Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:40:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329805 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #410 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2012, 12:25:49 pm »


Trong các khí tài cứu nạng có 1 xuồng chỉ huy lớn Đề án 1404 (từ thủy tinh dẻo), 2 xuồng lớn Đề án 1402-B, 2 bè 6 mái chèo Đề án YaL-P6 và 240 bè cứu nạn PSN-10M trong các thùng. Xuồng được bố trí trong các đáy ở khoang số 4 theo thành bên trái tương ứng với khung sườn số 171-184; 186-197 và 207-218, thuyền chèo – theo thành bên phải trên khung số 220-234, bè – cố định đặc biệt dọc theo hai thành trên boong bay.

Tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng (thực tế - tàu sân bay) Đề án 11435 đã đánh dấu bước chuyển mình sang cấp độ mới của Hải quân Liên Xô. Máy bay phản lực trên boong theo sơ đồ truyền thống theo các khả năng của chúng đã bỏ lại đằng sau bất kỳ khí tài bay cất hạ cánh thẳng của Liên Xô cũng như nước ngoài. Cụm các tàu nổi, trước đó rất dễ bị tổn thương, bây giờ đã nhận được sự yểm trợ tin cậy từ trên klhoong từ các máy bay tiêm kích đa năng. Sự ra đời của máy bay cất cánh trên boong có giá trí không chỉ với sự xuất hiện của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay này.

Đề án 11435 không nghi ngờ, được giới thiệu là loại tàu chiến đấu đa năng, không có loại tương tự trên thế giới. Sự xuất hiện trên tàu vũ khí tên lửa mạnh cụm máy bay trong thành phần bao gồm các loại máy bay hiện đại nhất, sự thật đã làm cho nó đứng ngang hàng với các tàu sân bay hiện đại nhất của các cường quốc về biển. Sự kết hợp khởi động máy đà và sự hạ cánh bằng máy là phẳng của các máy bay với tải trọng vũ khí nặng cho phép giảm thiểu mức nhỏ nhất - so với các phương tiện tương đồng ở phương Tây – sự tiêu hao hỏa lực phòng không của các lực lượng Hải quân ở các khu vực tầm xa trên đại dương. Trong thời gian đó, cụm máy bay của tàu được lắp ghép không đầy đủ. Như trên thực tế đã chỉ ra, để giải quyết nhiệm vụ “chở máy bay” thuần túy, không đủ các máy bay trinh sát ra đa, chống ngầm, rải nhiễu và tiếp liệu. Các máy bay Su-33 trên tàu đồng thời giảm số lượng: tổng cộng trong xưởng máy bay ở thành phố Komsomol-na-Amur đã chế tạo 24 máy bay (hiện nay, 5 trong số chúng theo các nguyên nhân khác nhau đã bị mất) nằm trong biên chế phi đoàn số 279 thuộc Sư đoàn không quân Hải quân hỗn hợp số 57. Cho đến thời điểm sửa chữa cuối cùng trên tàu tuần dương đóng đồng thời không quá 7 máy bay.

Tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat” được dự tính trong vai trò khí tài nội địa tương tự với tổ hợp ra đa định vị “Aegis” của Mỹ. Các thông số kỹ - chiến thuật của nó phải đáp ứng những yêu cầu hiện đại nhất, đảm bảo sự phát hiện, phân loại và theo dõi 120 mục tiêu đồng thời. Tuy nhiên, như đã được lắp thí nghiệm trên tàu tuần dương Đề án 11434 “Bacu”, tổ hợp cần được hoàn thiện thêm. Như trên “Bacu”, các chức năng của nó được thực hiện bởi đài ra đa định vị “Fregat-M” – nó phát hiện và theo dõi 80 mục tiêu, còn máy tính điện tử cung cấp sự chỉ thị mục tiêu tới hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu và cho các đàu vũ khí của tàu, lấy từ tổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat”. Hệ thống này cần được giữ lại một cách bất đắc dĩ trên Đề án 11435.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #411 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2012, 12:05:06 pm »

Theo quan điểm của các thợ máy hải quân, thiết bị năng lượng chính của tàu (cũng như các tàu tiền nhiệm của nó) có công suất không đủ lớn đối với ý nghĩa thiết kế tốc độ. Như là, bắt đầu từ 18 hải lý và cao hơn, thiết bị làm việc trong chế độ quá tải. Ngoài ra, sự tăng cường công suất được thực hiện bằng sự tính toán tăng áp lực nhiên liệu khi cung cấp tới thiết bị nồi hơi. Trong sự phối hợp với việc tiếp nhận một cách tương đối của thiết bị tự động thủy lực cũ, không thường xuyên đảm bảo việc cung cấp không khí kịp thời, dẫn tới hoạt động của các nổi hơi trong chế độ giới hạn và bốc khói mạnh. Khi đó, các nồi hơi sẽ trở nên phức tạp trong khai thác sử dụng, yêu cầu sự kiểm tra cẩn thận thành phần cấp độ nước. Theo nguyên nhân ăn mòn nồi hơi và ống dẫn, tàu không có khả năng đạt tốc độ lớn hơn 18 hải lý, tàu thường chỉ ở tốc độ 10-12 hải lý. Vì thế, nhiệm vụ cất – hạ cánh được thực hiện trên tốc độ 6-8 hải lý trong điều kiện gió và với sự hạn chế bắt buộc theo khối lượng cất cánh của máy bay – với sự rút dự trữ nhiên liệu và không có vũ khí treo.Đồng thời, nhiều sự chỉ trích hướng vào công việc của thiết bị làm bay hơi dạng MZS do sự phức tạp trong bảo dưỡng kỹ thuật của chúng và trước hết là sự làm sạch. Đây là sự di truyền từ các tàu đề án trước. Vấn đề chỉ được khắc phục sau khi lắp các thiết bị làm sạch bổ sung trong quá trình sử chữa năm 1997-1998. Thêm một vấn đề nữa là việc không có trên thành tàu khí tài hiệu quả chống lại sự phủ băng trên boong, đặc biệt quan trọng đối với thao tác cất – hạ cánh trong các vùng cực bắc.

Trong quá trình khai thác sử dụng, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã xuất hiện những lỗi nghiêm trọng trong thiết kế của hệ thống tiêu nước trên khoang tàu, như sự thiếu hoàn toàn máy bơm phụt nước. Các bơm tiêu nước đang có đã chỉ ra sự không thuận lợi trong khai thác sử dụng, không hiệu quả, đồng thời không thuận tiện trong sửa chữa.

Tất cả những vấn đề này cho phép đặt ra giả thiết rằng tàu Đề án 11435, lý thuyết là tàu chiến đấu tiềm năng, có thể so sánh với các tàu sân bay hiện đại nhất của nước ngoài, không thể dành chiến thăng trong trường hợp đấu tay đôi giả định. Còn sự xuất hiện trên thành tàu tuần dương tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh tầm xa lớn “Granit” không có ý nghĩa nhiều bởi vì tầm xa hoạt động của các máy bay trên boong luôn lớn hơn bất kỳ tổ hợp tên lửa nào. Các nhược điểm chính của Đề án 11435 là việc khởi công trong khái niệm không có thiết bị năng lượng hạt nhân và máy phóng. Kết quả là Đề án 11435 không khác nhiều so với Đề án 1143 với nhiệm vụ chính của nó – đảm bảo yểm trợ, che phủ khu vực tuần tra và triển khai chiến đấu của tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo và sự đột phá của chúng tới Đại Tây Dương, còn toàn bộ ranh giới hoạt động nằm ở khả năng sử dụng các máy bay tiêm kích trên boong Su-33 để bảo đảm việc tiêu diệt các máy bay cảnh báo sớm, thậm chí máy bay tiêm kích yểm trợ của địch. Nói cách khác, tàu mới được chế tạo trên cơ sở các quan điểm cũ.

Các biến thể

Tàu thứ 2 thuộc Đề án 11435 ban đầu là sự lặp lại hoàn toàn của tàu thứ 5, nhưng vào tháng 6 năm 1986, đã có mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô về việc thay đổi một số phần tử cơ bản của tàu tuần dương. Cụ thể, trang bị vô tuyến điện. Đồng thời hình dáng thượng tầng của tàu cũng được thay đổi (“quần đảo”) và bộ phận mạn của boong, còn Đề án nhận số hiệu mới 11436 (cuối cùng, nó không được đóng).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #412 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2012, 12:38:11 pm »

Chương trình đóng tàu

Việc chế tạo tàu sân bay đúng nghĩa đầu tiên ở Liên Xô đã diễn ra trong giai đoạn có những sự thay đổi về kinh tế và chính trị, và một cách rất tượng trưng rằng trong quá trình đóng, tàu đã 3 lần đổi tên. Được khởi công dưới tên gọi “Riga”, tàu được hạ thủy với tên gọi “Leonid Brezhnev”, tham gia thí nghiệm “Tbilisi” và gia nhập biên chế là “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov”.

Việc đóng tàu tuần dương hạng nặng Đề án 11435 (số hiệu 105) được thực hiện ở xí nghiệp trong xưởng đóng tàu biển Đen ở Nicolaev tương ứng với hợp đồng của Bộ Công nghiệp đóng tàu số 44550-A/166 từ 3 tháng 3 năm 1981. Ngoài xưởng đóng tàu biển Đen, còn tiếp nhận sự tham gia của hơn 3000 xí nghiệp cơ sở thuộc các tổ chức, các nước cộng hòa và phòng ban khác nhau. Các công việc quy mô lớn thực hiện trước đó theo sự nâng cấp ụ số “0”. Sự nâng cấp được bắt đầu trong khuôn khổ các quyết định nổi tiếng của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô từ 30 tháng 4 năm 1976 về chế tạo các tàu Đề án 1153 và chứng minh rất đúng lúc. Kết quả ở xưởng đòng tàu biển Đen đã chế tạo tổ hợp ụ hiện đại và lớn nhất ở châu Âu, cho phép đóng các tàu với khối lượng hạ thủy 40 000 tấn. Việc đóng (lần đầu tiên ở Liên Xô) được thực hiện theo sự cải tiến công nghệ mới trong chế tạo thân tàu từ các khối lớn nặng 1400 tấn. Khi đó, thân tàu cơ sở được phát triển từ 21 khối dài 32 mét, cao 13 mét và chiều rộng, bằng chiều rộng thân tàu. Thượng tầng gồm 22 khối.

Song song với việc đóng tàu tuần dương hạng nặng ở Nicolaev, trên “Nitka” cũng tiến hành lắp ráp mẫu máy là phẳng đường băng đầu tiên, đóng máy đà cất cánh T-2, đưa vào thí nghiệm các máy bay thử nghiệm và hệ thống điện tử mới.

Việc hạ thủy tàu tuần dương hạng nặng, được đổi tên thành “Leonid Brezhnev” từ ụ nghiêng trong khối lượng hạ thủy 32 000 tấn được giới thiệu là thao tác tổng hợp trong thực tế ngành đóng tàu. Vào đêm mùng 4 tháng 12 năm 1985,của nổi của ụ tách khỏi bộ phận ụ của triền nghiêng “0” tới khu mặt nước Yuznaia Buga, đã được tháo, nước tràn vào gần đến chân vịt và trên các khí tài phục vụ hạ thủy tàu tuần dương hạng nặng. Buổi sáng đã có cuộc mít tinh trang trọng, sau đó, dưới âm thanh của pháo hoa và tiếng còi của tàu kéo, tiếng còi xưởng và tiếng reo hò “Ura!” – tàu thứ 5 – tàu lớn nhất trong ngành đóng tàu Liên Xô chính thức được hạ thủy.

Những sự thay đổi nhiều trong thiết kế, việc cung cấp không kịp thời các vật liệu lắp ghép bên cạnh các tổ chức thuộc đơn vị nhận và hàng loạt các vấn đề khác không làm thay đổi thời gian chuẩn bị của tàu. Kết quả là trên tàu đã thực hiện hàng trăm chỗ hổng công nghệ ngoài dự kiến, thường bị tháo ra để lắp các trang thiết bị. Còn sau khi hàn các lỗ hổng – một lần nữa lắp nó vào vị trí cũ trước đó. Hai lần tàu gặp phải những đám cháy nghiêm trọng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #413 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2012, 12:18:13 pm »


Thêm vào đó, tình hình với sự lựa chọn máy bay tiêm kích trên boong không rõ ràng – năm 1988 đã đề xuất sử dụng Mig-29K, mà theo đó, dựa trên tính toán kích thước của chính nhỏ hơn, có thể bố trí trong hang ga tàu tuần dương chở máy bay với số lượng gấp rưỡi so với Su-27K. Vì thế, mặc dù trong tất cả các kết quả tích cực đạt được tại “Nitka”, yêu cầu trong các điều kiện thật khằng định khả năng theo nguyên tắc sự hạ cánh trên đường băng của máy bay trên boong tàu trên biển và sự cất cánh sau đó với sự hỗ trợ của máy đà, xử lý hệ thống điều khiển. Vào cuối năm 1988, M.P.Simonov đã đề xuất, không đợi sự bắt đầu chính thức các thí nghiệm thiết kế bay của Su-27K, tiến hành các thao tác cất – hạ cánh thí nghiệm đầu tiên trên boong tàu trong các điều kiện thực. Với đề xuất tương tự - thí nghiệm trước máy bay tiêm kích trên boong trong các điều kiện trên tàu – được lãnh đạo phòng thiết kế thí nghiệm A.I.Mikoyan đề xuất. Sáng kiến được sự ủng hộ bởi giám đốc xưởng đóng tàu biển Đen Yu.I.Makarov và vào cuối năm 1988, đã xuất hiện quyết định về tiến hành vào mùa thu năm 1989, gọi là quá trình các thí nghiệm thiết kế bay (LKI) của các máy bay Su-27K, Mig-29K và các khí tài kỹ thuật chuyên dụng. Bằng quyết định đồng thời của các Bộ trưởng công nghiệp đóng tàu và hàng không, đồng thời Tư lệnh Hải quân và Không quân đã quyết định đối với tàu một cách tạm thời ở xưởng loại bỏ việc lắp hệ thống vũ khí chưa hoàn thiệt và trang bị vô tuyến điện, đồng thời không bắt buộc trong tình trạng khử từ. Bằng quyết định của tổ hợp công nghiệp quốc phòng được giao bởi Ủy ban Chính phủ về tiếp nhận tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng (lúc đó mang tên “Tbilisi”) với Phó Đô đốc A.M.Ystiantsev trực thuộc Tổng thống Liên Xô (Tổng thư ký Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) và Đại diện Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô.

Ngày 28 tháng 10 đã bắt đầu chuẩn bị tiếp nhận các máy bay – các khi công một cách trình tự đã hoàn thành các chuyến bay trên boong, một cách tuần tự giảm tốc độ và độ cao. Sau đó xử lý việc ghé lên tàu với việc sử dụng thông tin của hệ thống “Luna”, đôi lúc với sự tiếp xúc của boong theo tư thế nghiêm và chạy đà không có sự ăn khớp với dây cáp.Vào 13 giờ 46 phút, lần đầu tiên trong lịch sử hàng không quốc gia, trên boong tàu sân bay, Su-27K đã hạ cánh thành công (số hiệu số 39). Theo thông tin nhật ký trực ban khi đó của tàu tuần dương “Tbilisi”, việc hạ cánh thực hiện ở điểm với các tọa độ 45 độ 2’ 6’’ Bắc và 33 độ 11’8’’ Đông (vịnh Kalamit, mũi phía nam Evpatori), trong các điều kiện trời nhiều mây. Vào 15 giờ 11 phút, máy bay tiêm kích Mig-29K đã hạ cánh thành công lần đầu tiên trên đường băng trên boong (số hiệu mang theo 311). Sau đó là lần cất cánh đầu tiên từ tàu (lúc 16 giờ 48 phút).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #414 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2012, 12:22:11 pm »




Lần hạ cánh đầu tiên của máy bay Mig-29K trên boong tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay "Tbilisi". Mùng 1 tháng 11 năm 1989.




Lần khởi động (cất cánh) đầu tiên của máy bay tiêm kích Mig-29K từ boong tàu tuần dương hạng nặng "Tbilisi" Đề án 11435. Mùng 1 tháng 11 năm 1989.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #415 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2012, 12:30:15 pm »




Lần thí nghiệm cất cánh không thành công đầu tiên của Su-27K, mùng 2 tháng 11 năm 1989. Tia phụt ra từ các động cơ đã phá hủy lá chắn phản xạ khí của bãi cất cánh số 1.


Lần khởi động (cất cánh) đầu tiên của Su-27K từ máy đà của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay "Tbilisi", 2 tháng 11 năm 1989.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #416 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2012, 12:50:39 pm »


Trong những ngày sau đó đã diễn ra việc xử lý cường độ cao các thao tác cất – hạ cánh từ các bãi cất cánh số 2 và số 3. Ngày 17 tháng 11 năm 1989 từ boong “Tbilisi” đã cất cánh lần đầu tiên, sau đó là thực hiện việc hạ cánh trên đường băng của các phi công thí nghiệm thuộc viện nghiên cứu khoa học Không quân trên Mig-29K và Su-27K. Các máy bay cất cánh từ máy đà, một cách lần lượt theo khối lượng cất cánh tăng dần của các máy bay khi sóng biển cấp 4-5, các tốc độ khác nhau của tàu và lực cản của gió. Đã có nhận định rằng, với các thùng được nạp đầy nhiên liệu và 4 tên lửa (khối lượng cất cánh 29,9 tấn), Su-27K có khả năng cất cánh với bãi cất cánh gần số 2 thậm chí trên tốc độ 7 hải lý của tàu. Còn khi ở tốc độ 15 hải lý, khả năng khởi động từ bãi cất cánh số 3 với tình trạng nạp đầy nhiên liệu và cơ số đạn tối đa (khối lượng cất cánh 32,2 tấn). Ngày 21 tháng 11, Su-27K lần đầu tiên thực hiện việc hạ cánh ban đêm trên boong. Các thí nghiệm thiết kế bay đã hoàn thành thành công ngày 22 tháng 11 năm 1989. Ngày 23 tháng 11 năm 1989, “Tbilisi” đã quay trở lại xưởng. Mùng 4 tháng 10 năm 1990, tàu nhận tên gọi “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov”. Tàu đã trở về xưởng để kiểm tra các máy móc và khắc phục những lời phê bình. Ngày 25 tháng 12 năm 1990, Ủy ban Chính phủ đã ký biên bản tiếp nhận. Ngày 20 tháng 1 năm 1991, tàu tuần dương hạng nặng được ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc, còn 29 tháng 1 trên tàu đã diễn ra lễ kéo cờ Hải quân trang trọng. Ở phương Tây, Đề án 11435 nhận tên gọi lớp Kuznetsov.

Tàu thứ 2, nhận số hiệu Đề án 11436 (số hiệu xưởng 106) được đóng từ năm 1985 cùng trên ụ số 0 ở xưởng đóng tàu biển Đen ngay sau khi hạ thủy tàu đầu tiên trong Đề án 11435, nhưng không được đóng tiếp.

Tình hình đến năm 2008

Đề án 11435 là tàu chở máy bay duy nhất của Hải quân Nga đã gia nhập Hạm đội Phương Bắc cho đến thời điểm này. Mặc dù xuất hiện hàng loạt các tại nạn nhỏ, gãy vỡ và sửa chữa dài hạn, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov” đang tham gia tích cực trong các hoạt động phục vụ chiến đấu của hạm đội, còn cụm máy bay trên tàu thực hiện việc cất cánh thường xuyên. Trong những năm phục vụ, tàu tuần dương hạng nặng Đề án 11435 đã hoàn thành một số cuộc hành quân dài ngày trong cụm tàu chiến đấu, tiếp nhận tham gia trong các cuộc tập trận khác nhau và cơ động của hạm đội. Tàu đã đánh dấu giai đoạn phát triển mới về chất lượng của Không quân thuộc Hải quân.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #417 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2012, 12:58:14 pm »




Thang nâng máy bay ở mạn tàu Đề án 11435.


Trong hang ga tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay Đề án 11435.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #418 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2012, 01:05:04 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Riga” (số hiệu xưởng 105); từ 26 tháng 11 năm 1982 là “Leonid Brezhnev”, từ 11 tháng 8 năm 1987 là “Tbilisi”, từ 4 tháng 10 năm 1990 là “Đô đốc Hải quân Liên Xô Kuznetsov”. Khởi công 1 tháng 9 năm 1982 ở xưởng đóng tàu biển Đen số 198; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 26 tháng 7 năm 1982; 30 tháng 11 năm 1985 bị cháy rác xây dựng và ván gỗ, trong số lượng lớn vật nhiều gần thành tàu, việc dập lửa kéo dài hơn 1 giờ; hạ thủy 4 tháng 12 năm 1985; tháng 7 năm 1986 đã bị cháy ở trạm năng lượng và buồng nổi (do hàn điện trong các buồng gần nhau làm cháy giẻ tẩm dầu và rác xây dựng), để chữa cháy đã huy động số lượng lớn nhân lực, trong đó có cả các xưởng bên cạnh; 8 tháng 6 năm 1989 đã bắt đầu thí nghiệm neo đậu; 8 tháng 9 năm 1989 đã bắt đầu hoạt động sinh hoạt của thủy thủ đoàn trên tàu; 21 tháng 10 năm 1989, liên quan đến quyết định vào mùa thu năm 1989 thực hiện giai đoạn cấp xưởng các thí nghiệm thiết kế - bay của máy bay Su-27K và Mig-29K, các thí nghiệm neo đậu bị gián đoạn; tàu lần đầu tiên rời khỏi bến đỗ trong xưởng và qua một ngày đêm đã thả treo ở bãi đỗ tàu ngoài thuộc Sevastopol; từ 23 đến 26 tháng 10 năm 1989 trên trường bắn gần mũi Margopulo đã thí nghiệm máy, cơ cấu, khí tài đạo hàng và thông tin liên lạc; 27 tháng 10 năm 1989 đã bắt đầu bay thuwrcacs máy bay trên tàu để xử lý kỹ thuật hạ cánh; các cuộc cất hạ cánh đầu trên trên boong được thực hiện trong trạng thái thả neo, sau đó huấn luyện mang (máy bay) trên bãi tập, nơi tàu di chuyển tốc độ 10 – 13 hải lý; 1 tháng 11 năm 1989, lúc 13 giờ 46 phút, lần đầu tiên trong lịch sử Không quân Hải quân, trên boong tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã hạ cánh Su-25UTG; 2 tháng 11 năm 1989, khi Su-27K cất cánh, không xử lý khí tài hỗ trợ - từ tác động kéo dài của khí bị đốt nóng đã phá hủy 6 khối làm mát của lá chắn phụt khí; 13 tháng 11 năm 1989 đã diễn ra lần hạ cánh thứ 2 trên boong của Su-27K, còn 21 tháng 11 năm 1989 – lần đầu tiên hạ cánh ban đêm; 22 tháng 11 năm 1989, các thí nghiệm thiết kế bay đã kết thúc thành công, tổng cộng trong 20 ngày đêm đã diễn ra 227 chuyến bay và 35 lần hạ cánh trên tàu, trong số đó 20 – Su-27K, 13 – Mig-29K và 2 – Su-25UTG; 23 tháng 11 năm 1989, tàu quay trở lại xưởng để hoàn thành các thí nghiệm neo đậu và lắp các hệ thống đang lắp dở và vũ khí; 25 tháng 5 năm 1990, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay (số hiệu trên thành tàu 113) đã rời Nicolaev đến Sevastopol để tiến hành các thí nghiệm chuyển động cấp xưởng, các thí nghiệm chuyển động diễn ra từ 28 tháng 5 đến 31 tháng 6 năm 1990, cùng với sự thực hiện các thí nghiệm thiết kế bay của Su-27K và xử lý các máy bay Mig-29K và Su-25UTG đầu tiên, một số thí nghiệm cất hạn cánh trên boong của tàu tuần dương chở máy bay, mẫu thí nghiệm máy bay tiêm kích bom tiền duyên Su-25IB đã được thực hiện; 1 tháng 8 năm 1990, bắt đầu các thí nghiệm cấp nhà nước; trên các bãi tập thuộc Hạm đội Biển Đen đã thực hiện việc bắn toàn bộ hệ thống vũ khí của tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay, ngoại trừ tổ hợp tấn công, việc bắn theo hàng loạt các nguyên nhân đã chuyển tới giai đoạn khi tàu tới biển Bắc cùng với các thí nghiệm tổ hợp áp chế vô tuyến điện “Sozvezdie” và chính tàu tuần dương trong điều kiện khí hậu đặc biệt phức tapjl trong thời gian thí nghiệm cấp nhà nước đã bơi 16 200 dặm, thực hiện 454 lần bay của các máy bay Su-27K, Mig-29K, Su-25UTG, trực thăng Ka-27, Ka-29 và Ka-31); trong giai đoạn thí nghiệm đã diễn ra việc sử lý trên Mig-29 hệ thống hạ cánh trên boong và đánh giá sự tương thích hệ thống máy tính điện tử mang theo của máy bay và hệ thống của tàu, khi đó, Mig-29K đã thực hiện việc hạ cánh ban đêm lần đầu tiên và khởi động cất cánh đêm từ tàu, đồng thời cất cánh ban ngày với 4 tên lửa; 1 tháng 10 năm 1990, tàu tuần dương đã quay trở lại xưởng để sửa chữa máy móc và khắc phục các ý điểm không hoàn thiện; 25 tháng 12 năm 1990, Ủy ban Chính phủ đã ký biên bản tiếp nhận – tàu gia nhập biên chế;
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #419 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2012, 01:25:58 pm »

(tiếp theo)

tổng cộng, từ thời điểm khởi công trên ụ đến khi bàn giao mất 8 năm, 3 tháng và 24 ngày; 20 tháng 1 năm 1991, ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và 29 tháng 1 năm 1991, kéo cờ Hải quân một cách trọng thể; tháng 5 năm 1991, đóng căn cứ ở bến đỗ ngoài ở Sevastopol và tạm thời gia nhập biên chế sư đoàn tàu nổi số 30 Hạm đội Biển Đen; trong năm 1991 đã tiến hành xử lý nhiệm vụ luân phiên và đảm bảo thực hiện các chương trình thí nghiệm cấp nhà nước của các máy bay tiêm kích Su-27K, Mig-29K và trực thăng Ka-31; các máy bay cất cánh từ sân bay trên bờ và thực hiện các thao tác cất – hạ cánh đã được quy định và bay ngược trở lại; xử lý các cuộc cất cánh của các máy bay tiêm kích với khối lượng tối đa cho phép cho một trong số 3 bãi cất cánh trong các tải trọng khác nhau; đối với trực thăng Ka-31 vấn đề chính là hoàn thiện tổ hợp ra đa định vị “Oko”; đến cuối tháng 11 năm 1991, khi Liên Xô bắt đầu tan ra, Tư lệnh Hải quân – Đô đốc V.N.Chernavin đã ra quyết định về vận chuyển gấp tàu tới Hạm đội Phương Bắc, tới điểm đóng căn cứ thường trực; 1 tháng 12 năm 1991, lúc 23 giờ 40, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bắt đầu di chuyển trong sự bảo vệ của tàu chống ngầm loại lớn “Skorưi”và tàu tuần tiễu tên lửa “Bezukorizennưi” và ra khơi; trong ngày hôm sau, các tàu đã đến trước cửa vào Bosfor, ở đó chúng đợi tàu kéo cứu nạn “Shakhter”; tàu tuần dương chở máy bay đã đi qua các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, ở đó, một số thủy thủ đã cố gắng bỏ trốn, ném từ mạn tàu thuyền cứu nạn và cố gắn chèo nó tới bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đã được trục với và kéo ngược trở lại tàu; trong sự phối hợp với các tàu Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó là Hy Lạp, Italia, Pháp và Tây Ban Nha, thay thế lẫn nhau, đồng thời không quân các nước NATO, tàu đã hướng tới Gibralta; ngoài Gibralta, trong sự bảo vệ tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng có tàu tuần tiễu tên lửa “Bditelnưi” (Hạm đội Baltic) và “Zadornưi” (Hạm đội Phương Bắc); ở đó các tàu đã gặp cụm tàu sân bay tấn công của Hải quân Mỹ mà dẫn đầu là tàu sân bay nguyên tử “George Washington”, sau đó, từ Norfolk tới Địa Trung Hải, khi đó, việc bay thí nghiệm của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bị Mỹ theo dõi bằng cách chụp ảnh và đo khoảng cách, tàu đã đáp trả bằng tín hiệu “đang thực hiện huấn luyện”, tăng tốc độ lên 24 hải lý và 2 máy bay Ka-27PS đã cất cánh (các máy bay phản lực trên boong trong thời gian di chuyển không có), còn tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” đã trục vớt từ dưới nước một trong cố các phao tiêu ăng ten định vị do trực thăng Mỹ ném xuống; trong khu vực vĩ tuyến 64, tàu khu trục “Bezuderzhnưi” (Hạm đội Phương Bắc) đã thay cho “Bditelnưi”; tàu đã di chuyển với tốc độ thường 12 – 14 hải lý, không tính đến giai đoạn tăng tốc độ quãng ngắn gần Gibralta; sau khi người Mỹ đi khỏi, bắt đầu kết hợp với đội tàu Anh, sau đó là các tàu chiến Na Uy; từ mũi Nordkap và tới cửa vào vịnh Kolsky – đi theo tàu trinh sát “Maryata”; 20 tháng 12 năm 1991 đã thả neo gần bến đỗ số 10 gần vịnh Ura và gia nhập biên chế sư đoàn số 43 (Đại Tây Dương) thuộc đội tàu tuần dương tên lửa trong Hạm đội Phương Bắc đóng căn cứ ở cảng Vidiaevo; 1 tháng 4 năm 1992 theo mệnh lệnh của chỉ huy Hạm đội Phương Bắc nằm trong số các tàu tuyến đầu; từ mùa thu năm 1992 đã tiếp tục các thí nghiệm cấp nhà nước của Su-25UTG và Su-27K; 21 tháng 10 năm 1992, theo tình trạng kỹ thuật của tàu tuần dương đã bắt đầu sửa chửa thiết bị năng lượng chính và các khí tài kỹ thuật hàng không;
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM