Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:14:46 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329667 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #360 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 12:57:53 pm »


Sơ đồ bố cục tàu tuần dương chống ngầm “Kiev”

1.Buồng đài thủy âm lai “Platina”

2.Hang ga

3.Kho nhiên liệu máy bay

4.Thiết bị pháo 76mm AK-726

5.Các thiết bị phóng B-189 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không điều khiển “Shtorm-M”

6.Trạm chỉ huy – khởi động

7.Các ăng ten hệ thống điều khiển hỏa lực “Turel”

8.Các trạm ăng ten hệ thống điều khiển “Grom”

9.Ăng ten của đài ra đa định vị “Fregat”

10.Ăng ten đèn vô tuyến phương vị “Privod-SV”

11.Ăng ten đài ra đa định vị “Voskhod”

12.Thiết bị pháo 30mm AK-360

13.Hầm chứa tên lửa phòng không điều khiển “Shtorm-M”

14.Hầm tên lửa tổ hợp “Uragan-1143” (P-500)

15.Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu “Vikhr”

16.Thiết bị phóng bon RBU-6000

17.Mũ chụp đài thủy âm “Orion”

18.Mũ chụp cố định đài thủy âm “Platina”

19.Các khoang năng lượng

20.Khoang máy – nồi hơi

21.Khoang máy chống rung.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #361 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 05:45:56 pm »


Thân tàu tuần dương có 18 tường ngăn không thấm nước ngang và 2 tường ngăn dọc. Trong bộ phận giữa có 6 boong và 2 nền. Bố trí trực tiếp trên hang ga là buồng máy; đồng thời có kho chứa đạn của máy bay và hần tên lửa của tổ hợp tiến công chính trang bị hệ thống bảo vệ cấu trúc ngầm (PKZ). Đáy kép, theo chiều dài có khoảng cách đủ lớn (khu vực các buồng máy và nồi hơi, các trạm chỉ huy trung tâm và hầm đạn) kéo dài tới thành kép, ở đó bố trí các thùng mang theo, được nâng lên theo chiều cao tới boong thứ 6.

Trong thời điểm đó, cũng tính toán cho tàu các yêu cầu phòng thủ hạt nhân, đảm bảo an toàn cho tàu phải chống được vụ nổ trên không của đạn hạt nhân 30 kiloton trên tầm xa 2000 mét. Khi đó, tính không chìm được đảm bảo khi bị đắm bốn khoang liên tiếp bất kỳ (không tính hang ga, ở đó giới hạn không chìm là boong số 5, và chỉ số đảm bảo tính không chìm là 3 khoang).

Boong bay với tổng diện tích 6200km2 kết hợp khu vực cất cánh với đường băng hạ cánh. Trên đó bố trí 8 bãi cất – hạ cánh cho máy bay cất – hạ cánh thẳng đứng và trực thăng. Trên boong phải ở bộ phận sau boong bay có 10 bãi đáp kỹ thuật dánh cho việc bảo dưỡng khí tài kỹ thuật bay.

Trên tàu đầu tiên của Đề án 1143 dự kiến khả năng đóng 22 khí tài bay trong 2 phương án ghép bộ - máy bay hoặc trực thăng. Tất cả chúng được giữ trong hang ga 1 tầng (130x22,5x6,6), liên kết với boong bay bằng 2 thang nâng máy bay (thang máy), bố trí ở bên trái và ở mạn sau thượng tầng. Thang thứ nhất phục vụ việc hạ máy bay xuống hang ga, tháng thứ 2 – nâng. Sức chứa (tải trọng) thiết kế của hang ga là 22 khí tài bay, nhưng sau lần thăm “Kiev” năm 1975, Bộ trưởng Quốc phòng Grechko đã yêu cầu tăng cường số lượng khí tài bay lên gấp rưỡi, sơ đồ bố trí máy bay trong hang ga được nghiên cứu lại. Sau yêu cầu của Bộ trưởng, việc ngăn rãnh bắt buộc giữa chúng thành 0,75 mét và mở rộng việc đóng các máy bay “át”, sức chứa của hang ga tăng lên 36 khí tài bay.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #362 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2012, 05:55:59 pm »


Lần hạ cánh đầu tiên của máy bay cất - hạ cánh thẳng Yak-36M trên boong "Kiev". Ngày 18 tháng 5 năm 1975


Trực thăng Ka-25PL trên boong "Kiev" chuẩn bị cất cánh theo nhóm


Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng "Minsk" ở Ấn Độ Dương. Huấn luyện bay của phi đội Yak-36M. Năm 1979.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #363 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 12:06:42 pm »

Sự bố trí các máy bay và trực thăng theo boong trên được thực hiện bằng các máy kéo đặc biệt, theo hang ga – với việc sử dụng hệ thống kéo dọc – ngang. Hang ga được trang bị hệ thống thông gió với sự đóng tự động khi có đám cháy, kiểm soát nồng độ hơi nước của dầu máy bay, hệ thống dập lửa bằng bọt khí và hệ thống tín hiệu; khi cần thiết, có 5 màn amiang chống cháy được hạ xuống có thể phân chia không gian chung của hang ga thành 6 khu vực cách ly.

Trong sự khác biệt với tàu sân bay Mỹ, thực tế, thành phần cụm khí tài bay của tàu Đề án 1143 không được cố định và có thể thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ cần giải quyết. Phiên bản máy bay được tiếp nhận trên thành là 20 máy bay cất – hạ cánh thẳng và 2 trực thăng cứu nạn; phiên bản trực thăng – 20 máy bay Ka-25PL và 2 trực thăng cứu nạn. Để đảm bảo khả năng hoạt động của cụm máy bay (phiên bản máy bay phản lực) trên thành tàu có chứa lượng nhiên liệu máy bay cần thiết, đồng thời 18 bom đặc chủng RN-28, các tên lửa không điều khiển (rocket), các thùng bom sử dụng một lần….

Tên lửa tiến công của tàu tuần dương là tổ hợp tên lửa “Uragan-1143”, gồm trong đó 4 thiết bị phóng dạng khối ghép đôi không được dẫn đường SM-241 với góc phóng cố định, đài điều khiển “Argon-1143”, các khí tài kiểm tra thao tác và 8 tên lửa có cánh P-500 “Bazalt”.  Khả năng nạp đạn 1 lần cho tổ hợp chính đã được tính toán, để làm việc đó, có 8 tên lửa dự trữ được để trong hầm (chỉ có trên “Kiev” và “Minsk”).

Nhiệm vụ của tổ hợp, được tiếp nhận vào trang bị năm 1975 – tiêu diệt các mục tiêu nổi và công trình (căn cứ) lớn trên bộ, tầm bắn xa – 550km. Tên lửa được trang bị động cơ tên lửa nhiên liệu rắn chính tăng sức kéo và tính kinh tế (tiết kiệm nhiên liệu) KR-17-300 và các máy gia tốc khởi động. Đầu đạn – nổ - xuyên lõm hoặc hạt nhân khối lượng 500kg, sự dẫn bắn – nhờ sự điều khiển vô tuyến hoặc sử dụng đầu đạn tự dẫn bắn bằng ra đa định vị chủ động (ARGSN), tốc độ bay – 2,5M, khối lượng khởi động – 6200kg, các kích thước chính – 12,4x0,88 mét, sải cánh – 2,6 mét. Khả năng kháng nhiễu được tăng cường của tên lửa cho phép khi bắn theo loạt được thực hiện khi bắn loạt các mục tiêu chính của cụm tàu tấn công (đúng ra, đây là tàu sân bay). Tên lửa P-500 có tính chất bay “độ cao lớn – độ cao thấp”, trong đó hành trình cuối của quỹ đạo ở độ cao thấp có độ khác bởi tầm xa lớn. Để đơn giản hóa sự vượt qua hệ thống phòng không gần bờ của các tàu nổi, tên lửa được bọc thép cục bộ. Trạm ăng ten của hệ thống điều khiển “Argon-1143” (với máy tính điện tử mang theo) được bố trí trong bộ phận mũi boong trên của tàu trong vị trí “tác chiến” nằm trong trạng thái hợp thành. Các sự phóng được thực hiện theo cách bắn đơn hoặc theo loạt 2 tên lửa hoặc hơn. Trong cùng thời gian này, sự tiếp nhận hiệu quả tên lửa có cánh trên tầm xa hoàn toàn yêu cầu sự xuất hiện các trạm chỉ thị mục tiêu ở ngoài (vệ tinh, các máy bay TU-95RTs hoặc trực thăng Ka-25Ts với khí tài Hải quân trinh sát và chỉ thị mục tiêu (MRCTS) “Uspekh”/”Uspekh-1”), còn đối với sự đảm bảo tiêu diệt các mục tiêu được bảo vệ này, như các tàu sân bay, cần thiết tiếp nhận số lượng lớn tên lửa. Khi bắn loạt một trong số các tên lửa, sau đó trên độ cao lớn, có thể điều khiển bay số lượng tên lửa còn lại. Tiếp đó là bay sát mặt đất trong chế độ im lặng vô tuyến hoàn toàn, đồng thời thực hiện trong giai đoạn này sự sục sạo và phân loại (với sự truyền tải thông tin đồng thời tới các tên lửa khác) các mục tiêu được phát hiện. Chế độ khác khi bắn loạt được tính toán là theo dõi toàn bộ cụm các tên lửa tấn công trên độ cao thấp trong chế độ im lặng vô tuyến với việc sử dụng đầu đạn dẫn bắn bằng ra đa định vị chủ động chỉ trong hành trình cuối của quỹ đạo bay (trong trường hợp này, khi các tọa độ và tham số di chuyển của mục tiêu bị tấn công được xác định đủ độ chính xác). Quỹ đạo bay của tên lửa trong loạt có thể khác nhau, gồm có sự thay đổi độ cao trong quá trình tấn công, phục thuộc vào tầm xa tới mục tiêu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #364 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 12:46:18 pm »

Vũ khí chống ngầm của tàu Đề án 1143 chính là tương đồng với hệ thống vũ khí lắp trên tàu tuần dương chống ngầm “Moskva”. Chúng gồm tổ hợp tên lửa chống ngầm “Vikhr”, 2 thiết bị ngư lôi 5 ống phóng quay được PTA-53-1143 và 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000. Sự chỉ thị mục tiêu được cung cấp bằng hệ thống trên tàu “Sprut-1143”.

Trang bị vô tuyến điện gồm có hệ thống tự động hóa thu thập và xử lý thông tin, chỉ thị mục tiêu và thực hiện giải quyết nhiệm vụ “Alleia-2” (điều khiển vũ khí và các khí tài kỹ thuật vô tuyến của tàu tuần dương chống ngầm, đồng thời dẫn bắn cho trực thăng), đài thủy âm phát hiện mục tiêu tầm xa các tàu ngầm tốc độ cao MG-342, tổ hợp thủy âm để phát hiện tàu ngầm “Platina”, khí tài tiếp nhận thông tin từ phao tiêu thủy âm vô tuyến MGS-407-K, đài phát hiện tàu ngầm theo sự tương phản nhiệt của tia rẽ nước MI-110K, đài phát hiện tàu ngầm theo vết rẽ nước MN-POR, đài ra đa định vị 3 tọa độ chống nhiễu phát hiện mục tiêu tầm xa và chỉ thị mục tiêu MR-600 (cơ sở), đài ra đa định vị 3 tọa độ chống nhiễu phát hiện các mục tiêu trên không và nổi “Fregat” (dự bị), hệ thống xử lý tự động thông tin ra đa định vị và chỉ thị mục tiêu “Baikal-1143”, khí tài hệ thống nhận dạng ra đa định vị “Kremni-2M”, các khí tài chỉ thị mục tiêu Hải quân MPTs-301, đài ra đa định vị đạo hàng “Volga” và “Vaichag-1143” (với khối “Palma”). Tàu được trang bị tổ hợp đạo hàng “Salgir-1143”, 2 máy đo sâu bằng tín hiệu dội (NEL-6 và NEL-10), tổ hợp tự động hóa các khí tàu thông tin liên lạc “Typhoon-1” (14 máy phát bước sóng ngắn và 2 máy phát bước sóng trung bình; 21 máy thu vô tuyến sóng ngắn, 1 sóng trung bình và siêu dài; 13 đài vô tuyến siêu cao tần). Các khí tài trinh sát vô tuyến – 3 đài thu vô tuyến kiểu R-678N, 6 kiểu R-670M và 2 – kiểu R-721; ngoài ra, 2 tổ hợp khí tài toàn cảnh SPS-2, các đài siêu cao tần nhìn rộng R-710 và R-714 và hệ thống bắn nhiễu vô tuyến (sóng cao tần) R-740. Tương ứng cho thiết kế, tàu được trang bị các hệ thống tự động đạo hàng tầm gần, hệ thống truyền động trên tàu của các khí tài bay “Privod-SV”. Trong thành phần trang bị kỹ thuật vô tuyến gồm có các khí tài thông tin về tình trang ra đa định vị và chống (cản trở) vô tuyến điện “Gurzuf” và “Gurzuf-1”, khí tài đảm bảo hoạt động đồng thời các khí tàu kỹ thuật vô tuyến trên tàu, đài định vị thủy âm “Orion” (dưới sống) và “Platina” (với ăng ten lai). Khi đó, trong sự khác biệt với tàu tuần dương chống ngầm Đề án 1123, ăn ten đài thủy âm “Orion” trên tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng được bố trí trong mũ chụp cố định. Các tổ hợp thủy âm mang theo trong sự phối hợp với các khí tài khác cho phép phát hiện mục tiêu đối với các tàu ngầm ở độ sâu cho phép bất kỳ.

Thiết bị năng lượng chính Đề án 1143, được đồng nhất với thiết bị tiếp nhận trước đó trên các tàu tuần dương Đề án 58 và Đề án 1123, tiếp nhận dạng bốn trục, tuabin nồi hơn (8 nồi hơi KVN 98/64) với các tham số hơi nước cao, tổng công suất 180 000 sức ngựa. Thiết bị năng lượng gồm có 4 bộ nồi hơi tuabin hoạt động lâu dài, bố trí theo 2 bộ trong 2 buồng máy – nồi hơi, tạo thành 2 khoang độc lập và mỗi khoang hoạt động trên chân vịt chính. Bốn tổ hợp tuabin răng cưa chính kiểu TV-12-3 cho phép tàu đạt tốc độ hoàn toàn 30,7 hải lý. Đài (phát) điện trên tàu (6 máy phát điện tuabin và 4 máy phát điện diezel tổng công suất 15 000kW) bố trí trong các khoang cạnh nhau với buồng máy – nồi hơi, tự sự tính toán theo hai cụm trên mỗi buồng. Các phần tử của thiết bị, các tổ hợp máy phát điện và các lá chắn phân chia chính được đồng nhất với Đề án 1123. Đối với sự điều khiển thiết bị năng lượng điện phục vụ hệ thống “Terek-2”. Sự tự động hóa các máy móc và sử dụng màn che cách ly, đặc biệt trong các khoang máy được tiếp nhận một cách rộng rãi.

Tháng 6 năm 1977, toàn bộ các tàu Đề án 1143 được chính thức phân loại lại từ tàu tuần dương chống ngầm thành tàu tuần dương chở máy bay (tàu sân bay) hạng nặng. Tương ứng, một số nhiệm vụ chính của chúng được điều chỉnh lại: hiện tại vai trò các tàu Đề án 1143 gồm có “cung cấp, hỗ trợ khả năng chiến đấu cho tàu ngầm tên lửa tuần dương chiến lược, nhóm lực lượng các tàu nổi, tàu ngầm và không quân Hải quân trong khu vực triển khai chiến đấu”. Thì giữa các nhiệm vụ của tàu tuần dương trong mục tiêu hàng đầu không phải săn lùng các tàu ngầm địch mà ngược lại, bảo vệ các tàu ngầm Liên Xô khỏi không quân chống ngầm của địch. Ở phương Tây, các tàu mới của Liên Xô trong sự tương đồng với việc tiếp nhận phân loại là “lớp Kuril”, nhưng về sau này vẫn duy trì tên gọi của tàu đầu tiên cho đến nay – “lớp Kiev”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #365 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2012, 03:58:58 pm »

Các biến thể

Đề án kỹ thuật rút gọn 1143-M (Tổng công trình sư – A.V.Marinich) cho tàu thứ 3 trong loạt được thiết kế trong tháng 1 và được phê duyệt bởi Hải quân và Bộ Công nghiệp quốc phòng tháng 7 năm 1975. Trên tàu tuần dương dự kiến đóng 28 máy bay cất – hạ cánh thẳng Yak-36M (Yak-38) và/hoặc trực thăng Ka-25PL và 2 trực thăng cứu nạn Ka-25PS. Đài thủy âm “Orion” được thay bằng tổ hợp thủy âm tự động (AGAK) “Polinom”, còn vũ khí ngư lôi được tháo bỏ. Do kết quả giảm các khe hở giữa các khí tài bay trong hang ga, số lượng của chúng đã tăng lên 24. Thêm 6 máy bay nằm trong bãi đỗ kỹ thuật của boong bay (thành bên phải), cầu vòng trong khu vực thành bên phải được thiết kế 1,2 mét thấp hơi chiều cao trên tàu Đề án 1143. Khi cần thiết, trong hang ga bố trí được 30 khí tài bay với một số hạn chế.

Tổ hợp trang bị vô tuyến điện, pháo và vũ khí tên lửa điều khiển, đồng thời thiết bị năng lượng chính ban đầu dự kiến giữ lại như trên Đề án 1143, nhưng trong quá trình đóng tàu thứ 3 đã quyết định áp dụng hàng loạt sự hiện đại hóa. Ví dụ, trong thông tin liên quan với sự tiếp nhận vào trang bị Hải quân Mỹ mùa hè năm 1977 tên lửa chống tàu tầm bay thấp “Harpoon”, Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski theo sự giao phó của lãnh đạo Bộ Công nghiệp quốc phòng và chỉ huy Hải quân đã chuẩn bị gấp các đề xuất theo sự nâng cấp các tàu Đề án 1143 và 1143-M với mục đích tăng cường khả năng chiến đấu của chúng. Để tăng cường khả năng phòng không cho tàu tuần dương chở máy bay thứ 3 đã dự định trang bị cho tàu 2 modul tổ hợp tên lửa phòng không mới “Kinzhal” (thay cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”) và các tổ hợp pháo – tên lửa “Kortik” (thay cho AK-630M), đồng thời tổ hợp ra đa định vị “Podkat” (thay cho đài ra đa định vị “Topaz-IV”). Yêu cầu hoàn thiện trang bị vô tuyến điện và các khí tài thông tin liên lạc của tàu – nguyên nhân chính, do những sự thay thế thành phần vũ khí tên lửa – pháo và hàng không. Các khối lượng để thực hiện các biện pháp này nhận được do kết quả loại bỏ hầm cơ số đạn dự trữ của tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”.

Nhưng những thay đổi của Đề án không chỉ hướng vào các hệ thống phòng không. Đồng thời, tiếp nhận quyết định đảm bảo trên tàu việc đóng 36 khí tài bay. Phiên bản chính gồm 16 Yak-38, 18 trực thăng chống ngầm Ka-27 và 2 trực thăng cứu nạn Ka-25PS. Đặc biệt nhấn mạnh khả năng đóng các máy bay cất – hạ cánh thẳng triển khai trên boong Yak-41, máy bay cường kích Yak-38 và trực thăng Ka-25 trong 3 biến thể (chống ngầm, tìm kiếm – cứu nạn và tuần tiễu ra đa định vị). Đã lên kế hoạch đồng thời trang bị trên bãi cất – hạ cánh 3 khí tài ống thoát khí GOU) – để bảo vệ bề mặt che phủ boong bay khỏi sự đốt nóng đến 1200 của hơi ga trong sự khởi động của Yak-41 (sau đó đã chỉ ra là sự mạo hiểm – khí tài thoát khí đã được lắp và sau đó tiến hành cắt chúng khỏi thân tàu đã được chế tạo, do các công việc này, thời gian bàn giao tàu từ năm 1979 đã dời sang năm 1982).

Do sự loại bỏ hàng loạt sự khác nhau theo thành phần và sự bố trí các trạm ăng ten đài ra đa định vị và khí tài vô tuyến điện, hình dáng ngoài của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 1143-M được thay đổi không đáng kể, mặc dù đã lên kế hoạch lại sự bố trí tổng quát đã hoàn thành đủ đến 40% tổng số các phòng mà theo kết quả hiệu chỉnh lại của đề án đã tiến hành các công việc tháo và lắp “sống”. Mép trước sườn nhỏ có hình dáng thay đổi, bố trí trong mũi từ boong góc – trên đó không có điểm đặc trưng đối với 2 tàu đầu tiên là gờ kép, gây ra sự văng mạnh và hình thành luồng không khí xoáy trên boong bay. Trên boong trên đồng thời lắp khí tài làm phẳng (VU) – 3 màn (tấm) chắn đứng để nắn thẳng dòng không khí.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #366 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2012, 12:12:24 pm »

Đề án kỹ thuật 11433 (Tổng công trình sư V.F.Anikiev) được thiết kế trong tháng 12 năm 1977 và được phê duyệt tháng 5 năm 1978, khi đó, việc đóng (hình thành) thân tàu thứ 3 (“Novorossisk” – “Nước Nga mới”) trên xưởng đã hoàn thành. Ngày 26 thagns 12 năm 1978, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã được hạ thủy chính thức và đưa vào đóng tiếp.

Do sự chậm trễ theo thời hạn thiết kế và chế tạo những mẫu đầu tiên, dự kiện bằng đề án tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” và tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”, “Novorossisk” không nhận được những vũ khí này. Thay cho chúng là pháo tự động 30mm AK-630M, khi đó lớp vũ khí trước – tổ hợp tên lửa phòng không “Osca-M” không được lắp – kết quả là tàu ở trong tình trạng hầu như không có hệ thống phòng không tầm gần! Các vấn đề sau đó là việc chế tạo các máy bay mới trong cụm khí tài bay trên tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng thứ ba hợp thành từ Yak-38 (sau đó thay bằng Yak-38M). Một phần nào đó vấn đề này được bù đắp bằng sự xuất hiện của trực thăng thế hệ thứ 2 hiện đại hơn – Ka-27. Ngoài ra, trên Đề án 11433 có thể đóng các khí tài bay triển vọng và trực thăng khối lượng tới 15 tấn, tiếp nhận trên boong (không bố trí trong hang ga) đối với việc vận chuyển cấp chiến dịch hoặc đổ bộ với các trực thăng M-8, Mi-14, thậm chí Mi-6 khối lượng 37 tấn. Đồng thời, có khả năng khởi động động cơ của chúng từ hệ thống trang bị điện trên tàu.

“Novorossisk” được trang bị hệ thống điều khiển vũ khí chống ngầm mới “Purga”. Tổ hợp đạo hàng “Salgir” được thay mới hiện đại hơn – mẫu nâng cấp “Salgir-V”. Ngoài ra, tính toán khả năng lắp trên thành đề án ngay khi còn đang trong quá trình đóng – đài ra đa định vị dự bị phát hiện và chỉ thị mục tiêu tổng hợp “Topaz-IV” (theo sự hoàn thành các thí nghiệm của nó và xử lý trên tàu tên lửa loại lớn “Bedovưi” Đề án 65-EM). Khối lượng các buồng trên boong thứ 5, nhận được trong kết quả không tiếp nhận thiết bị ngư lôi, đã sử dụng cho trang bị các buồng bổ sung cho thủy thủy đoàn và lính đổ bộ với 90 người cùng vũ khí và đạn dược. Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng thứ 3 được trang bị hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Alleia-2K” (thu nhận, xử lý, giữ và phản hồi thông tin trong các phạm vi đảm bảo các chức năng chỉ huy thống nhất trong biên chế 9 tàu nổi), đồng thời mẫu thí nghiệm tổ hợp ra đa định vị “Podkat” – đối với việc phát hiện các mục tiêu kích thước nhỏ kiểu “tên lửa có cánh” với bề mặt phản xạ thấp, trên tầm cao thấp (gần 100 mét) ở tầm xa 33,7km (với khả năng theo dõi các mục tiêu tự động, xác định các tham số di chuyển, xử lý và cung cấp các thông tin chỉ thị mục tiêu tới 15 khí tài phòng không của tàu tuần dương và các tàu trong đội). Việc này đã tăng các khả năng phòng không, chống ngầm của tàu tuần dương trong các điều kiện mới, nhưn liên quan đến việc không có tổ hợp tên lửa phòng không tầm gần, việc này thực tế không thực hiện được.

Tàu thứ 4 trong lớp Đề án 1143 được đóng theo sự thay đổi đáng kể Đề án 11434 với thành phần vũ khí mới và có sự thay đổi đáng kể trong cấu trúc thượng tầng. Ở phương Tây, tàu này nhận tên gọi “lớp Kiev biến thể” (“Modified Kiev class”).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #367 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2012, 12:40:15 pm »

Chương trình đóng tàu

Ban đầu, theo kế hoạch theo Đề án 1143 sẽ đóng 2 tàu – “Kiev” và “Minsk”. Việc đóng tàu bắt đầu từ năm 1967 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 ở Nicolaev. Tàu đầu tiên được khởi công 21 tháng 7 năm 1970, hạ thủy 26 tháng 12 năm 1972 và gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1975. Tàu thứ 2 được khởi công ngay sau khi hạ thủy tàu thứ nhất và đưa vào biên chế 27 tháng 9 năm 1978. Tư lệnh Hải quân - Đô đốc S.G.Gorshkov đã ra lệnh đóng tàu sân bay hiện đại và tàu tuần dương chở máy bay thứ 3 của Liên Xô đã được nhìn với quan điểm hoàn toàn khác. Nhưng với nhiệm vụ trong năm 1976, ở phòng làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng D.F.Ustinov, người ủng hộ các máy bay cất và hạ cánh thẳng, sự tăng cường cơ bản só với trước đó là quyết định hướng vào sự hiện đại tiếp theo cho các tàu – phương tiện mang khí tài bay cất – hạ cánh thẳng. Theo Mệnh lệnh của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ 1 tháng 2 năm 1977, đã phê duyệt việc đóng tàu thứ 3 (thời hạn bàn giao – 1979), đồng thời tàu tuần dương chống ngầm thứ 4 (thời hạn bàn giao – 1982) với một số thay dổ và sử dụng đối đa tài liệu của tàu đầu tiên (1143-M). Ngày 30 tháng 9 năm 1975 đã tiến hành khởi công tàu thứ 3 (“Novorossisk”) trong xưởng đóng tàu biển Đen, nhưng với tính toán hiệu chỉnh Đề án kỹ thuật theo những thay đổi được tiếp nhận, việc hạ thủy “Novorossisk” chuyển sang năm 1978. Còn tàu chỉ gia nhập biên chế 14 tháng 8 năm 1982, bởi vì việc đóng tiếp sau khi hạ thủy được thực hiện một lần nữa theo sự thay đổi đề án kỹ thuật 11433.

Tình hình đến năm 2007

Tàu đầu tiên Đề án 1143 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen, còn tàu thứ 2 và thứ 3 – Hạm đội Thái Bình Dương. Tháng 6 năm 1977, toàn bộ các tàu trong Đề án đã chính thức được phân loại lại từ tàu tuần dương chống ngầm thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng (tàu sân bay). Chúng đã tham gia một cách tích cực trong hoạt động phục vụ chiến đấu của Hải quân, tham gia vào các cuộc diễn tập, xử lý nhiệm vụ chiến đấu, trong đó có tấn công các mục tiêu thaatju của “kẻ thù tiềm tàng”. Việc chế tạo các tàu lớp “Kiev” đã đánh dấu một giai đoạn mới tuyệt đối trong ngành đóng tàu chiến Liên Xô: Hải quân Liên xô đã “cảm nhận” được máy bay trên tàu, xuất hiện kinh nghiệm thực tế và giàu kỹ thuật trong khai thác sử dụng máy bay trên boong – có thể nói là vô giá.

Sau khi rút khỏi trang bị năm 1992 máy bay cất – hạ cánh thẳng Yak-38, toàn bộ 3 tàu tuần dương chở máy bay Đề án 1143 thực tế trở thành các tàu chở trực thăng chống ngầm lớn, bởi vì các máy bay đóng trên boong còn chưa được chế tạo. Liên quan đến sự tan rã của Liên Xô và khủng hoảng kinh tế ở Nga, sự phục vụ tiếp theo của các tàu này gần như đã được định đoạt (“Novorossisk” nằm trong biên chế sẵn sàng chiến đấu tổng cộng 7 năm).

Năm 1993-94, tất cả 3 tàu tuần dương đều bị loại và chuẩn bị bán cho các công ty nước ngoài để tháo dỡ. Hai trong số chúng – “Kiev” và “Minsk” – sau đó được Trung Quốc mua lại và trở thành các tổ hợp giải trí.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2013, 11:51:02 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #368 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2012, 01:38:39 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Kiev” (số hiệu xưởng 101); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 5 năm 1967; khởi công 21 tháng 7 năm 1970 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 như tàu tuần dương chống ngầm; hạ thủy 26 tháng 12 năm 1972; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1975; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 15 tháng 6 năm 1976; 16 tháng 7 năm 1976 rời Sevastopol với cuộc hành quân vòng quanh Châu Âu để tới Hạm đội Phương Bắc, đồng thời thực hiện nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên; bắt đầu từ 20 tháng 7 năm 1976, khi chạy trong khu vực quần đảo Krit trên tàu đã bắt đầu các thí nghiệm máy bay cất – hạ cánh thẳng trong các điều kiện biển; tổng cộng trong thời gian hành quân đã thực hiện 45 lần bay Yak-36M; 10 tháng 8 năm 1976 đã bơi dược 15 970 dặm, tàu tuần dương chống ngầm đã tới biển Bắc; trong tháng 8 – 12 năm 1976 đã trải qua giai đoạn 2 các thí nghiệm, trong đó có các thí nghiệm tổ hợp trang bị thông tin vô tuyến trong biên chế cụm tàu, bay cụm các khí tài bay, thí nghiệm cơ động trên biển, đồng thời bắn tên lửa chống tàu có cánh trên tầm xa hoàn toàn (từ biển Trắng qua eo đất Kanin tới vịnh Séc); biên bản tiếp nhận theo giai đoạn 2 các thí nghiệm được ký ngày 3 tháng 12 năm 1976; tháng 2 năm 1977, bằng mệnh lệnh đặc biệt của Nhà nước, tên lửa chống tàu có cánh đã được tiếp nhận vào Hải quân Liên Xô; 28 tháng 6 năm 1977 phân loại lại thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng; từ 12 tháng 4 đến 19 tháng 4 năm 1977 đã tham gia cuộc tập trận “Phía Bắc -77”; tháng 8 năm 1977 đã tiến hành thí nghiệm khả năng bố trí trên thành 36 khí tài bay đồng thời, các kết quả đã được sử dụng trên tàu thứ 2 trong lớp; từ 20 tháng 12 năm 1977 đến 4 tháng 4 năm 1978 làm nhiệm vụ trực chiến thứ hai ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, đã bơi 28 297 dặm; 4 tháng 8 năm 1978 đã tiếp nhận than gia cuộc tập trận của Hạm đội Phương Bắc dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Hải quân; 11 tháng 10 năm 1978 dã thực hiện việc bắn tên lửa sát hạch bằng tổ hợp tiến công chính trên biển Trắng; từ 16 tháng 1 đến 27 tháng 3 năm 1979 thực hiện nhiệm vụ trực chiến thứ 3, tham gia 6 chiến dịch tìm kiếm trong biên chế cụm tàu chiến trên Địa Trung Hải và Đại Tây Dương; tháng 3 năm 1979 ở Địa Trung Hải đã gặp tàu tuần dương chở máy bay “Minsk”, toàn thành cuộc hành quân tới Hạm đội Thái Bình Dương, lần đầu tien trong Hải quân Liên Xô, 2 cụm tàu sân bay đã thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên biển, hỗ trợ lẫn nhau, trong đó có tàu tiếp tế “Berezin” Đề án 1833, trong các cuộc diễn tập chống ngầm “Razbeg-79”, tàu hoạt động cùng tàu chống ngầm cỡ lớn “Nguyên soái Timoshenko”, “Thống chế Makarov”, tàu khu trục “Ognevoi” và “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Moskva”; 24 tháng 10 năm 1979 đã thực hiện nhiệm vụ vận tải nhiên liệu khi hành quân cùng tàu tiếp tế “Berezin”; cuối năm 1979 đã thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm tàu ngầm bởi nhóm chiến thuật trong biên chế 4 trực thăng KA-25PL ở tầm xa 100km; từ 30 tháng 12 năm 1979 đến 28 tháng 4 năm 1980 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu thứ 4 ở Địa Trung Hải; kết quả là năm 1980 đã được nhận danh hiệu tàu tốt nhất Hạm đội Phương Bắc về huấn luyện chống ngầm; từ 6 tháng 1 đến 15 tháng 3 năm 1981 đã thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, sau đó tham gia cuộc huấn luyện được chỉ định trong Hạm đội Biển Đen; từ 17 tháng 7 đến 18 tháng 9 năm 1981 – nhiệm vụ chiến đấu mới, trong thời gian cùng năm, đã tới Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Baltic (có ghé vào căn cứ Hải quân Baltic), trong giai đoạn tập trận “Phía Tây-81”, đã đóng vai trò tàu chỉ huy; năm 1981 – là tàu có số lần cất cánh của khí tài bay cất – hạ cánh thẳng nhiều nhất – 715; năm 1982 tham gia và các cuộc diễn tập tổng hợp của Hạm đội Phương Bắc với sự phối hợp cùng tàu tuần dương tên lửa nguyên tử “Kirov”, tàu chống ngầm loại lớn “Udloi” và tàu tuần tiễu “Zharki” trong các điều kiện thời tiết đêm vùng cực phức tạp; từ 27 tháng 7 đến 30 tháng 9 năm 1982 – nhiệm vụ trực chiến thứ 7 ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, tàu đã tham gia trong cuộc tập trận của các nước khối Hiệp ước Varsaw “Lá chắn-82” với việc ghé vào Baltic; từ 23 tháng 12 năm 1982 đến 1 tháng 11 năm 1984 đã trải qua trung tu ở xưởng đóng tàu biển Đen tại Nikolaev và nâng cấp từng phần; 14 tháng 3 năm 1995, lần tầu tiên từ thành tàu đã caanh cánh máy bay chạy đà ngắn Yak-38U; 20 tháng 3 năm 1985 thực hiện nhiệm vụ trực chiến thứ 8 ở Địa Trung Hải, cùng với cuộc hành quân tới phía Bắc từ 2 đến 6 tháng 6 năm 1985 cùng với tàu khu trục “Otchaiannưi” và tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” đã thực hiện việc ghé vào cảng Al-Dzharair (Algieri); 6 tháng 6 năm 1985 được tặng Cờ đỏ và huân chương Cờ đỏ; từ 10 đến 20 tháng 6 năm 1985 đã tham gia tập trận chống ngầm hỗn hợp của Hạm đội Phương Bắc “Atlantika-85”; từ 31 tháng 12 năm 1985 đến 21 tháng 5 năm 1986, nhiệm vụ chiến đấu thứ 9 ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải với việc ghé qua biển Đen; từ 5 tháng 1 đến 24 tháng 6 năm 1987 phối hợp với tàu khu trục “Bezuprechnưi” và tàu chống ngầm lớn “Phó Đô đốc Drozd”, tàu khu trục “Sovremennưi” ghé vào thành phố Spilt (Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Nam Tư), trong lần trực chiến cuối cùng đã có số lượng máy bay cất cánh kỷ lục – 757; trong toàn bộ thời kỳ phục vụ (1232 ngày di chuyển), tàu đã bơi 240 850 dặm biển, hoàn thành 4258 lần cất cánh bằng máy bay và 9154 – trực thăng; 23 tháng 6 năm 1987 phối hợp với tàu khu trục “Bezuprechnưi” quay trở lại biển Bắc; từ 15 tháng 9 đến 30 tháng 11 năm 1987 đã được đưa lên ụ PD-50 ở xưởng tại Rosliaki; 31 tháng 10 năm 1987 đưa tới thành xưởng “Sevmorput” ở Murmansk để sử chữa tăng cường hệ thống đạo hàng; 21 tháng 12 năm 1987 đưa vào lực lượng dự bị số 1; mùa hè năm 1990 nhận máy bay trên thành và ra khơi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, nhưng khi quay về căn cứ trong 5 năm buộc cạnh xưởng; tháng 8 năm 1991 đưa vào lực lượng dự bị loại 2; 26 tháng 7 năm 1992 thay cờ đỏ của Hải quân Liên Xô bằng cờ thánh Andrei; 30 tháng 6 năm 1993 bị loại khỏi biên chế chiến đấu; 28 tháng 8 năm 1993 hạ cờ, tàu tháo vũ khí và đưa đến cơ sở khác để tháo dỡ; giải tán 28 tháng 8 năm 1994, bán cho công ty tư nhân ở Trung Quốc 20 tháng 5 năm 2000, được tàu kéo “Deu” kéo tới Thượng Hải, ở đó trải qua sự trang bị lại thành trung tâm giải trí tham quan nổi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #369 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2012, 12:27:56 pm »

+ “Minsk” (số hiệu xưởng 102); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 28 tháng 3 năm 1972; khởi công 28 tháng 12 năm 1972 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198 như tàu tuần dương chống ngầm; hạ thủy 30 tháng 9 năm 1975; 28 tháng 6 năm 1977 phân loại lại thành tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng; từ tháng 10 năm 1977 đến 18 tháng 2 năm 1978 đã tiến hành các thí nghiệm neo đậu; 19 tháng 2 năm 1978 kéo cờ Hải quân Liên Xô; 21 tháng 2 năm 1978 đã tới Sevastopol để tiến hành các thí nghiệm cấp xưởng; 26 tháng 5 năm 1978 gần Sevastopol đã làm nhiệm vụ vận tải khi di chuyển với sự hỗ trợ của khí tàu “Struna-1V-2,5”, “Sturna-2V-400” và tổ hợp “Most” với tàu tiếp tế “Berezin” Đề án 1883; đến 25 tháng 8 năm 1978 đã trải qua các thí nghiệm cấp Nhà nước, trong đó có bắn tên lửa có cánh chống tàu, tổ hợp tên lửa phòng không điều khiển, tổ hợp tên lửa chống ngầm và pháo, máy bay cất – hạ cánh thẳng đứng Yak-38 đã thực hiện 120 lần bay, trực thăng Ka-25 – 41; 20 tháng 9 năm 1978 khôi phục lại các thí nghiệm; gia nhập biên chế 27 tháng 9 năm 1978; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 23 tháng 11 năm 1978; 26 tháng 10 năm 1978 khi cất cánh máy bay Yak-38 bị rơi xuống biển, phi công hy sinh; từ 24 tháng 2 đến 30 tháng 7 năm 1979 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên hạm đội từ Sevastopol tới Hạm đội Thái Bình Dương trong sự phối hợp tàu săn ngầm lớn “Tashken”, “Petropavlosk” và tàu tiếp liệu “Boris Chilikin”, ở Địa Trung Hải đã gặp tàu “Kiev” đang làm nhiệm vụ trực chiến, lần đầu tiên, hai tàu chở máy bay Liên Xô thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu trên biển, sau đó ở Đại Tây Dương cùng đội tàu tới Baltic với tàu đổ bộ lớn Đề án 1174 “Ivan Rogov”, bắt đầu cuộc hành quân quanh Châu Phi, thực hiện việc ghé vào Luanda (Angola), Maputa (Mozambic), Port-Lui (Mavriki) và Aden (Cộng hòa dân chủ nhân dân Yemen); bộ phận đáng kể máy bay trên boong Yak-38 lần đầu tiên được khai thác sử dụng trong điều kiện nhiệt đới, khi rời khỏi Luanda 2 tháng 4 năm 1979, một Yak-38 đã rơi xuống biển (phi công được cứu); tổng cộng trong thời gian hành quân tàu đã bơi 13 261 dặm, máy bay đã thực hiện 565 lần bay, trực thăng – 774 (trong đó có 80 giờ bay đêm); 27 tháng 12 năm 1979 đã làm nhiệm vụ chiến đấu; 8 tháng 9 năm 1980 ở biển Đông (Nam Trung Hoa), trong thời gian trực chiến, tàu đã bơi 13 261 dặm và ghé vào quân cảng Cam Ranh (Việt Nam); năm 1981-1982, ở “Dalzavod”, tàu đã có một số thay đổi trong thiết kế; tháng 8 năm 1982, đã tới khu mặt nước vịnh Pie Đại đế để tiến hành thí nghiệm đặc biệt cho các khí tài cất – hạ cánh đứng; từ 26 tháng 9 năm 1982 đến 15 tháng 2 năm 1983 đã mục vụ chiến đấu ở biển Đông (Nam Trung Hoa) và Ấn Độ Dương với việc ghé vào quân cảng Cam Ranh (Việt Nam), Bombay (Ấn Độ) và Aden (Nam Yemen), trong thời gian này, các máy bay đã hoàn thành 662 lần cất cánh từu boong, còn trực thăng – 516 lần (146 giờ bay đêm); theo kết quả năm 1982, đã trở thành tàu xuất sắc nhất hạm đội Thái Bình Dương; từ 27 tháng 3 đến 24 tháng 4 năm 1984 làm nhiệm vụ trực chiến ở biển Đông (Nam Trung Hoa), ghé vào Cam Ranh, máy bay cất – hạ cánh thẳng đã thực hiện 56 chuyến bay, trực thăng – 38 lần (5 giờ bay đêm); tháng 3-4 năm 1986, một lần nữa làm nhiệm vụ chiến đấu ở biển Đông và ghé vào Cam Ranh, ở đó cùng tàu chống ngầm lớn “Talin” đã tham gia cuộc tập trung trung Xô – Việt, trong thời gian tập trận, một Yak-38 bị rơi xuống biển (phi công hy sinh); từ 4 tháng 7 đến 8 tháng 7 năm 1986 cùng với tàu chống ngầm lớn “Talin”, “Đô đốc Spiridonov” và tàu tiếp tế “Argun” đã thăm cảng Vonsan (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên); năm 1986 được tặng giải thưởng của Tư lệnh Hải quân Liên Xô vì bắn tên lửa; tổng cộng trong thời gian này trong biên chế Hải quân Liên Xô, từ boong tàu đã thực hiện 2390 lần bay của Yak-38 và Yak-38M, đồng thời 3166 lần của trực thăng Ka-25 và Ka-27; năm 1991 bắt đầu chuẩn bị để đưa tới xưởng đóng tàu biển Đen cho việc trung tu (50% nồi hơi chính không hoạt động), nhưng do Liên Xô tan rã, việc sửa chữa không được thực hiện; 26 tháng 10 năm 1992 được đưa tới Razboinhik bằng các tàu kéo; 29 tháng 10 năm 1992 tới vị trí neo đậu ở vịnh Postovaia (Sovietskaia Gavan); 30 tháng 6 năm 1993 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 8 năm 1992 hạ cờ một cách trang trọng, sau đó giải tán; bị bán cho một công ty Hàn Quốc để tháo dỡ và 20 tháng 10 năm 1995 được đưa tới Pusan (Hàn Quốc); năm 1998 bán lại cho một công ty Trung Quốc và sau khi tiến hành các công việc cải tạo, từ 27 tháng 9 năm 2000 được sử dụng trong vài trò bảo tàng và trung tâm giải trí ở Thâm Quyến (khu vực Hồng Công).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM