Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:23:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330152 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #340 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 12:36:00 pm »

Tàu tuần dương chống ngầm lớp “Moskva” – Đề án 1123 “Condor”


Tổng số tàu đã đóng: 2+1.

Các biến thể

+ 1123 (lớp Moskva) – đề án cơ sở (1967)

+ 11233 (1123-M) – tàu thứ ba trong lớp với sự tăng cường đội máy bay (không được đóng hoàn toàn).

Với sự xuất hiện trong Hải quân NATO các tàu ngầm nguyên tử, trang bị tên lửa đạn đạo, được xem là sự đe dọa nghiêm trọng đối với Liên Xô, Hải quân Liên Xô đã xác định phương hướng thiên về hướng chống ngầm. Vào đầu những năm 1960, trong các chương trình chế tạo hải quân đại dương đã bắt đầu thiết kế các tàu chống ngầm lớn ở khu vực (tầm) xa với việc đóng trên tàu cụm các máy bay chống ngầm – trong giai đoạn này được đặt lên những hy vọng lớn. Trực thăng có thể hạ cánh một cách nhanh chóng trên boong tàu và đặt lên nó một trong số các nhiệm vụ chính – tìm kiếm (sục sạo) và tiêu diệt các tàu ngầm. Trong sự tương ứng với thắng lợi trong việc ưu tiên đóng tàu nổi chống ngầm vào đầu những năm 1960, công việc thiết kế đã bắt đầu, còn sau đó việc đóng các tàu đâu tiên với cụm căn cứ (bãi đáp) trực thăng – tàu chống ngầm tầm xa. Tuy nhiên, các nghiên cứu và thiết kế tàu tuần dương chở trực thăng đã được bắt đầu vào năm 1958 ở Phòng thiết kế Trung ương số 7, các viện thuộc Ủy ban nhà nước, Hải quân và Không quân.

Việc thiết kế các tàu Đề án 1123 (số hiệu “Condor”) đã bắt đầu ở Phòng thiết kế tại Nevski dưới sự chỉ đạo của A.S.Savichev (còn tổng số trong cuộc thi đua chế tàu tàu này đã có 24 thiết kế khác nhau). Từ phía Hải quân giám sát thiết kế ban đầu là Thuyền trưởng cấp 2 V.F.Fedin, còn sau đó là Thuyền trưởng cấp 2 I.O.Platonov. Quyết định bố cục hóa tàu bằng cách để tàu có thể mang vũ khí pháo và tên lửa, đồng thời boong rộng rãi cất – hạ cánh để đóng căn cứ cho trực thăng. Việc này về nguyên tắc là mới cho Hải quân Liên Xô. Như vào những năm 1930 theo bố cục kiến trúc – mạn tàu cho máy bay trên tàu tuần dương – vận tải máy bay “Gotland” của Thụy Điển (1934), tàu chủ lực – sân bay của Nhật được trang bị lại “Ise” và “Hyuga” (1943), tàu tuần dương – chở trực thăng Pháp “Janna D’ark” (1963), tàu tuần dương Italia “Andera Dorea” và “Kaio Duypio” (1964) – các công trình sư Liên Xô ở Phòng thiết kế Nevski một lần nữa đã thiết kế hình dáng thân tàu (sống đôi), giải quyết các nhiệm vụ khí động lực phức tạp, giải quyết hang ga dưới boong được kéo dài và khí tài kỹ thuật hàng không, bố cục khu vực cất – hạ cánh. Khu vực cất – hạ cánh được bắt đầu ngay sau ống khói và chiếm một nửa thân tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #341 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 12:36:47 pm »

Hình vẽ và bản vẽ thiết kế Đề án 1123:





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #342 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 01:06:22 pm »

Khởi điểm (xuất phát) từ các nhiệm vụ chống ngầm, trên tàu Đề án 1123 đã lắp tổ hợp vũ khí và trang bị chống ngầm hoàn toàn: tổ hợp vũ khí tên lửa chống ngầm “Vikhr” với thiết bị phóng nổi hai dầm ở mũi, 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm ở các cảng bốc dỡ lên thành tàu (sau đó chúng được tháo), 2 máy phóng bom phản lực RBU-6000 (ở mũi), tổ hợp thủy âm “Orion” với ăng ten trong mũ chụp dưới sống mũi và đài thủy âm lai “Vega”. Để bảo vệ tàu khỏi các cuộc tấn công đường không, trên tàu lần đầu tiên trong Hạm đội Liên Xô đã bố trí 2 tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” (ở mũi theo sơ đồ tuyến – nâng cao) và 2 pháo phòng không 57mm tự động 2 nòng AK-725 với hệ thống điều khiển “Bars” (theo thành), đồng thời các pháo 30mm AK-230. Sự chiếu sáng tình trạng trên không đảm bảo bằng 2 đài ra đa định vị: “Voskhod” (tầm xa trên 500km) và “Angara-A” (130km). Các trực thăng chống ngầm Ka-25 được bố trí trên hang ga dưới boong, còn sự cất và hạ cánh của chúng trên boong dự kiến có 4 bãi đáp cho trực thăng chống ngầm, đồng thời 2 máy (thang) nâng 10 tấn.

Đài thủy âm của tàu với ăng ten di động dưới sống tàu trong mũ chụp và đài thủy âm chìm của các trực thăng Ka-25 cho phép phát hiện tàu ngầm của địch ở cự ly đáng kể, còn sau đó tiêu diệt chúng bằng bom chìm hoặc tên lửa chống ngầm với cơ số đạn đặc biệt.

Thiết bị tuabin hơi nước được mượn từ tàu tuần dương tên lửa Đề án 58, nhưng đã được thiết kế thêm. Đề án được phê duyệt vào tháng 3 năm 1961, và có lượng choán nước 9300 tấn cùng tốc độ 29 hải lý. Đến tháng 1 năm 1962, tàu được thay đổi một cách cơ bản để bố trí 14 trực thăng Ka-25 và Mi-8 ở hang ga dưới boong và 2 trực thăng trực chiến bố trí trên hang ga ở thượng tầng. Lượng choán nước hoàn toàn của tàu được tăng lên 15 000 tấn, tốc độ giảm xuống nửa hải lý.

Tàu đầu tiên của Đề án 1123 nhận tên gọi “Moskva” và chính thích được phân lớp thành tàu tuần dương chống ngầm, được đóng ở xưởng đóng tàu biển Đen và ban giao cho Hải quân năm 1967. Sau đó 2 năm sau tàu đầu tiên, xưởng đã bàn giao cho Hải quân tàu thứ 2, tàu tuần dương cùng lớp “Leningrad”. Điểm đặc biệt cần chú ý, rằng yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được đặt ra cho các tàu này, về sự bố trí 14 trực thăng đã chỉ ra bị sai. Thực tế đây là nhược điểm chính – số lượng hạn chế đội máy bay, không đảm bảo giải quyết nhiệm vụ được giao trong khối lượng lớn. Ngoài ra, xuất hiện khả năng đi biển không đạt yêu cầu trong các điều kiện bão, gây ra bởi đường bao hoàn toàn của mạn tàu và sự tạo thành hình chữ U của khung mũi (đồng thời, đây cũng là nhược điểm vốn có của các tàu khu trực trước chiến tranh Đề án số 7). Tàu rõ ràng không đủ dài cũng như có thể nói không được vũ trang bằng mắt. Trong nửa sau những năm 1960, khi quan điểm của lãnh đạo về tàu nổi Hải quân đã được thay đổi theo hướng thuận lợi, việc này cho phép tìm ra sự phản chiếu về hiệu chỉnh đề án tàu tuần dương “Moskva”. Trang bị pháo của tàu Đề án 1123 đồng thời cũng có nhược điểm – tổng cộng 2 thiết bị pháo cỡ nhỏ, cho phép yểm trợ tàu trong chiến trường với các tàu khu trục của địch trong thời gian đó.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #343 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 01:17:20 pm »


Tàu tuần dương chống ngầm lớp “Moskva” (Đề án 1123)

Lượng choán nước: 11 000 – 13 300 tấn

Tốc độ: 29 hải lý

Vũ khí: 14 trực thăng chống ngầm và tìm kiếm – cứu nạn Ka-25 (4 bãi cất – hạ cánh, 2 thang nâng trực thăng), 1 thiết bị phóng đôi cho tên lửa chống ngầm “Vikhr”, 2 máy phóng bom phản lực RBU-6000, 2 thiết bị pháo phòng không nòng đôi 57mm; 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm

Công suất thiết bị động lực: 90 000 sức ngựa

Tầm bơi xa: 18 hải lý – 6000 dặm

Chiều dài: 190 mét

Chiều rộng: 35 mét

Lượng mớn nước: 9 mét

Thủy thủ đoàn: 541 người (cùng phi công – 840 người)

Các số trên hình vẽ

1.Máy phóng bom RBU-6000

2.Tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr”

3.Tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm”

4.Ăng ten ra đa định vị đạo hàng “Don”

5.Ăng ten đài ra đa định vị điều khiển bắn “Shtorm”

6.Ăng ten khí tài chống ra đa định vị

7-9.Ăng ten ra đa định vị

10. Các pháo 57mm

11. Các thiết bị ngư lôi

12. Các trực thăng Ka-25

13.Trạm chỉ huy khởi động

14.Bãi đáp cất – hạ cánh

15.Các thang nâng trực thăng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #344 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 01:39:25 pm »

Các biến thể


Tàu thứ 3 trong lớp, nhận số hiệu Đề án 11233 (trong một số nguồn là 1123-M), được khởi công với chiều dài được tăng cường lên 12 mét, để đảm bảo sự tăng cường tính không chìm, khả năng cơ động trên biển và cho người ở, còn mục tiêu chính – tăng cường số lượng máy bay. Tuy nhiên, sự phát triển số lượng trực thăng đã tạo ra vấn đề mới – sự cần thiết tăng cường số lượng bãi đáp trực thăng trên boong từ 4 lên 6, và ngoài ra, các bãi đáp riêng tương tự dành cho các trực thăng tìm kiếm – cứu nạn trực chiến. Khi tăng cường kích thước tàu, một lần nữa “thò ra” toàn bộ các nhược điểm trước đó của thiết kế, yêu cầu thiết kế lại căn bản. Ưu điểm chỉ có một: bố trí 7 bãi đáp trực thăng trên boong trên 1 hàng, tạo thành boong bay “dải” hay tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài là boong bay “xuyên”, với mục đích tiết kiệm chiều dài tổng thể của tàu, đã thiết kế tiếp nối bộ phận mũi – chứa vũ khí dưới góc nghiêng không lớn 4-5 độ. Vì thế gần như ngay sau khi khởi công, tàu tuần dương chống ngầm Đề án 11233 đã bị tháo ngay trên ụ, thay thế cho nó là tàu sân bay thế hệ mới Đề án 1143.

Trong thời gian phục vụ, tàu tuần dương chống ngầm “Moskva” đã chịu sự nâng cấp không lớn. Trên tàu đã thí nghiệm cố định boong cất cánh. Vào 18 tháng 11 năm 1972, tàu tuần dương đã tiếp nhận loạt máy bay đầu tiên cất cánh thẳng đứng Yak-38, sau đó là tiếp nhận vào trang bị như là vũ khí chính của tàu tuần dương tên lửa chở máy bay hạng nặng Đề án 1143.

Trong năm 1975-1976, trong giai đoạn sửa chửa nổi ở xưởng đóng tàu biển Đen, trên tàu tuần dương chống ngầm “Moskva” đã lắp 2 đài dẫn bắn tên lửa hiện đại hơn “Grom-M” (thay cho “Grom” trước đó), đài ra đa định vị mới MR-600 (“Voskhod”), hệ thống MVU-201 (“Koren”), tháo hệ thống chữa cháy bằng bọt nhiều lần và thay bằng khí tài chống tác chiến điện tử. Đã tháo 2 thiết bị ngư lôi, mà xuất hiện trong sự phối hợp với tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr-1” trở nên không cần thiết, còn chỗ cắt ở thành được hàn từng phần, còn vị trí của thiết bị ngư lôi được trang bị thành khoang bổ sung cho người ở. Năm 1977-1978, các công việc tương tự được thực hiện ở xưởng đóng tàu biển Đen trên tàu tuần dương chống ngầm “Leningrad”.

Vào giữa những năm 1980, tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230 được tháo khỏi các tàu tuần dương, còn vị trí của chúng là các thiết bị phóng đôi cho các loại nhiễu thụ động kiểu PK-2.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #345 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2012, 01:53:27 pm »


Chương trình đóng tàu

Các tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1123 được đóng ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 ở Nicolaev. Tàu đầu tiên – “Moskva” – khởi công năm 1962 và gia nhập biên chế năm 1967. Tàu thứ 2 và cuối cùng trong Đề án – “Leningrad” – gia nhập biên chế năm 1969. Tàu thứ 3, được khởi công theo Đề án biến theer11233 bị tháo trên ụ năm 1969 gần như ngay sau khi khởi công.

Tình hình đến năm 2006

Cả 2 tàu tuần dương đều gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen. “Leningrad” sau hai lần đại tu đã kết thúc sự phục vụ vào năm 1991, còn “Moskva” được đưa vào lực lượng dự bị năm 1983, còn bị loại – năm 1987.

Ở trong khu vực sẵn sàng chiến đấu, tàu tuần dương chống ngầm “Moskva” năm 1974, còn “Leningrad” – 1970, những năm 1971-1972 và 1974 đã thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo mệnh lệnh hỗ trợ quân đội Ai Cập. Ngoài ra, “Leningrad” trong năm 1974 là tàu chỉ huy trong đội tàu gỡ mìn kênh đào Sue. Đối với việc này, tàu tuần dương mang trên boong trên 2 máy bay trực thăng “lục quân” Mi-8 (chúng không bố trí trên thang nâng, còn Ka-25 không đảm bảo sự cần thiết các tính năng kéo), thực hiện việc quét mìn với sự hỗ trợ của lưới kéo quét mìn tổng hợp trên các cánh ngầm VNT-1.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #346 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 12:15:30 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


+ “Moskva” (số hiệu xưởng 701); từ năm 1995 là PKZ-108; khởi công 15 tháng 12 năm 1962 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 1 năm 1965; hạ thủy 14 tháng 1 năm 1965; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 10 tháng 1 năm 1968; năm 1972 trải qua nâng câp để đảm bảo các thí nghiệm cho máy bay cất cánh thẳng Yak-38; từ 1 đến 30 tháng 3 năm 1974 ở trong khu vực sẵn sàng chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ trực chiến theo mệnh lệnh hỗ trợ các lực lượng vũ trang Ai Cập; từ 8 đến 13 tháng 4 năm 1978 thực hiện chuyến thăm Algieri; 12 đến 18 tháng 6 năm 1982 – tới Luanda (Angola) và 25 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1982 – tới Lagos (Nigeria); tháng 11 năm 1983 đưa vào lực lượng dự bị; năm 1995 phân loại lại thành doanh trại nổi; 7 tháng 11 năm 1996 trên tàu đã hạ cờ; 10 tháng 11 năm 1996 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân; năm 1997 bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ và giải thể.

+ “Leningrad” (số hiệu xưởng 702); khởi công 15 tháng 1 năm 1965 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1965; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 24 tháng 1 năm 1967; gia nhập biên chế 2 tháng 6 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen 9 tháng 7 năm 1969; 1 đến 31 tháng 5 năm 1970; từ 1 tháng 12 năm 1971 đến 30 tháng 6 năm 1972 và 15 tháng 6 đến 6 tháng 12 năm 1974 nằm trong khu vực chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu theo mệnh lệnh hỗ trợ quân đội Ai Cập; 4 tháng 8 đến 14 tháng 10 năm 1974 là tàu chỉ huy đội tàu phá mìn kênh đào Sue; 19 đến 23 tháng 11 năm 1974 đã thăm Dakar (Senegal); 14 đến 19 tháng 10 năm 1976 – tới Split (Nam Tư); 27 tháng 9 đến 1 tháng 10 năm 1981 – tới El Dzhazair (Algieri) và 26-30 tháng 3 năm 1984 – tới Havana (Cuba); từ 12 tháng 5 năm 1977 đến 6 tháng 10 năm 1978 và từ 3 tháng 2 năm 1986 đến 11 tháng 12 năm 1987 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 6 năm 1991 trong thông tin bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; giải thể 31 tháng 12 năm 1991.

+ “Kiev” (số hiệu xưởng 703); khởi công ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 tháng 10 năm 1968; tháng 12 năm 1968, đơn đặt hàng bị phá hủy; bị tháo ngay trên xưởng từ tháng 1 năm 1969.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #347 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 12:25:08 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 14 900

+ hoàn toàn: 17 500

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 189,1 (176)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 34 (21,5)

+ lượng mớn nước lớn nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 8,06 (7,5)

+ các kích thước hang ga trực thăng: 50x22x5,8

Thiết bị năng lượng chính: nồi hơi tuabin

+ 4 nồi hơi nước KVN-98/64, 2 thiết bị tuabin răng cưa chính TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 100)

+ các máy phát điện diezel, công suất (kW): 2x –

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x –

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ nổi: 29

+ dự bị: 13,5

Tầm bơi xa, dặm (ở tốc độ, hải lý)

+ 4500 (28)

+ 6000 (18)

+ 14 900 (13,5)

Thời gian hoạt động: 15 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 700  (130).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #348 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 12:31:51 pm »

Vũ khí


Hàng không

+ trực thăng Ka-25PLO/PS (chống ngầm – tìm kiếm cứu nạn – “HormoneA/C”): 14

+ bãi đáp trực thăng/thang nâng: 4/2

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng MS-18 của tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr” (SUW-N-1): 1x2

+ tên lửa chống ngầm 82-E (FRAS-1): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-187A thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm”: 2x2

+ tên lửa phòng không V-611 (SA-N-3 “Goblet”): 96

Pháo

+ thiết bị pháo 57mm AK-725: 2x2

+ tổ hợp pháo 30mm AK-230 (sau đó được tháo): 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1123 (sau đó được tháo): 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 (khí tài phóng bom phản lực) “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn RGB-60: 144.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #349 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2012, 12:42:37 pm »

Trang bị vô tuyến điện


Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Koren”

Đài ra đa định vị MR-600 “Voskhod” (Top Sail): 1

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C)

Ra đa định vị đạo hàng: 3x”Vaigach” (Don-II)

Đài thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Orion” (Moose Jaw)

+ đài thủy âm lớn “Vega” (Mare Tail)

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+ “Gurzuv (-1)” (8 Side Globe) – nhiễu chủ động

+ “Zaliv”

+ (2 Bell Clout; 2 Bell Slam; 2 Bell Tap; 2 Top Hart)

Tổ hợp bắn nhiễu : 2x2 thiết bị phóng PK-2 (được lắp thay cho AK-230 đã bị tháo)

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth)

+ 3x(Tiit Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Grom” (Head Light A) đối với tổ hợp tên lửa “Shtorm”

+ 2xMR-103 “Bars” (Muff Cob) đối với thiết bị pháo

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Nikel-KM” và “Khrom-M” (High Pole A và B).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM