Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:06:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330375 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #390 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2012, 05:17:45 pm »

Các biến thể


Sau khi đạt được thành công trong thỏa thuận với Ấn Độ về nâng cấp và bán tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov”, tàu được đưa tới Severodvinsk vào “Sevmashpredpriatie”, ở đó bắt đầu sửa chữa tàu, sau đó, trang bị lại thành tàu sân bay cho Hải quân Ấn Độ (có tên gọi “Vikramaditya”).

Đề án nâng cấp được giao cho Phòng thiết kế Nevski (Tổng công trình sư B.V.Shmelev). Theo các thông tin sơ bộ, dự tính trong số thành phần vũ khí trên tàu khi trước, chỉ giữ lại 4 cụm pháo tự động 30mm AK-630M hoặc thay thế chúng bằng 4 tổ hợp tên lửa phòng không “Kashtan” (phiên bản xuất khẩu của “Kortik”). Đồng thời nghiên cứu khả năng lắp một thiết bị phóng thuộc tổ hợp chống ngầm RPK-5 “Liven” và thiết bị phóng tổ hợp tiến công “Brahmos” (phiên bản “Yakhont” của Ấn Độ). Các phiên bản sau đó dự kiến từ số vũ khí, chỉ giữ lại 6 tổ hợp “Kashtan” do Nga sản xuất. Đồng thời dự kiến trang bị cho tàu trang bị ra đa định vị và đạo hàng mới. Trong bộ phận mũi boong cất cánh sẽ lắp máy tạo đà với góc nghiêng gần 12,5 độ, trang bị 2 bãi khởi động với các lá khí, bố trí trên một tuyến và các thiết bị giữ máy bay và rào chắn khẩn cấp. Khi dó, trên tàu có các tấm chắn khí, được lắp trước đỏ để bảo đảm sự cất hạn cánh của Yak-41, sẽ được giữ lại ở vị trí cũ. Đề án được dự kiến cải tạo lại hang ga để tăng cường trọng tải. Thang nâng máy bay ở mạn tàu sẽ được đẩy ra xa hơn về phía sau, tới tường ngăn của hang ga, cho phép nhận được khối lượng bổ sung và hợp lý hơn trong việc tổ chức sử dụng chúng. Để bù lại sự quá tải, xuất hiện ở thành bên trái để đơn giản hóa trong kết quả lắp vũ khí và hàng loạt các cấu trúc thượng tầng theo thành bên phải, lên kế hoạch thay đổi từng phần ngoại hình boong góc. Như trông đợi, kết quả là tàu sẽ được giới thiệu là tàu sân bay đa năng hạng nhẹ và sẽ trở thành tàu lớn và mạn nhất trong Hải quân Ấn Độ.

Sau khi nâng cấp, trên tàu dự kiến sẽ đóng cụm 30-34 máy bay trong 2 phiên bản: 21 máy bay tiêm kích (Ấn Độ sẽ mua Mig-29K) và 13 trực thăng (Ka-28 và Ka-31) hoặc 24 máy bay và 6 trực thăng chống ngầm, gồm có “Sea King”. Số lượng thủy thủy đoàn gồm 2042 người, trong đó 430 người trong phi hành đoàn. Theo như thông báo, việc trang bị thêm cho tàu sân bay “Vikramadita” bằng các hệ thống và trang bị do Ấn Độ sản xuất và sẽ được thực hiện ở xưởng của Ấn Độ ở thành phố Cochin.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2013, 11:56:37 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #391 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2012, 07:58:39 pm »

Chương trình đóng tàu


Tàu duy nhất thuộc Đề án 11434, nhận tên gọi lúc đầu là “Bacu”, được khởi công 26 tháng 12 năm 1978 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198, hạ thủy 31 tháng 3 năm 1982 (khi đó, đã được tiếp nhận đóng hạ thủy tàu mới), còn 11 tháng 12 năm 1987, đã ký biên bản tiếp nhận, và tàu được ghi tên vào danh sách tàu Hải quân. Trong việc chế tạo tàu, đã tiếp nhận khoảng 400 xí nghiệp từ các nước cộng hòa khác nhau thuộc Liên Xô cũ, trong những ngày nào đó, trên thành tàu đồng thời có khoảng 1500 công nhân, không tính đến các chuyên gia chỉ huy. Sự chậm chễ kéo dài trong việc lắp ghép các chi tiết đã dẫn tới nhiều thay đổi và kéo dài quá trình đóng tàu. Từ thời điểm khởi công trên âu, và đến khi bàn giao là khoảng thời gian không nhỏ: 8 năm, 11 tháng và 15 ngày.

Tình hình đến năm 2009

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Bacu”, sau đó được đổi tên thanh “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov”, phục vụ trong Hải quân trong vai trò chính của nó là ít hơn so với các tàu còn lại trong Đề án 1143.

Năm 1987, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng gia nhập biên chế Hải quân, sau đó đã hoàn thành cuộc hành quân tới biển Bắc. Ở đó, tàu tuần dương đã thực hiện cường độ lớn các nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, tham gia các cuộc tập trận, thực hiện bắn đạn. Mùa xuân năm 1991, trên tàu đã tiến hành thí nghiệm cất – hạ cánh thí nghiệm máy bay tiêm kích đa năng Yak-41M và 21 tháng 9 năm 1992, máy bay này lần đầu tiên đỗ trên boong tàu tuần dương chở máy bay. Tuy nhiên, mùng 5 tháng 10 năm 1992, đã có tai nạn: khi máy bay Yak-41M hạ cánh đã bị va đập vào boong và bốc cháy, sau đó, các thí nghiệm Yak-41 không được khôi phục lại.

Năm 1993, tàu tuần dương được đưa vào sửa chữa ở Murmansk, nhưng do không đủ tài chính lâu dài (mãn tính – sau sự tan ra của Liên Xô ở Nga bắt đầu khủng hoảng) và đám cháy xảy ra vào mùng 2 tháng 2 năm 1994 trong thời gian khá lâu gần tường, sau đó được đưa tới Rost (vịnh Kolski) và bảo quản lâu dài. Như vậy, tàu tuần dương hạng nặng ở trong biên chế tổng cộng 6 năm.

Sau đó có quyết định bán tàu chở máy bay hạng nặng Đề án 11434 cho nước ngoài với sự nâng cấp sơ bộ. Trong năm 1996 – 2003, đã tiến hành các cuộc đàm phán cường độ cao với Ấn Độ, còn 21 tháng 12 năm 1998, đã hoàn thành thỏa thuận sơ bộ về mua tàu. Trong tháng 7 năm 1999, tàu được đưa đến Severodvinsk và đưa vào bến thuộc “Sevmashpredpriatie” để sửa chữa vaftrang bị lại thành tàu sân bay cho Hải quân Ấn Độ. Người Ấn gọi tàu là “Vikramaditya”. Mặc dù ban đầu, theo kế hoạch nâng cấp đến năm 2008, nhưng thời gian bàn gian thường xuyên được thay đổi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #392 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 12:18:54 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Bacu”, từ 4 tháng 10 năm 1990 là “Đô đốc Hải quân Liên Xô Gorshkov” (số hiệu xưởng 104); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 17 tháng 2 năm 1978; khởi công 26 tháng 12 năm 1978 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; hạ thủy 31 tháng 3 năm 1982; từ 2 tháng 6 đến 1 tháng 12 năm 1986 – trải qua các thí nghiệm neo đậu; 9 tháng 1 năm 1987 đã bắt đầu các thí nghiệm vận động; tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay là đầu tiên đạt tốc độ hoàn toàn 30,5 hải lý; khi xử lý nạp đạn tự động cho thiết bị RBU-12 000, bom chìm phản lực đã bị rơi xuống ngược lại và rơi xuống hầm, đã phải diễn ra sự sửa lại khẩn cấp thiết kế khóa thiết bị tổ hợp “Udav”; sườn được kéo dài, lắp thiết bị làm bằng; 21 tháng 4 năm 1987, tàu được mang tới các thí nghiệm cấp Nhà nước; trong thời gian các thí nghiệm đã trải qua di chuyển ở khu mặt nước biển Đen 16 496 dặm biển, thực hiện 18 lần bắn tên lửa, 17 lần bắn pháo vào mục tiêu huấn luyện, tổ hợp tiến công chính được thí nghiệm phóng ném 4 mẫu mô hình ở tầm xa 80km theo mục tiêu nổi (2 lần phóng đơn và 1 lần phóng loạt 2 tên lửa với sự bắn trúng trực tiếp); vấn đề phức tạp lớn nhất với sự hoàn thiện tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”; 8 tháng 7 năm 1987, diễn ra lần khởi động đầu tiên từ boong của máy bay Yak-38M bằng khả năng cất cánh thẳng, đồng thời thực hiện các lần bay của trực thăng trên tàu; theo các kết quả thí nghiệm đã nhấn mạnh rằng, bề mặt che phủ hấp thụ ra đa định vị cho phép giảm khả năng phát hiện ra tàu hơn 2-3 lần; ở thời điểm hoàn thành các thí nghiệm, vẫn còn sót lại hàng loạt các hệ thống mới chưa được hoàn thành (đài ra đa định vị “Mars-Passat”, hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lecorub”, tổ hợp “Rezistor K-4), kết quả là tàu được tiếp nhận còn xa với khả năng chiến đấu mạnh nhất – những tổ hợp máy móc chưa hoàn thiện bị loại bỏ trong quá trình khai thác sử dụng; 11 tháng 12 năm 1987 ghi tên vào biên chế Hải quân; 20 tháng 12 năm 1987 kéo cờ Hải quân; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc 30 tháng 12 năm 1987; theo mệnh lệnh của Hạm đội Biển Đen từ 3 tháng 3 năm 1988, tàu bắt đầu thực hiện các chiến dịch chiến đấu; sau khi bàn giao nhiệm vụ trực chiến luân phiên ngày 23 tháng 3 năm 1988, ghi tên vào biên chế loạt tàu số 1, còn 27 tháng 4 năm 1988 – trong biên chế lực lượng sẵn sàng chiến đấu; cuối tháng 5, bắt đầu huấn luyện chiến đấu, trên thành tàu tiếp nhận các khí tài bay (12 Yak-38M, 16 Ka-27PL, 2 Ka-25PS, 2 Ka-25DTs – sau đó được thay bằng Ka-27PS); 7 tháng 6 năm 1988 đã bắt đầu hành quân tới Hạm đội Phương Bắc, cùng với cuộc hành quân trực chiến 6 tháng ở Địa Trung Hải; 10 tháng 6 năm 1988, trên thượng tầng tàu xuất hiện đám cháy không lớn (cháy trữ lượng sơn), nhưng được dập tắt thành công; trong thời gian trực chiến đã xử lý nhiệm vụ chống ngầm và thực hiện giám sát tàu sân bay “Aishenhow” và các tàu chiến khác của Mỹ và NATO (tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay nằm ở góc sẵn sàng 7 phút để thực hiện việc tấn công); theo nguyên nhân kỹ thuật, ngày 12 tháng 6, Yak-38U bị mất và 11 tháng 8 – Ka-27OL (cứu được phi công); hoàn thành việc ghé vào cảng Siry; 22-29 tháng 8 năm 1988 tới Latakia, 1 đến 21 tháng 11 năm 1988 – tới Tartus; 14 tháng 12 năm 1988 trong sự phối hợp với hàng loạt các tàu đã tới đất mũi Nordkap; 17 tháng 12 năm 1988 tàu đã tới bến đỗ tàu biển Bắc; nằm trong biên chế Hạm đội Phương Bắc tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu cường độ cao; 8 đến 23 tháng 8 năm 1989 đã được đánh giá “tôt” sau sự kiểm tra của cơ quan thanh tra Bộ Quốc phòng; trong năm 1989 đã bơi 13 267 dặm, ba lần thực hiện yểm trợ đổ bộ cho Hải quân đánh bộ, thực hiện 10 lần bắn pháo và 4 lần bắn tên lửa (trong đó có 2 tổ hợp chính), máy bay cất hạ cánh thẳng – 171 lần, trực thăng – 1142 lần từ boong; 1 tháng 10 năm 1990 gia nhập biên chế Sư đoàn tàu chống ngầm số 44; trong năm 1990 đã bơi 4243 dặm, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ đường không cho Hải quân đánh bộ, thực hiện 6 lần bắn pháo và 2 lần bắn tên lửa (trong đó có 1 từ tổ hợp chính), máy bay cất hạ cánh thẳng thực hiện 47 lần, trực thăng – 1211 lần; trong năm 1991, đã bơi qua 1375 dặm, thực hiện 4 lần bắn pháo, 1 lần bắn tên lửa , thực thăng trên tàu đã thực hiện 417 lần cất cánh; mùa thu năm 1991 đã thực hiện thí nghiệm bay máy bay phản lực đa năng Yak-41M; 21 tháng 9 năm 1992, Yak-41M lần đầu tiên hạ cánh trên boong; 5 tháng 10 năm 1992, khi hạ cánh, Yak-41 đã va chạm với boong, bắt đầu bốc cháy, máy bay bị cháy; trong các thí nghiệm tiếp theo, Yak-41M không được khôi phục lại; năm 1993 được đưa vào sửa chữa và bị kéo dài vì không có tài chính; 2 tháng 2 năm 1994 đã xuất hiện đám cháy rất lớn và kết quả là hỏng một trong số các buồng máy; tháng 7 năm 1995 đã ra khơi thự hiện cuộc duyệt binh Hải quân ở biển Bắc; sau đó cùng thông tin với sự rò rỉ, thời hạn bảo hành khai thác sử dụng an toàn các máy móc chính bị rút lại; việc ra khơi bị cấm, tàu đỗ ở Rost (vịnh Kolski) và bảo trì lâu dài; trong giai đoạn 1996-2003, chính phủ Nga đã thực hiện các cuộc đàm phán tích cực với Ấn Độ về khả năng bán tàu; 21 tháng 12 năm 1998, đã đạt được hợp đồng thỏa thuận cấp quốc gia về mua tàu của Ấn Độ; 24 tháng 1 năm 1999, tàu tới thăm Ấn Độ cùng phái đoàn quân sự; tháng 7 năm 1999 được đưa đến Severodvinsk và đưa vào xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc để tháo các vũ khí trên tàu, tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”, đồng thời sửa chữa và trang bị lại thành tàu sân bay truyền thống với sự làm dày boong cất cánh cho Hải quân Ấn Độ, tàu nhận tên gọi “Vikramaditya”; 30 tháng 11 năm 2005 được đưa vào bể chứa lỏng ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc để sửa chữa trên âu tàu; theo thông tin, việc trang bị lại của tàu sân bay sẽ hoàn thành năm 2008, sau đó là 2009, ngoài ra, việc trang bị tiếp các hệ thống và trang bị do Ấn Độ sản xuất sẽ được thực hiện ở xưởng đóng tàu ở thành phố Cochin (Ấn Độ).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #393 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 12:32:38 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 33 440

+ thường: 38 970

+ hoàn toàn: 44 490

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 273,08 (242,86)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 52,9 (31)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 11,52 (9,42)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVN 95/64 trong 4 cụm tuabin

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa 674, tổng công suất, sức ngựa (kW): 200 000 (147 000)

+ máy phát điện tuabin, công suất, kW: 6x1500

+ máy phát điện diezel, công suất, kW: 4x1500

4 trục, 4 bánh lái chân vịt 4 cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 32,5

+ tuần tra/tuần tra chiến đấu: 14,05/18,32

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 7590 (18); 4050 (gần 30)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn (sỹ quan)

+ thủy thủy đoàn thường trực: 1615 (383)

+ thủy thủ đoàn với bộ tham mưu: 1665 (423)

+ phi công: 430.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #394 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 12:41:26 pm »

Vũ khí

Không quân

+ máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-38/38-U/38-M (“Forger”), các trực thăng Ka-27/Ka-27PS (“Helix-A/S”): 36

+ máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41(M): dự kiến bố trí trên tàu

Vũ khí tiến công

+ thiết bị phóng SM-241 của tổ hợp tên lửa chống tàu “Bazalt-1143”: 6x2

+ tên lửa chống tàu 4K80 (P-500) “Bazalt” (SS-N-12 “Sandbox”): 12

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng thẳng 4S-95 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 24x8

+ tên lửa phòng không 9M330 (SA-N-9 “Gauntlet”): 192

Pháo

+ thiết bị pháo 100mm AK-100: 2x1

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630M: 8x6

Vũ khí chống ngầm/chống ngư lôi

+ thiết bị phóng bom phản lực RBU-12000 “Udav” (RKPTZ-1): 2x10

+ cơ số bom chìm phản lực: 120.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #395 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2012, 01:00:13 pm »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Lesorub-434”

Các đài ra đa vô tuyến

+1 x tổ hợp ra đa “Mars-Passat” – 4 ra đa mảng pha (Sky Watch)

+ 1 x MR-710M-1 “Fregat-M1” (Plate Steer)

+ 2 x MP-360 “Podkat”

Đài ra đa đạo hàng: 3x”Vaigach” (Palm Frond)

Đài thủy âm

+ Tổ hợp thủy âm “Polinom” (Horse Jaw và Horse Tail) ở bình cầu, các ăng ten dưới sống tàu và ăng ten lai

+ HEL-6 và NEL-10 các máy đo sâu bằng tín hiệu dội

Các khí tài (chống) tác chiến điện tử

+ “Kantana-M” (4 Wine Flask; 8 Foot Ball; 4 Bell Thump; 2 Cage Pot)

+ “Koltso” (4 Bell Nip) đài bắn nhiễu

+ 3 x R-678N, 6 x R-670M, 2 x R-721, 2 x SPS-2, đài cao tần R-710 và R-714 các máy thu tín hiệu trinh sát vô tuyến

+ R-740K bắn nhiễu vô tuyến cao tần

+ tổ hợp “Pogonia” và “Kasad-U”

+ các thiết bị bảo vệ thủy âm lai

Các tổ hợp bắn nhiễu: 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

Khí tài quang học: 3x”Rotan” – quan sát vô tuyến

Đài ra đa điều khiển hỏa lực

+ 1x”Argon-1143” (Trap Door) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Bazalt”

+ 2x”Korvet-1143” (Punch Bowl) chỉ thị mục tiêu vũ trụ

+ 4xZR95 (Cross Sword) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 1xMR-145 “Lev-215” (Kite Screech) cho pháo 100mm

+ 4xMR-123 “Vưmpel” (Bass Titl) cho pháo 30mm

Tổ hợp đạo hàng: “Salgir-V”

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+ “Rezistor K-4” (Cake Stand) điều khiển máy bay

+ 2x”Gazon” (Fly Trap B) dẫn bắn cho máy bay tiêm kích

+ “Tur-434” điều khiển máy bay chiến đấu

Các khí tài thông tin liên lạc

+ “Taifun”

+ “Kristall-BK” (2 Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa hội thoại nói: 2 Salt Pot A và B; Long Head.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2013, 11:34:48 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #396 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 12:16:45 pm »

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng lớp “Riga” – Đề án 11435 lớp Kuznetsov


Tổng số tàu đã đóng: 1, +1 theo Đề án 11436

Các biến thể

+ 11435 (“Kuznetsov”) – tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng – tàu sân bay đầu tiên của Liên Xô/Nga với các máy bay cất cánh ngang (1990)

+ 11436 (“Varyag”) – tàu thứ hai Đề án 11435 (thứ 6 thuộc dòng “Krechet”) với số những thay đổi (không được đóng xong).

Đáng chú ý, rằng sự thiết kế này ở Liên Xô tàu sân bay đầu tiên của Liên Xô với các máy bay có sơ đồ khí động học cổ điển được bắt đầu vào tháng 10 năm 1978 với sự chấm dứt các công việc trên “tàu tuần dương lớn với vũ khí không quân” (Đề án 1153, mã số “Orel”). Thực tế, việc này thậm chí đã diễn ra sớm hơn – tháng 11 năm 1977, khi mà theo các kết quả nghiên cứu của Bộ tư lệnh Hải quân các hướng cơ bản hoàn thành theo giai đoạn tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay các Đề án 11433, 11434 và 11435. Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski đã được giao nhiệm vụ thiết kế đề nghị kỹ thuật, còn các Viện nghiên cứu Hải quân và Không quân – nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trên tàu sân bay, trang bị máy phóng và máy là đường khí và cụm máy bay trong biên chế máy bay cất – hạ cánh thẳng, trực thăng, đồng thời các máy bay với sự cất và hạ cánh ngang.

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng tương lai được sử dụng để tăng cường khả năng chiến đấu cho các đơn vị trong Hải quân trong trên các khu vực đại dương tầm xa. Trên thực tế, việc này có nghĩa là yểm trợ từ trên không các khu vực triển khai và tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm tên lửa hạt nhân ngoài giới hạn tối đa của các máy bay tiêm kích đóng trên bờ, tiêu diệt các tàu nổi, ngầm, mục tiêu trên không, trước hết là các lực lượng và khí tài chống ngầm, đồng thời các công trình trên bộ của kẻ thù tiềm tàng…

Phòng thiết kế thí nghiệm Nevski đã thiết kế 5 phương án, gồm có 1 với thiết bị năng lượng nguyên tử. Đối với thiết kế sau được giới thiệu theo lượng choán nước tổi thiểu – với thiết bị năng lượng chính tuabin nồi hơi, một máy phóng bên phải và cụm máy bay từ 18 – 28 máy bay (18 máy bay tiêm kích trên boong Su-27K hoặc 28 Mig-29K hoặc 16 máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41 + 12 Mig-29K), đồng thời 14 trực thăng Ka-252. Theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng ngày 13 tháng 10 năm 1978, Bộ Quốc phòng (cụ thể là Hải quân) được giao trong quý IV đệ trình nhiệm vụ kỹ chiến thuật trong thiết kế tàu Đề án 11435 và các yêu cầu kỹ - chiến thuật trong chế tạo các máy bay đóng trên tàu với sự khởi động bằng máy phóng. Còn cho Bộ Công nghiệp đóng tàu thiết kế trong năm 1979-1980 các đề án sơ bộ và kỹ thuật của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay. Các kích thước và lượng choán nước chính của tàu được giới hạn bằng các điều kiện đóng tàu trên âu tàu lớn nhất của đất nước – số “0” thuộc xưởng đóng tàu biển Đen và đưa vào ụ Bắc ở xưởng tàu Sevastopol. Tổng công trình sư của Đề án 11435 là O.P.Efimov (mùa hè năm 1979 được thay bằng A.B.Morin, tháng 12 năm 1979 – V.F.Anikiev, năm 1986 – P.A.Sokolov, năm 1989 – L.V.Belov).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #397 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 01:08:47 pm »


Quá trình thiết kế “số 5” (như các nhà đóng tàu thường gọi Đề án 11435 – tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay thứ 5 trong dòng 1143) bị phức tạp hóa như bên cạnh những thay đổi được dự đoán trước và yêu cầu về tàu của Tư lệnh Hải quân, cũng như áp lực thường xuyên từ phía Bộ trưởng Quốc phòng D.F.Ustinov. Sự thiếu trong quan điểm chỉ đạo thống nhất về hình dáng tàu tương lai, đồng thời sự can thiệp thường xuyên trong quá trình thiết kế, không phải là hình dạng tốt nhất và thời hạn công việc. Như vào cuố tháng 7 năm 1979, Bộ Tư lệnh Hải quân đã yêu cầu Phòng thiết kế Nevski tăng cường thành phần khí tài hỏa lực phòng không của tàu và tăng độ an toàn trong việc hạ cánh của các máy bay trên đường băng; tháng 11, đề án đã được tán thành cho việc giới thiệu nó tới sự phê duyệt đồng thời của Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tàu được đề xuất thiết kế các phương án thành phần vũ khí máy bay với sự tăng cường cụm máy bay lên 52. Việc này, đương nhiên, kéo theo sự tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên 65 000 tấn, đi ngược lại phát biểu của Tham mưu trưởng Hải quân – Đô đốc N.N.Amelko – người phản biện chính đối với S.G.Gorshkov trong Bộ Tổng tham mưu theo các câu hỏi về sự phát triển tương lai của Hải quân và địch trong việc chế tạo các tàu chở máy bay. Kết quả của việc được ký và đầu năm 1980 bởi Bộ trưởng Quốc phòng cho tập thể, được tổ chức bởi Bộ Tổng tham mưu, đã đề xuất rút lượng choán nước xuống 10 000 tấn, trong đó có kết quả không sử dụng các máy phóng và điều chỉnh lại biên chế cụm máy bay trên tàu tuần dương chở máy bay “trên cơ sở” các máy bay cất hạ cánh thẳng đứng. Lần đầu tiên để đảm bảo sự cất cánh của các máy bay theo sơ đồ khí động học truyền thống thay cho các máy phóng dự định tiếp nhận máy tạo đà. Sau đó, mệnh lệnh tiếp về đảm bảo khởi động các máy bay Yak-41 đang được thiết kế bằng khả năng cất cánh với sự chạy đà ngắn (các máy bay này bị ràng buộc bởi tuyên bố của lãnh đạo Phòng thiết kế mang tên A.S.Yakovlev, được tuyên bố vào năm 1980 thông báo cho Bộ trưởng Quốc phòng về chế tạo máy bay cất hạ cánh thẳng, có vẻ như vượt trội toàn bộ các máy bay tiêm kích hiện tại và tương lai của nước ngoài). Sự đồng thuận bởi Ustinov về đánh giá lại vai trò và hiệu quả của máy bay cất hạ cánh thẳng trong hệ thống phòng không của đơn vị tàu và khu vực tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm tên lửa, đồng thời khả năng ngành công nghiệp hàng không Liên Xô chế tạo các máy bay siêu âm trên tàu cất và hạ cánh thẳng với các thông số kỹ thuật – bay cao, gây ra phí tổn cho đất nước và dẫn tới việc trì hoãn chế tạo tàu chở máy bay đúng nghĩa. Ảnh hưởng đến các thời hạn và các việc khác, trước hết là sự mong đợi của N.N.Amelko bao gồm kế hoạch đóng cho Hải quân 2 tàu trở trực thăng chống ngầm Đề án 10200 (mã số “Khalzan”), được chế tạo trên cơ sở dòng tàu tuabin khí cao tốc (lớp “Thuyền trưởng Smirnov”) trong việc phải lựa chọn các tàu rẻ đóng đặc biệt. Tàu 31 000 tấn đầu tiên “Khalzan” dự kiến khởi công trên ụ “0” thuộc xưởng đóng tàu biển Đen và sau tàu thứ tư thay cho tàu thứ 5 theoo tính toán của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay, làm hoãn vô thời hạn việc khởi công tàu sân bay mới. Trong cuộc đấu tranh trên ụ “ủng hộ tàu sân bay” mà phần cốt lõi mạnh nhất là tàu chống ngầm cỡ lớn (người ủng hộ chính – S.G.Gorshkov) đã đơn giản “gạt bỏ” đề án “cạnh tranh”, đã bắt đầu tổ chức có định hướng (phổ biến các yêu cầu của Hải quân trong khối lượng lớn), sau đó, “trên cơ sở luật” đã dấn tới: Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu không phê duyệt đóng các tàu Đề án 10200.

Bằng kết quả này, thời hạn đóng tàu bị kéo dài thêm 2 năm trong việc thiết kế tàu tuần dương chở máy bay thứ 5, còn việc đóng tàu được phê duyệt trong tháng 3 năm 1980 bằng kế hoạch đóng tàu quân sự trong năm 1980 – 1990 bị hoãn lại đến cuối kế hoạch năm năm lần thứ 12. Để tránh sự trì hoãn về kỹ thuật sau khi hạ thủy tàu Đề án 11434 “Bacu” trong việc đống các tàu chở máy bay ở xưởng đóng tàu biển Đen (hơn là được tận dụng để thông qua việc đóng tàu “Khalzan” trong Bộ Tổng tham mưu), Tư lệnh Hải quân và bộ trưởng Bộ công nghiệp đóng tàu ngay lập tức đã ra lệnh khởi công tàu thứ 2 thuộc Đề án 11434, mà D.F.Ustinov đã đồng ý. Cuối năm 1980, theo mệnh lệnh cho kế hoạch Quốc gia gồm có kế hoạch xây dựng kỹ thuật quân sự cho việc đóng tàu tuần dương chở máy bay thứ 2 theo Đề án 11434 (mặc dù với sự dự báo trước khả năng cần thiết hoàn thiện, trước hết là các kích thước chính). Ngày 15 tháng 12, Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu đã ký thỏa thuận tương ứng và xưởng đã bắt đầu xử lý đợt kim loại cho các khối thân tàu (mặc dù tổng cộng chỉ sau nửa năm chúng sẽ trở thành phế liệu, nhưng điều chính yếu đạt được – tổ hợp ụ tàu lớn nhất được giữ lại cho tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay thứ 5).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #398 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 01:10:55 pm »

Hình vẽ tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 11435



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #399 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 01:12:27 pm »

Bản vẽ kỹ thuật Đề án 11435:





Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM