xô đã bán cho Trung Quốc giấy phép để sản xuất tàu ngầm diezel Đề án 633. Năm 1963, để thực hiện hỗ trợ kỹ thuật, các chuyên gia của Viện nghiên cứu Trung ương số 12 đã đến Trung Quốc và giúp đỡ sản xuất các tàu ngầm này. Sau đó, Trung Quốc đã đóng hơn 80 tàu ngầm Đề án 633 và Đề án 033 (phiên bản thay đổi không nhiều) và thêm gần 20 tàu được đóng ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Một tàu ngầm được Trung Quốc trang bị lại thành phương tiện mang 6 tên lửa có cánh chống tàu khởi động nổi (Đề án 033-G).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #301 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 01:34:47 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ S-4 (số hiệu xưởng 355); khởi công 14 tháng 6 năm 1960 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 10 tháng 9 năm 1960; hạ thủy 17 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 18 tháng 9 năm 1961; 13 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 19 tháng 11 năm 1969 đến 19 tháng 2 năm 1972 ở Kronshtadt và từ 14 tháng 10 năm 1983 đến 10 tháng 11 năm 1984 ở xưởng “Tosmare” tại Liepai đã trải qua sửa chữa; 15 tháng 9 năm 1982 đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 5 tháng 2 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Siry; 1 tháng 12 năm 1987 bị giải tán.

+ S-7 (số hiệu xưởng 361); khởi công 25 tháng 11 năm 1960 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 9 năm 1960; hạ thủy 28 tháng 2 năm 1961; gia nhập biên chế 17 tháng 9 năm 1961; 13 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; giai đoạn từ 24 tháng 8 năm 1968 đến 10 tháng 10 năm 1970 ở Kronshtadt đã qua sửa chữa; 19 tháng 1 năm 1983 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Algeri (nhận số hiệu 011); 1 tháng 10 năm 1983 giải thể.

+ S-11; từ năm 1982 là SS-11 (số hiệu xưởng 362); khởi công 25 tháng 11 năm 1960 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 28 tháng 11 năm 1960; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1961; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1961; 7 tháng 2 năm 1963 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 17 tháng 9 năm 1963 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 2 năm 1972 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 17 tháng 7 năm 1972 quay trở lại Hạm đội Phương Bắc, 20 tháng 8 năm 1976 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 10 tháng 10 năm 1970 đến 19 tháng 2 năm 1972 trải qua sửa chữa ở Kronshtadt; từ 30 tháng 5 năm 1978 đến 18 tháng 1 năm 1982 trải qua nâng cấp ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol theo Đề án 633-RV; 27 tháng 10 năm 1990 được mang đi sửa chữa, nhưng 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị xẻ kim loại.

+ S-28 (số hiệu xưởng 363); khởi công 29 tháng 12 năm 1960 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 23 tháng 1 năm 1961; hạ thủy 21 tháng 6 năm 1961; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1961; 19 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 6 tháng 10 năm 1972 đến 19 tháng 12 năm 1974 ở Kronshtadt và từ 25 tháng 9 năm 1979 đến 1 tháng 10 năm 1981 ở xưởng “Tosmare” đã trải qua sửa chữa; 1 tháng 10 năm 1981 chuyển sang biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 29 tháng 4 năm 1982 bị loại khỏi biên chế và bán cho Algeri (số hiệu 010); 30 tháng 6 năm 1982 bị giải tán.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #302 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 02:10:07 pm »

+ S-32 (số hiệu xưởng 341); khởi công 28 tháng 8 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormov” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 22 tháng 11 năm 1958; hạ thủy 30 tháng 8 năm 1959; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 6 tháng 1 năm 1960; 29 tháng 10 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 5 tháng 10 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (nhận số hiệu 834); 15 tháng 12 năm 1966 bị giải tán.

+ S-34 (số hiệu xưởng 342); khởi công 18 tháng 10 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 11 năm 1958; hạ thủy 14 tháng 6 năm 1959; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 6 tháng 1 năm 1960; 29 tháng 10 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 5 tháng 10 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (số hiệu 837); 15 tháng 12 năm 1966 bị giải thể.

+ S-36 (số hiệu xưởng 343); khởi công 29 tháng 11 năm 1958 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 12 tháng 2 năm 1959; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1959; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 17 tháng 12 năm 1960; 21 tháng 9 năm 1981 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1973 bị loại khỏi biên chế, niêm cất và neo đậu ở vùng Cực; 25 tháng 9 năm 1981 quay trở lại biên chế Hạm đội Biển Đen; tháng 9 năm 1981 bảo quản ở Balaklav; 1 tháng 8 năm 1982 tháo niêm cất và gia nhập biên chế; 1 tháng 10 năm 1986 bị loại khỏi biên chế và bán cho Bungari (nhận tên gọi “Nadezhda” – “Hy vọng” và số hiệu 83); trong những năm 1990 bị quân đội Bungari ra lệnh tháo dỡ.

+ S-37 (số hiệu xưởng 344); khởi công 25 tháng 1 năm 1959 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 12 tháng 2 năm 1959; hạ thủy 10 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế 31 tháng 3 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 19 tháng 4 năm 1960; trong giai đoạn từ 23 tháng 11 năm 1960 đến 31 tháng 10 năm 1963 nâng cấp ở “Krasnoe Sormovo” theo Đề án 633-L; 29 tháng 7 năm 1965 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 14 tháng 10 năm 1982 một lần nữa quay lại biên chế Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 9 tháng 3 năm 1978 đến 31 tháng 1 năm 1979 trải qua sửa chữa ở “Tosmare”; 3 tháng 7 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 năm 1992 bị giải tán và năm 1993 bị tháo dỡ thành kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #303 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 02:36:07 pm »

+ S-49 (còn trong biên chế); từ 26 tháng 7 năm 1991 là SS-49; từ năm 1995 là PZS-50 (số hiệu xưởng 364); khởi công 29 tháng 3 năm 1961 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 14 tháng 3 năm 1961; hạ thủy 27 tháng 7 năm 1961; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1961; 16 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 22 tháng 8 năm 1962 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 15 tháng 8 năm 1969 quay lại Hạm đội Biển Đen; trong giai đoạn từ 2 tháng 12 năm 1971 đến 6 tháng 10 năm 1972 đã trải qua sửa chữa ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; từ 14 tháng 3 năm 1986 đến 6 tháng 11 năm 1991 cũng được nâng cấp ở đó theo Đề án 633-RV và 24 tháng 6 năm 1991 trở thành tàu ngầm thí nghiệm; năm 1995 tái trang bị thành PZS; 10 tháng 7 năm 1995 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 10 năm 1995 bị giải tán và sau đó ở Sevastopol bị xẻ kim loại.

+ S-53 (số hiệu xưởng 351); khởi công 27 tháng 9 năm 1959 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 21 tháng 5 năm 1959; hạ thủy 2 tháng 3 năm 1960; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 14 tháng 3 năm 1961; 21 tháng 9 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 27 tháng 10 năm 1980 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 18 tháng 9 năm 1985 chuyển sang Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 24 tháng 10 năm 1972 đến 1 tháng 8 năm 1972 sửa chữa ở Kronshtadt; 1 tháng 10 năm 1973 bị loại bien chế Hải quân và neo đậu ở vùng Cực; 27 tháng 10 năm 1980 quay trở lại biên chế; trong giai đoạn từ 1 tháng 11 năm 1981 đến 1 tháng 8 năm 1972 ở trong tình trạng niêm cất; 17 tháng 12 năm 1985 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Siry; 1 tháng 10 năm 1986 bị giải thể.

+ S-57 (số hiệu xưởng 365); khởi công 23 tháng 5 năm 1961 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 7 tháng 4 năm 1961; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1961; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1961; 9 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 6 tháng 7 năm 1962 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 14 tháng 7 năm 1970 quay lại Hạm đội Biển Đen; 5 tháng 2 năm 1973 bị loại khỏi biên chế và bán cho Bungari ở đó nhận tên gọi “Thanh niên Cộng sản Lenin” (số hiệu 81); 15 tháng 2 năm 1973 bị giải tansl trong những năm 1980 đổi tên thành “Chiến thắng”; trong những năm 1990 bị quân đội Bungari xẻ lấy kim loại.

+ S-101 (số hiệu xưởng 352); khởi công 1 tháng 10 năm 1959 ở “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 19 tháng 10 năm 1950; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1960; 21 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1960 vào Hạm đội Biển Đen; 7 tháng 6 năm 1961 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 9 tháng 12 năm 1982 chuyển sang Hạm đội Baltic; trong giai đoạn từ 25 tháng 5 đến 10 tháng 11 năm 1984 ở xưởng “Tosmare” đã trải qua sửa chữa; 14 tháng 2 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Bungari (nhận tên gọi “Vinh quang” và số hiệu 84); 1 tháng 10 năm 1986 bị giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #304 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 05:26:52 pm »


+ S-128, từ 26 tháng 7 năm 1991 là SS-128 (số hiệu xưởng 354); khởi công 11 tháng 3 năm 1960 tại xưởng “Krasnoe Sormovo” ở Gorki; hạ thủy 20 tháng 7 năm 1960; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 18 tháng 1 năm 1961; 5 tháng 8 năm 1961 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 31 tháng 8 năm 1977 quay lại Hạm đội Biển Đen; giai đoạn từ 9 tháng 8 năm 1969 đến 1 tháng 10 năm 1971 ở Kronshtadt và từ 23 tháng 12 năm 1975 đến 7 tháng 3 năm 1977 ở xưởng tại Yangel đã trải qua sửa chữa; trong giai đoạn từ 4 tháng 9 năm 1990 đến 21 tháng 3 năm 1991 được nâng cấp theo Đề án 633-KS ở “Sevmorzavod” và 24 tháng 6 năm 1991 trở thành tàu ngầm thí nghiệm; 24 tháng 8 năm 1993 bị loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1994 bị xẻ kim loại.

+ S-212 (số hiệu xưởng 353); khởi công 29 tháng 11 năm 1959 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 11 năm 1959; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1960; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 30 tháng 12 năm 1960; 5 tháng 8 năm 1961 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 14 tháng 7 năm 1970 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; 5 tháng 2 năm 1973 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Bungari, ở đó nhận tên gọi “Đoàn viên Cộng sản Dimitrov” (số hiệu 82); 15 tháng 2 năm 1973 bị giải tán; trong những năm 1980 đổi tên thành “Victoria”; trong những năm 1990 bị quân đội Bungari mang đi tháo dỡ kim loại.

+ S-350; từ 3 tháng 8 năm 1977 là SS-350; từ năm 1982 là UTS-350 (số hiệu xưởng 331); khởi công 22 tháng 10 năm 1957 (số 112) tại xưởng “Krasnoe Sormovo” tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 3 năm 1958; hạ thủy 30 tháng 5 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 8 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 20 tháng 11 năm 1958; 19 tháng 10 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; là tàu đầu tiên trong lớp; 11 tháng 2 năm 1962 ở vùng Cực, do vụ nổ đạn của tàu ngầm Đề an 641 bị thương khoang số 1, 2 và bị đắm; sau khi được trục vớt đã được sửa chữa phục hồi ở Murmansk từ 17 tháng 10 năm 1964 đến 25 tháng 7 năm 1966; sau đó quay trở lại biên chế vào Hạm đội Biển Đen; 18 tháng 9 năm 1977 trở thành tàu ngầm thí nghiệm; 9 tháng 7 năm 1982 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 1 tháng  10 năm 1982 bị giải thể và trang bị lại thành đài huấn luyện – học tập trên bờ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #305 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 05:42:50 pm »


+ S-351 (số hiệu xưởng 332); khởi công 30 tháng 1 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại thành phố Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 3 năm 1958; hạ thủy 18 tháng 8 năm 1958; gia nhập biên chế 6 tháng 11 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 12 năm 1959; 29 tháng 10 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 3 tháng 8 năm 1966 chuyển sang Hạm đội Baltic; 17 tháng 10 năm 1967 bị loại khỏi biên chế và bán cho Ai Cập (số hiệu 846); 31 tháng 12 năm 1967, bị giải tán.

+ S-352 (số hiệu xưởng 333); khởi công 30 tháng 3 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 4 năm 1958; hạ thủy 25 tháng 9 năm 1958; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 12 năm 1959; 27 tháng 7 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 3 tháng 8 năm 1966 chuyển sang Hạm đội Baltic; 26 tháng 1 năm 1967 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (số hiệu 843); 14 tháng 8 năm 1967 bị giải thể.

+ S-353 (số hiệu xưởng 334); khởi công 14 tháng 5 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) tại Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 4 năm 1958; hạ thủy 30 tháng 11 năm 1958; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 6 tháng 1 năm 1960; 16 tháng 7 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 19 tháng 7 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (số hiệu xưởng 831); 1 tháng 10 năm 1967 bị giải tán.

+ S-354 (số hiệu xưởng 335); khởi công 14 tháng 7 năm 1958 ở xưởng “Krasnoe Sormovo” (số 112) ở Gorki; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 22 tháng 12 năm 1958; hạ thủy 10 tháng 1 năm 1959; gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1959; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 31 tháng 12 năm 1959; 18 tháng 7 năm 1960 chuyển sang Hạm đội Phương Bắc; 17 tháng 1 năm 1966 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bán cho Ai Cập (nhận số hiệu 840); 31 tháng 12 năm 1966 bị giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #306 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 01:29:17 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, mét

+ nổi: 1328

+ ngầm: 1712

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 76,68 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 6,72 (-)

+ lượng choán nước theo vạch mớn thiết kế: 5,07

Thiết bị năng lượng chính: điện – diezel

+ 2 động cơ diezel 37D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 4000 (2940)

+ 2 máy phát điện động cơ diezel PG-101, tổng công suất, sức ngựa (kW): 2700 (1985)

+ 2 máy phát điện động cơ diezel dự bị PG-103. tổng công suất, sức ngựa (kW): 100 (74)

+ pin ắc quay 46SU, số nhóm (cụm) x số lượng phần tử: 2x112

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 15,31

+ nổi trên động cơ dự bị: 9,2

+ dưới hệ thống đảm bảo hoạt động của động cơ diezel: 10

+ ngầm hoàn toàn: 13,18

+ ngầm với động cơ dự bị: 2,14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ ở vị trí nổi (tăng cường trữ lượng nhiên liệu): 14 590 (9); 8580 (10)

+ ở vị trí nổi (trữ lượng nhiên liệu tiêu chuẩn): 7400 (9); 2400 (15)

+ dưới thiết bị đảm bảo hoạt động của động cơ diezel: 4400 (8 )

+ ở vị trí ngầm: 195 (13); 300 (2, 14)

Độ lặn sâu, mét

+ hoạt động hiệu quả: 270

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 60 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 52 (9).
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Hai, 2012, 01:37:37 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #307 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 01:37:14 pm »


Vũ khí

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi mũi 533mm: 6

+ cơ số đạn các ngư lôi 53-57, 53-61, ET-56, ET-46: 12

+ thiết bị ngư lôi 533mm mạn tàu: 2

+ cơ số đạn ngư lôi 53-57, 53-61, ET-56, ET-46: 2

Mìn: có thể mang mìn thay ngư lôi: 28

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ “Arktika-M” hoặc “Plutonty”

+ “Svet-M”

+ MG-15

+ NEL-5

Khí tài chống tác chiến điện tử

+ “VAN-S” (Stop Light)

+ “Nakat” (Park Lamp D/F)

+ ARP-53

Tổ hợp đạo hàng

+ “Kurs-5” – la bàn con quay

+ LR-2 – hành trình kế

+ EL-1 – máy đo tiếng ồn

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ R-641-D, R-647, R-670

+ R-672

+ R-673

+ R-609

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Khrom-K".
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #308 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 02:42:33 pm »

Đề án 877 (636) “Platus” – tàu ngầm điện – diezel


Các biến thể

+ Đề án 877E – phiên bản xuất khẩu dành cho các nước trong khối Varsava.

+ Đề án 877EKM – phiên bản nâng cấp thương mại xuất khẩu. Tương thích với các điều kiện khai thác sử dụng ở khu vực nhiệt đới.

+ Đề án 877LPBM – biến thể với chân vịt 7 cánh từ hợp kim “Avrora” với các bánh lái dạnh lưỡi liềm. Có áp dụng những sự thay đổi trong thiết bị năng lượng và khí tài dẫn đường.

+ Đề án 877V – biến thể với động cơ phụt nước thí nghiệm thay cho chân vịt.

+ Đề án 636 – phiên bản xuất khẩu trên cơ sở Đề án 877EKM cho Hải quân Trung Quốc.

+ Đề án 636M – biến thể của Đề án 636 với tổ hợp “Club-S”.

+ Đề án 08733 – phiên bản xuất khẩu trên cơ sở Đề án 877EKM cho Hải quân Ấn Độ với tổ hợp “Club-S”.

Các tàu ngầm Đề án 877 – các tàu ngầm hai thân một trục hoạt động trên đại dương với thiết bị năng lượng chính điện – diezel, được thiết kế theo sơ đồ động cơ điện hoàn toàn.

Thân trong được chế tạo theo dạng hình trụ với mặt cắt ngang hình tròn, thiết kế phần cuối thân hình cầu. Theo các vách ngăn không thấm nước, thân trong được chia thành 6 khoang. Vật liệu chế tạo thân trong – thép AK-25.

Thân ngoài có hình dạng thuôn con thoi. Lớp che phủ đặc biệt hấp thụ sự bức xạ từ các hệ thống thủy âm của tàu địch. Trong không gian giữa thành tàu bố trí các thùng tải trọng dằn chính, đồng thời các thùng và trang bị khác. Mặc dù, do thiết kế hai thân, tàu có thể tích ngầm hoàn toàn tương đối lớn, trong các tình trạng khẩn cấp, việc này cho phép tăng cường khả năng sống còn của tàu do sự tính toán đảm bảo tính không chìm của tàu trong khi thể tích tàu bị ngập nước đáng kể. Trong tư thế tuần dương, tàu có thể bơi một cách an toàn thậm chí khi đắm một trong số các khoang bất kỳ với 2 thùng tải trọng dằn chính của một thành bên cạnh.

Vách ngăn hầm các khí tài di động được bố trí khoảng giữa tàu. Trong đó trang bị đồng thời đài chỉ huy truyền động. Toàn bộ các khí tài di động, ngoài trừ ống nhòm ngầm chỉ huy, được chế tạo thành bộ phận không thấm nước trong thân trong. Nhờ đó, đã thành công trong việc làm cho trạm chỉ huy trở nên đơn gian và thuận lợi hơn cho việc điều khiển tàu và các hệ thống chiến đấu.

Các bánh lái ngang ở mũi được chế tạo trong dạng kín. Để giảm sự gây nhiễu bở chúng cho hoạt động của tổ hợp thủy âm, chúng đã được chuyển từ phần cuối mũi tàu đến gần phần giữa thân tàu. Cùng với mục tiêu này, từ phần cuối mũi tàu đã tháo lỗ thoát nước, toàn bộ những khí tài có thể phát ra tiếng ồn đã bị tháo khỏi khoang thứ nhất.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #309 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 03:32:33 pm »

Vũ khí


Vũ khí của tàu ngầm gồm có các thiết bị ngư lôi 533mm bố trí ở phần cuối mũi tàu. Trong số đó 2 thiết bị được tính toán để bắn các ngư lôi điều khiển vô tuyến.

Để vận chuyển đạn lên tàu đã lắp khí tài chuyên dụng. Tàu có thể tiếp nhận 18 ngư lôi 53-65K, 53-56B, SET-53M, TEST-71M, USET-80K, SET-65E (6 – trong thiết ngị ngư lôi; 12 – trên bệ). Thay cho các ngư lôi có thể tiếp nhận 24 mìn đáy DM-1: 12 – trong các thiết bị ngư lôi (theo 2 trên thiết bị) và 12 – trên bệ.

Trên tàu ngầm lắp khí tài tự động nạp đạn nhanh – giảm thời gian nạp đạn nhanh một cách tương đối, cho phép tăng cường đáng kể tốc độ bắn và đảm bảo ưu thế trong trường hợp “đấu súng”. Sự điều khiển khí tài nạp đạn nhanh được thực hiện từ xa, từ khoang ngư lôi với bản điều kiển “Murena” hoặc từ các trạm điều khiển tại chỗ.

Đối với khả năng phòng không của tàu ngầm Đề án 877 trang bị tổ hợp tên lửa phòng không cơ động, chế tạo trên cơ sở tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “Sterla-3”. Cơ số đạn – 8 tên lửa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM