Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:37:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329725 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #400 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 01:25:41 pm »


Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng Đề án 11435

1.Khoang khí tài mỏ neo

2.Thùng xích

3.Khối thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Granit”

4.Trạm chỉ huy trung tâm

5.Trung tâm thông tin chiến đấu

6.Trạm chỉ huy cụm máy bay

7.Hang ga

8.Trạm chỉ huy chính

9.Buồng sỹ quan

10.Các ăng ten mảng pha tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”

11.Các ăng ten của đài ra đa định vị “Podkat”

12.Các ăng ten hệ thống “Kristall”

13.Ăng ten hệ thống điều khiển máy bay “Rezistor-K4”

14.Các ăng ten đài ra đa định vị “Fregat-MA”

15.Hầm đường ống khói

16.Trạm chỉ huy dự bị

17.Các trạm kiểm soát thiết bị năng lượng chính

18.Máy chân vịt (bánh lái)

19.Khoang năng lượng số 5

20.Các thùng nhiên liệu máy bay

21.Các khoang máy lạnh

22,28.Buồng nồi hơi – máy

23.Trạm năng lượng và nổi dự bị

24.Khoang năng lượng số 4

25.Các khoang đạn máy bay

26.Khoang năng lượng số 3

27.Trạm năng lượng và nổi

29.Khoang năng lượng số 2

30.Khoang năng lượng số 1

31.Ăng ten tổ hợp thủy âm “Polinom”.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2013, 11:57:52 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #401 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2012, 01:32:22 pm »


Tàu tuần dương hạng nặng mang máy bay Tbilisi

1.Các modul chiến đấu của tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

2.Thiết bị phóng hệ thống bắn nhiễu thụ động PK-2

3.Cần cẩu vận tải

4.Thang nâng máy bay

5.Buồng lái

6.Trạm ăng ten đài ra đa điều khiển hỏa lực của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

7.Lưới ăng ten mảng pha của đài ra đa “Mars-Passat”

8.Trạm ăng ten của tổ hợp “Korral-BN”

9.Trạm ăng ten của đài ra đa “Podkat”

10.Trạm ăng ten tổ hợp “Kristall-BK”

11.Lưới ăng ten mảng pha của đài ra đa trong hệ thống “Rezistor-K4”

12.Trạm ăng ten của đài ra đa “Fregat-MA”

13.Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1200 thuộc tổ hợp “Udav-1”

14.Thiết bị pháo 30mm AK-630M

15.Các khí tài tiếp nhận hang hóa dạng chất lỏng và khii trong quá trình hoạt động của hệ thong “Struna”

16.Mũ chụp ăng ten mũi tổ hợp thủy âm “Polinom”

17.Thiết bị phóng đứng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

18.Đường lăn bánh

19.Bãi đáp cất – hạ cánh

20. Các lá chắn phụt khí

21.Đài hệ thống hạ cánh quang học “Luna-3”

22.Thiết bị phóng tổ hợp tên lửa chống tàu “Granit”.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Sáu, 2013, 11:58:43 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #402 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2012, 02:02:08 pm »


Khi thời gian thiết kế Đề án “thứ 5” còn thời gian dài mới hoàn thành. Tháng 4 năm 1980, Bộ Tư lệnh Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật để thiết kế các mệnh lệnh mang tính chất chỉ đạo của Bộ Quốc phòng về giảm lượng choán nước và điều chỉnh cụm máy bay trên tàu tuần dương trên cơ sở các máy bay cất hạ cánh thẳng (46-62 máy bay, mà chủ lực là Yak-41 và/hoặc các máy mới có khối lượng 30 tấn) với khả năng khởi động bằng máy đà. Những hy vọng lớn, mà đứng đầu là Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng trên Yak-41, được giải thích, trước hết là máy bay tương lai sẽ là máy bay đa năng cất cánh ngắn và hạ cánh thẳng với các tính năng kỹ thuật bay cao và tải trọng hữu ích (tải trọng lớn). Sự thật, tất cả đề là lý thuyết – trên thực tế, các máy bay với máy đà khi đó còn chưa được bay. Năng lượng của tàu được thiết kế trong hai phương án – tuabin nồi hơi và nguyên tử (trên cơ sở xử lý thiết bị năng lượng chính Đề án 1143 và 1144). Khối lượng lượng choán nước hoàn toàn được hạn chế ở 55 000 tấn. Trong cùng tháng, sau khi giới thiệu đề án cho sự phê duyệt của Bộ Tư lệnh Hải quân, đã “giảm”: số lượng khí tài bay giảm còn 46, trong thời gian đó cũng như trực thăng trinh sát ra đa định vị thay bằng trực thăng trinh sát ra đa cất hạ cánh thẳng đứng (? – máy bay trinh sát?), giảm khối lượng bảo vệ thiết kế và trữ lượng nhiên liệu máy bay. Khi đó, một máy phóng được giữ lại như khí tài dự bị đảm bảo bay của các máy bay Su-27K.

Sự thiết kế đề án phác thảo hoàn thành 23 tháng 7 năm 1980 (tổng cộng 10 phương án theo các kiểu và thành phần khí tài bay). Nhưng do không thể “viết” các yêu cầu mới trong sự hạn chế trước đó, phương án hiệu chỉnh đã không được phê duyệt. Sự hiệu chỉnh Đề án 11434 cho tàu thứ 2 (sau “Bacu”) được bắt đầu năm 1981 sau đề xuất của D.F.Ustinov cho Bộ Công nghiệp đóng tàu, Hải quân và Không quân về tiến hành trên tổ hợp thí nghiệm trên bộ các phiên bản theo cất cánh ngắn của các máy bay Su-27 và Mig-29 từ máy đà. Số lượng cụm khí tài bay bị hạn chế còn 40. Máy bay cơ sở được giữ lại trong thiết kế là Yak-41M (Yak-141). Đồng thời trên tàu dự định đóng các máy bay Su-27K và Mig-29K cùng trực thăng Ka-27. Theo hàng loạt các nguyên nhân, một lần nữa lại quay trở lại ý kiến sử dụng các trực thăng trinh sát ra đa định vị thay cho máy bay có nhiệm vụ tương tự theo như kế hoạch.

Để đảm bảo việc cất cánh dự định sử dụng máy đá với hai trận địa (bãi) khởi động: gần (cho máy máy với tải trọng vũ khí hạng nặng lớn) và xa (đối với sự rút ngắn chạy đà đã nghiên cứu thậm chí khả năng sử dụng máy gia tốc khởi động nhiên liệu rắn).

Để bố trí máy đà đã giải phóng boong ở bộ phận mũi, trạm ăng ten “Argon” và thiết bị phóng của tổ hợp “Udav-1” được mang (dịch chuyển) tới một cách tương ứng cho thượng tầng và mạn tàu, còn thiết bị phóng tổ hợp “Bazalt” – tới thành bên phải (Đề án 114342). Trong thượng tầng còn lại giữ theo Đề án 11434. Thiết bị phóng của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal” được bố trí theo thành về phía trước thượng tầng và trong bộ phận mạn của boong bay. Thay cho vũ khí pháo, có kế hoạch lắp 8 modul hỏa lực “Kotik”. Để bố trí hợp lý hơn các khí tài bay ở hang ga, thang nâng máy bay mạn tàu được di chuyển tới tường ngăn mạn tàu. Tàu được trang bị 4 máy là phẳng dây cáp và barie khẩn cấp. Trong dạng sau cùng, thiết kế được phê duyệt trong năm 1982, nhưng việc thực hiện này trên Đề án 1143 là không thể.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Ba, 2012, 01:29:57 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #403 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 06:08:07 pm »


Cùng thời gian vào tháng 9 năm 1981, Bộ trưởng Quốc phòng Ustinov đã quyết định tăng lượng choán nước lên 10 000 tấn. Sau đó, Hải quân đã đề xuất cho Bộ công nghiệp đóng tàu trong quá trình thiết kế đề án kỹ thuật rút gọn (Đề án 114342) tăng số lượng khí tài bay lên 50, thay tổ hợp “Bazalt”, tiếp nhận tổ hợp “Granit” hiện đại hơn với sự bố trí các thiết bị phóng dưới boong, tăng sự bảo vệ các thiết kế, đồng thời từ bỏ các máy phóng, và tương ứng với đó, thay đổi hàng loạt các thông số khác. Cụm máy bay cơ sở trên tàu được giữ lại mà máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41, đồng thời Mig-29K, Su-27K, Yak-44 RLD (với sự duy trì bố trí thứ tự trên boong trên) và các trực thăng. Đối với việc cất cánh của chúng, dự định sử dụng bàn đà với 2 đường băng cất cánh. Sự thật, khi không có máy phóng, việc nằm trong thành phần cụm khí tài bay các máy bay Su-27K và Mig-29K có thể bị đặt dấu chấm hỏi (?). Để các máy bay này được duy trì trên tàu, lãnh đạo các Phòng thiết kế thí nghiệm mang tên P.O. Sukhoi và I.I Mikoyan dưới sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu khoa họ trung ương, viện nghiên cứu khoa học thuộc Hải quân Liên Xô đã tuyên bố một cách kiên quyết rằng, sự khởi động của các máy bay này bằng máy đá sẽ được đảm bảo.

Về bản chất, giải pháp tiếp nhận máy đà cho sự cất cánh của các máy bay có sơ đồ khí động học cổ điển với sức kéo lớn là đủ đảm bảo về tính chất sử dụng cơ bản cũng như đa năng - ở phương Tây, máy đà chỉ sử dụng cho việc cất cánh của máy bay cất hạ cánh thẳng. Khi đó, những ưu thế rõ ràng của máy phóng với quan điểm đảm bảo tính độc lập cao trong các điều kiện thuận lợi và nhịp độ (tốc độ) khởi động của máy máy bay nhiệm vụ đặc biệt không được xem xét đến. Hơn nữa, theo tính toán, máy đà được cho là hiệu quả hơn (chính yếu – rẻ hơn) so với máy phóng, Bộ Tổng tham mưu đã ra mệnh lệnh dừng toàn bộ các công việc chế tạo nó (máy phóng). Nguyên nhân chính của quyết định rất đáng tranh cãi này bao gồm trong đó, rằng Bộ Tổng tham mưu không yêu cầu tàu sân bay cổ điển – đối với việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong yểm trợ (che phủ) các khu vực triển khai tàu ngầm tên lửa ở biển Bắc hoàn toàn có thể sử dụng tàu với thiết bị tuabin nồi hơi tuyền thống và các máy bay khởi động bằng máy đà. Vì thế, hàng loạt các thiết kế với máy phóng, được bắt đầu trong năm 1972, các hoạt động về chế tạo máy phóng cho máy bay đã bị đạp đổ.

Để tăng khả năng nổi, các tính không chìm và đảm bảo phòng chống cháy nổ trên tàu đã áp dụng hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm (PKZ) mới khỏi vụ nổ của ngư lôi. Trong năm 1978-1982, các tổ hợp nghiên cứu lớn đã được tiến hành cùng các thí nghiệm ngoài trời. Như là, ngoài 72 model (mẫu) kích thước khác nhau, đối với các thí nghiệm hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm mang theo, trong xưởng đóng tàu biển Đen đã chế tạo 2 khoang 19 mét ngoài trời có khối lượng mỗi khoang gần 450 tấn. Sau đó, đúng được hàn vào thành tàu vẫn tải được sao chép lại lớp “Kazbek” và thí nghiệm nổ. Theo kết quả các thí nghiệm đối với Đề án 11435, đã tiếp nhận hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm với các tường ngăn bảo vệ cơ bản dạng túi (nhiều lớp), chế tạo từ thép có độ cứng cao AK-25 thay đổi theo chiều cao và chiều dầy.

Để giảm thời gian khi hiệu chỉnh Đề án 114342 ở Phòng thiết kế Nevski đã sử dụng các trữ lượng sẵn có lớn theo Đề án 11435, do chúng phù hợp hơn cho các yêu cầu mới của Hải quân, hơn toàn bộ các phiên bản Đề án 114342. Tháng 3 năm 1982, sự hiệu chỉnh đã được hoàn thành và được sự phê chuẩn của Bộ Công nghiệp đóng tàu và Hải quân. Trong hình dáng cuối cùng của thiết kế, được phê chuẩn bởi mệnh lệnh của Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô mùng 7 tháng 5 cùng năm, mang tên gọi 11435.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #404 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2012, 07:01:18 pm »


Việc đóng trên tàu các máy bay có sơ đồ khí động học cổ điển đã kéo theo nó phải giải quyết hàng loạt các vấn đề mới một cách có nguyên tắc, liên quan với sự bảo đảm cất cánh và hãm khi hạ cánh trong các điều kiện boong bay có kích thước hạn chế. Đối với việc tiến hành loạt các thí nghiệm tốn kém và phức tạp, đồng thời huấn luyện phi công, không quân trên tàu đã chế tạo tổ hợp hàng không huấn luyện – thí nghiệm trên bộ - NITKA. Đề án được thiết kế bởi Phòng thiết kế Nevski và năm 1977 đã bắt đầu quá trình xây dựng nó trên sân bay của Không quân Hải quân tại Novo-Fedorovka tỉnh Sakski (Krưm). Công trình liên quan đến một số bí mật quan trọng, quá trình công việc trên đó được kiểm soát bởi riêng Bộ Tư lệnh Hải quân.

Trước khi bắt đầu các thí nghiệm với máy bay, các xí nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp đóng tàu đã tiến hành trên tổ hợp hàng không huấn luyện – thí nghiệm trên bộ loạt lớn các thí nghiệm khí tài mới với sự tiếp nhận mô hình không người lái mô phỏng – đồng thời thí nghiệm máy phóng (thiết bị lấy đà), móc hãm, máy lăn đường băng S-2 (“Svetlana-2”) và rào chắn khẩn cấp S-23N (“Nadezhda”). Còn ngày 24 tháng 7 năm 1982, đã thực hiện lần chạy đà đầu tiên với sự hãm trên máy lăn đường băng của nguyên mẫy Su-27 (máy bay thí nghiệm T-10-3).

Việc thiết kế các máy bay trên boong cất cánh bằng máy đà được thực hiện theo mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 7 tháng 5 năm 1982 và 18 tháng 4 năm 1984.

Việc chế tạo máy bay tiêm kích đóng trên tàu Su-27K (T-10K) được giao cho Phòng thiết kế mang tên P.O.Sukhoi (Tổng công trình sư M.P.Simonov, công trình sư chính K.Kh.Marbashev). Đã có một số nguyên mẫu với sự sử dụng cánh và bộ phận cân bằng, với sự xuất hiện và thiết cánh ngang trước.

Cấu trúc của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng mới Đề án 11435 là “chở máy bay” – với boong bay tổng diện tích 14 800 mét vuông (m2), máy đà với góc dốc 14,3 độ ở bộ phận mũi, 2 tháng nâng máy bay mang theo 40 tấn theo thành bên phải tới mũi và mạn tàu từ thượng tầng tầng thứ 13 (chiều cao so với boong là 32 mét). Sự xuất hiện sườn và bố trí thượng tầng bên phải cho phép tăng chiều rộng boong bay lên 67 mét. Khu vực hạ cánh của boong bay (205x26 mét), gồm có sườn thành bên trái, bố trí dưới góc 7 độ. Toàn bộ bề mặt boong bay và máy đà có màn phủ chống nóng (đến 450 độ C) “Omega” và 3 bãi cất hạ cánh (10x10 mét) được sử dụng cho các máy bay Yak-41, được lắp các tấm chịu nhiệt (đến 750 độ C) AK-9FM.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #405 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 01:28:50 pm »

Toàn bộ thân hàn có chiều cao 7 boong và 2 nền. Đáy đôi đặc kéo dài toàn bộ chiều dài tàu. Vật liệu cấu trúc chính thân tàu, các tường ngăn không lọt nước, boong và nền, sườn và thượng tầng dạng quần đảo – thép; để chế tạo các khoang hai tầng và tương ngăn sử dụng thép và hợp kim nhôm – magie.

Hang ga – dạng đóng với tổng diện tích 3980 m2 (153x26x7,2) chiếm 50% chiều dài và 70% chiều rộng – phục vụ việc bảo vệ và bảo dưỡng kỹ thuật cho 70% các khí tài bay thường trực. Trong đó các máy kéo dã chiến, các máy phụt khí và chữa cháy, đòng thời tổ hợp các khí tàu đã năng tiếp nhận cho việc bảo dưỡng các khí tài bay trên boong. Việc vận tải và bố trí các máy bay được tính toán theo đầu mút của cánh, còn trực thăng – với cách cánh quạt truyền động. Hang ga được trang bị hệ thống vận tải dây xích bán tự động cho các khí tài bay, cho phép loại bỏ việc sử dụng các xe kéo và loại trừ sự hóa khí (bốc hơi) khí thải của các buồng trong. Các máy kéo chỉ yêu cầu cho các thao tác với khí tài bay trên boong bay, khi kéo chúng từ hang ga tới nền của thang nâng và ngược lại. Trong nhiệm vụ chống cháy, hang ga được chia thành 4 khoang bởi các đèn báo cháy với hệ thống truyền động điện.

Hệ thống bảo vệ thiết kế nổi (NKZ) được thiết ké theo nguyên tắc màn chắn bởi các tường ngăn bảo vệ nội bộ phục vụ cho kết cấu composite (dạng thép – chất dẻo thủy tinh – thép). Vật liệu cơ bản của hệ thống bảo vệ thiết kế nổi – thép có độ cứng cao với giới hạn chịu lực 60kg lực/mm2. Để bảo vệ các thùng nhiên liệu và kho đạn máy bay tiếp nhận sự bọc thép dạng hộp cục bộ. Lần đầu tiên trong thực tế ngành đóng tàu chở máy bay của Liên Xô, để tăng cường sức khai thác sử dụng và chiến đấu của tàu đã sử dụng hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm, làm tăng đáng kể các tính không chìm và chống cháy nổ. Kết quả của nhiều công việc nghiên cứu khoa học và thí nghiệm ngoài trời, độ sâu mang theo của hệ thống bảo vệ thiết kế ngầm tiếp nhận trong các giới hạn 4,5-5 mét. Trong số 3 tường ngăn dọc, tường thứ 2 được thiết kế bọc thép (trên tàu đầu tiên, nó là dạng túi, nhiều lớp, còn trên tàu thứ 2 – nguyên khối).

Tính nổi của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng được đảm bảo khi bị chìm 5 khoang liền nhau với tổng chiều dài 20% thân tàu. Khi đó, thành nổi tới boong của hang ga phải được giữ trên mặt nước ở độ cao 1,8 mét, nhờ đó, ngăn chặn dược nguy hiểm gây đắm hang ga.

Theo kết quả xử lý các thao tác cất cánh trên tổ hợp hàng không huấn luyện – thí nghiệm trên bộ, đã có một số thay đổi trong hình dạng mép trên của máy đà – được thiết kế nổi hơn. Thế nhưng đã phát hiện ra, rằng sự xuất hiện của các sườn nhỏ sẽ tác động mạnh tới luồng không khí trên boong, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện các thao tác cất – hạ cánh. Vì thế, năm 1989, trên mép mũi của boong góc và máy đã đã lắp các nắp chụp định hình tạo đường viền.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #406 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2012, 02:08:26 pm »

Gần bệ máy đà, theo 2 hàng bố trí 12 thiết bị phóng dưới boong của tổ hợp tên lửa tiến công “Granit-NK” (SS-N-19 Shipwreck), được đóng bằng các nắp bọc thép ngang với boong bay. Bên trái và phải chúng, giáp với điểm trên của máy đà, tạo thành hai đường cất cánh bắt đầu từ bãi khởi động gần số 1 và 2 (chiều dài lấy đà 90 mét)với các khí tài kỹ thuật hàng không tương ứng.

Sau đó tới phía mạn tàu và gần với thành bên trái (chiều dài lấy đà 180 mét) bố trí bãi khởi động số 3. Nó được sử dụng để cất và hạ cánh cho các máy bay Yak-41 với khả năng cất hạ cánh dọc theo trục boong góc. Để bảo vệ sự khởi động sơ bộ của khí tài bay và nhân viên phục vụ khỏi khí thải khi máy bay tiêm kích khởi động sử dụng lá chắn chặn khí (chụp ống khói kiểu quay) với sự làm mát bắt buộc (cưỡng bức) bằng nước.

Để đảm bảo sự hạ cánh của các máy bay phản lực tốc độ cao trên boong sử dụng máy là phẳng đường băng “Svetlana-2” – 4 thanh ngang căng bằng dây cáp boong, bố trí các nhau ở cự ly 12 và kết nối qua các khối với 4 máy hãm thủy lực, được sử dụng để triệu tiêu động năng. Trong vị trí hoạt động, các cuộn dây cáp được nâng lên boong tới chiều cao cho phép để kẹp móc hãm cho máy bay đỗ, đảm bảo sự dừng hoàn toàn sau 90 mét chạy đà với sự quá tải dọc không quá 4,5g. Bốn cuộn dây cáp từ mạn tàu được kết hợp với rào chắn khẩn cấp “Nadezhda”. Việc đưa lúc đầu máy bay tới khu vực đỗ trên tàu được thực hiện bằng hệ thống vô tuyến dẫn đường tầm gần, hình thành quỹ đạo bay với sự đảm bảo đường vào của nó tới khu vực hoạt động của hệ thống hạ cánh quang điện (OSP) “Luna-3”. Hệ thống hạ cánh quang điện được giới thiệu là hệ thống đèn đặc biệt với góc mở tia rất nhỏ. Khi rời khỏi đường băng là hạ cánh, phi công đã xác định được vị trí của máy bay theo ánh sáng quan sát bằng khối lửa thẳng của hệ thống hạ cánh quang điện.

Vũ khí phòng không của tàu được giới thiệu là 4 modul tổ hợp tên lửa phòng “Kinzhal” (192 tên lửa trong thiết bị phóng đứng) và 8 modul tổ hợp pháo – tên lửa “Kortik” (tổng cơ số đạn 256 tên lửa và 48 000 đạn 30mm), bố trí trên các sườn theo thành tàu. Việc này đảm bảo khả năng bắn vòng các mục tiêu trên không.

Vũ khí pháo gồm có 3 cụm pháo 6 nòng bắn nhanh AK-630M (tổng cơ số đạn 48 000 đạn). Ban đầu, đã có kế hoạch bố trí thêm một cụm hệ thống pháo tự động dưới mép mũi của máy đà cất cánh cho việc dẫn bắn hỏa lực trên các góc vòng mũi, còn dưới các thiết bị của chúng thậm chí đã khoét 2 lỗ châu mai. Nhưng sau khi thay đổi trong quá trình đóng tàu tuần dương hạng nặng ngoại hình của mép mũi máy đà và bổ sung cho nó nắp chụp, các kích thước của lỗ châu mai không đảm bảo phạm vi bắn của pháo tự động và chúng bị loại bỏ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #407 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 11:45:34 am »

Để bảo vệ tàu khỏi ngư lôi, ở mạn tàu từ mỗi thành lắp 1 thiết bị 10 nòng “Udav-1” (RBU-12000) được thiết kế đặc biệt nhằm mục tiêu thay thế các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 truyền thống của Hải quân Liên Xô.

Vũ khí thuộc Không quân Hải quân (theo đề án) gồm có 50 thiết bị bay, trong đó có 26 máy bay tiêm kích trên boong (Su-27K hoặc Mig-29K), 4 trực thăng Ka-225RLD (Ka-31), 18 Ka-27 hoặc Ka-29 và 2 Ka-27PS. Biên chế cụm máy bay đã được lên kế hoạch tổ chức trong sự phối hợp của các máy bay tiêm kích đánh chặn hạng nặng và các máy bay tiêm kích – cường kích hạng nhẹ, đồng thời các trực thăng cho các nhiệm vụ khác nhau (bắt đầu từ tàu thứ 2 trong lớp, dự kiến đồng thời đảm bảo việc đóng các máy bay tuần tra – trinh sát ra đa và dẫn đường Yak-44 RLD). Đã tính toán khả năng dự trữ đóng trên tàu các máy bay cất hạ cánh thẳng Yak-41 (cũng là Yak-141 – không được tiếp nhận vào trang bị).

Trang bị vô tuyến điện của tàu (đài ra đa định vị, đài thủy âm, hệ thống tác chiến điện tử…) gồm có các hệ thống với 58 danh mục khác nhau, trong đó có hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub”, tổ hợp ra đa định vị đa chức năng “Mars-Passat” với ra đa mảng pha, đài ra đa định vị 3 tọa độ “Fregat-MA”, đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp “Podkat”, tổ hợp đạo hàng “Beisur”, tổ hợp thông tin liên lạc “Buran-2”, đài ra đa định vị điều khiển bay “Rezistor”, tổ hợp tác chiến điện tử “Kantana-11435” (mặc dù ban đầu theo dự kiến là “Sozvedie-BR”, nhưng đến thời điểm đó, nó chưa được hoàn thiện), tổ hợp thủy âm “Polinom-T”, đài thủy âm “Zvezda-M1”… Các trạm ăng ten của phần lớn khí tài vô tuyến điện và khí tài thông tin liên lạc được bố trí trên thượng tầng.

Tổng số khí tài truyền và thu vô tuyến trong các công suất và nhiệm vụ trong các dải tần khác nhau là 51 đơn vị. Chúng đảm bảo hơn 80 tuyến truyền tải thông tin, 50 trong số chúng có thể hoạt động đồng thời.

Trang thiết bị hỗ trợ (170 danh mục) hoạt động trong các tuyến thuộc kênh thông tin liên lạc vô tuyến, trinh sát vô tuyến và đề kháng đã được hình thành có hơn 450 đơn vị.

Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11435 hầu như lặp lại hoàn toàn trong thiết bị được tiếp nhận trong Đề án 11434: 4 trục, tuabin hơi nước, tổng công suất 200 000 sức ngựa. Trữ lượng nhiên liệu tăng cường cho phép đạt được tầm bơi xa 8 000 dặm với tốc độ 18 hải lý. Công suất tăng cường do kết quả lắp các nồi hơi mới. Nhờ đó, khi tăng lượng choán nước tiêu chuẩn lên 10 000 tấn đã thành công khi nhận được tốc độ hoàn toàn (tối đa) của tàu – 29 hải lý.

Hơi nước được sản xuất từ 8 nồi hơi KVG-4 với sản lượng hơi nước tăng cường lên 115 tấn/h (so với 98 tấn/h trên các nồi hơi trước) bằng áp suất 66kg lực/cm2 và nhiệt độ 470 độ hơi nước quá nhiệt trong đường ống. Hơi nước cần thiết, không liên quan với sự di chuyển của tàu, nhận được nhờ kết quả lựa chọn các nồi hơi chính, vì thế, thiết bị nồi hơi dự bị không cần thiết. Ở lượng choán nước thường 53 050 tấn, tốc độ tuần tran của tàu là 14 hải lý với 140 vòng quay/phút. Tốc độ chiến đấu tuần tra – 18 hải lý (180 vòng/phút).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #408 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 11:50:27 am »




Thượng tầng tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng "Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov" với các khí tài kỹ thuật vô tuyến
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #409 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 11:51:54 am »


Trạm hệ thống quang học cho việc hạ cánh "Luna-3", bố trí trên thành bên trái tàu tuần dương hạng nặng Đề án 11435


Su-33 trên boong tàu Đề án 11435
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM