Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:55:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330193 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #420 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2012, 01:34:22 pm »



Máy bay thí nghiệm Mig-29LL hạ cánh trên boong tàu tuần dương "Tbilisi" mùa thu năm 1989.



Trên boong tàu tuần dương "Tbilisi" trong thời gian thí nghiệm thiết kế bay, mùa thu năm 1989.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #421 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2012, 01:35:43 pm »





Su-25UTG hạ cánh



Su-25UTG cất cánh với sự hỗ trợ của máy đà
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #422 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2012, 11:43:13 am »

(tiếp theo)

tổng cộng, từ thời điểm khởi công trên ụ đến khi bàn giao mất 8 năm, 3 tháng và 24 ngày; 20 tháng 1 năm 1991, ghi tên vào danh sách Hạm đội Phương Bắc và 29 tháng 1 năm 1991, kéo cờ Hải quân một cách trọng thể; tháng 5 năm 1991, đóng căn cứ ở bến đỗ ngoài ở Sevastopol và tạm thời gia nhập biên chế sư đoàn tàu nổi số 30 Hạm đội Biển Đen; trong năm 1991 đã tiến hành xử lý nhiệm vụ luân phiên và đảm bảo thực hiện các chương trình thí nghiệm cấp nhà nước của các máy bay tiêm kích Su-27K, Mig-29K và trực thăng Ka-31; các máy bay cất cánh từ sân bay trên bờ và thực hiện các thao tác cất – hạ cánh đã được quy định và bay ngược trở lại; xử lý các cuộc cất cánh của các máy bay tiêm kích với khối lượng tối đa cho phép cho một trong số 3 bãi cất cánh trong các tải trọng khác nhau; đối với trực thăng Ka-31 vấn đề chính là hoàn thiện tổ hợp ra đa định vị “Oko”; đến cuối tháng 11 năm 1991, khi Liên Xô bắt đầu tan ra, Tư lệnh Hải quân – Đô đốc V.N.Chernavin đã ra quyết định về vận chuyển gấp tàu tới Hạm đội Phương Bắc, tới điểm đóng căn cứ thường trực; 1 tháng 12 năm 1991, lúc 23 giờ 40, tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bắt đầu di chuyển trong sự bảo vệ của tàu chống ngầm loại lớn “Skorưi”và tàu tuần tiễu tên lửa “Bezukorizennưi” và ra khơi; trong ngày hôm sau, các tàu đã đến trước cửa vào Bosfor, ở đó chúng đợi tàu kéo cứu nạn “Shakhter”; tàu tuần dương chở máy bay đã đi qua các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, ở đó, một số thủy thủ đã cố gắng bỏ trốn, ném từ mạn tàu thuyền cứu nạn và cố gắn chèo nó tới bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng đã được trục với và kéo ngược trở lại tàu; trong sự phối hợp với các tàu Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó là Hy Lạp, Italia, Pháp và Tây Ban Nha, thay thế lẫn nhau, đồng thời không quân các nước NATO, tàu đã hướng tới Gibralta; ngoài Gibralta, trong sự bảo vệ tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng có tàu tuần tiễu tên lửa “Bditelnưi” (Hạm đội Baltic) và “Zadornưi” (Hạm đội Phương Bắc); ở đó các tàu đã gặp cụm tàu sân bay tấn công của Hải quân Mỹ mà dẫn đầu là tàu sân bay nguyên tử “George Washington”, sau đó, từ Norfolk tới Địa Trung Hải, khi đó, việc bay thí nghiệm của tàu tuần dương chở máy bay hạng nặng đã bị Mỹ theo dõi bằng cách chụp ảnh và đo khoảng cách, tàu đã đáp trả bằng tín hiệu “đang thực hiện huấn luyện”, tăng tốc độ lên 24 hải lý và 2 máy bay Ka-27PS đã cất cánh (các máy bay phản lực trên boong trong thời gian di chuyển không có), còn tàu tuần tiễu tên lửa “Zadornưi” đã trục vớt từ dưới nước một trong cố các phao tiêu ăng ten định vị do trực thăng Mỹ ném xuống; trong khu vực vĩ tuyến 64, tàu khu trục “Bezuderzhnưi” (Hạm đội Phương Bắc) đã thay cho “Bditelnưi”; tàu đã di chuyển với tốc độ thường 12 – 14 hải lý, không tính đến giai đoạn tăng tốc độ quãng ngắn gần Gibralta; sau khi người Mỹ đi khỏi, bắt đầu kết hợp với đội tàu Anh, sau đó là các tàu chiến Na Uy; từ mũi Nordkap và tới cửa vào vịnh Kolsky – đi theo tàu trinh sát “Maryata”; 20 tháng 12 năm 1991 đã thả neo gần bến đỗ số 10 gần vịnh Ura và gia nhập biên chế sư đoàn số 43 (Đại Tây Dương) thuộc đội tàu tuần dương tên lửa trong Hạm đội Phương Bắc đóng căn cứ ở cảng Vidiaevo; 1 tháng 4 năm 1992 theo mệnh lệnh của chỉ huy Hạm đội Phương Bắc nằm trong số các tàu tuyến đầu; từ mùa thu năm 1992 đã tiếp tục các thí nghiệm cấp nhà nước của Su-25UTG và Su-27K; 21 tháng 10 năm 1992, theo tình trạng kỹ thuật của tàu tuần dương đã bắt đầu sửa chửa thiết bị năng lượng chính và các khí tài kỹ thuật hàng không; từ năm 1993, trong cụm máy bay đã bắt đầu xuất hiện loạt Su-27K; từ 8 tháng 4 năm 1993, các thí nghiệm của máy bay su được tiếp tục, đồng thời chỉnh hệ thống quang điện “Luna-3” và hệ thống quan sát vô tuyến, kiểm tra hạ cánh “Otvodok-Raskreposenie” với tổ hợp hệ thống kỹ thuật vô tuyến đạo hàng và hạ cánh mang theo, được thiết kế đầu năm 1994; các thí nghiệm thiết kế - bay đã được hoàn thành bằng sự tham gia của tàu (lần đầu tiên) trong các cuộc diễn tập của Hạm đội Phương Bắc, trong quá trình này, cặp máy bay tiêm kích trên boong đã thực hiện truy đuổi và tiêu diệt máy bay – mục tiêu điều khiển bằng vô tuyến La-17, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay chiếm vị trí số 1 trong Hạm đội Phương Bắc do bắn thành công vào mục tiêu trên biển bằng tổ hợp tên lửa chính; 30 tháng 12 năm 1994, đã ký biên bản hoàn thành các thí nghiệm cấp nhà nước của Su-27K (sau đó, 31 tháng 8 năm 1998, máy bay được tiếp nhận vào biên chế Không quân Nga dưới tên gọi Su-33); mùa đông 1994 – 1995, đã tiến hành sửa chữa các nồi hơi chính với sự thay thế các ống dẫn; năm 1995, trong thời gian ra khơi lần đầu, tàu tuần dương hạng nặng chở máy bay đã bị bão, các ống nồi hơi chính bị vấy dầu và không bơi đươc; 23 tháng 12 năm 1995, tàu (số hiệu 063) lần đầu tiên thực hiện nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải, dẫn đầu cụm tàu chiến đấu bao gồm tàu khu trục “Besstrashnưi”, tàu ngầm nguyên tử “Volk”, tàu vận tải “Dnestr” và tàu kéo SB-406 Hạm đội Phương Bắc, tàu tuần tiễu tên lửa “Pưlki” và tàu vận tải “Olekma” Hạm đội Baltic, đồng thời tàu kéo “Shakhter” và tàu vận tải “Ivan Bubnov” Hạm đội Biển Đen; cụm máy bay trên tàu gồm 13 máy bay tiêm kích Su-33, 2 Su-25UTG và 11 trực thăng Ka-27, Ka-27PS và Ka-29;
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #423 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2012, 01:29:34 am »

(tiếp)

cuộc hành quân được bắt đầu trong điều kiện thời tiết phức tạp, tại cửa ra từ vịnh Kolsk, các tàu đã gặp bão cấp 7, gần mũi Nordkal, hai nồi hơi chính bị hỏng với sự giảm công suất của thiết bị năng lượng chính; 29 tháng 12 năm 1995, ở khu vực bờ phía tây nước Anh, các máy bay tiêm kích Su-33 đã thực hiện ba cuộc cất cánh truy đuổi các máy bay của Anh và Hà Lan “Orion” và “Nimrod”; đêm 4 tháng 1 năm 1996, cụm tàu đã đi qua Gibralta; do các vấn đề với nồi hơi, tàu tuần dương hạng nặng di chuyển với tốc độ thấp; 4 và 5 tháng 1 năm 1996, các chuyến bay được khôi phục lại, khi đó, Su-33 đã nhiều lần thực hiện các cuộc truy đuổi máy bay của NATO “Atlantic” và “Nimrod”; 7 tháng 1 năm 1996, tàu thả neo gần bờ biển Tuynidi, ở đó đến 17 tháng 1 năm 1996, trên tàu đã khắc phục các lỗi hỏng hóc, ở đó cũng lần đầu tiên diễn ra cuộc gặp gỡ (giao lưu) của các thủy thủ Nga và Mỹ (tàu sân bay nguyên tử “America”), khi đó, trên boong tàu đã thực hiện sự hạ cánh của 2 trực thăng SH-60 “Sea Hawk”; một số phi công Nga trong quá trình diễn tập chung đã bay trong vai trò phi công số 2 trên các máy bay và trực thăng Mỹ. Về phần mình, các trực thăng Nga đã hơn 30 lần hạ cánh trên bãi đáp của các tàu thuộc Hạm đội 6 Hải quân Mỹ, còn Tư lệnh Hạm đội 6 – Đô đốc Pilling với nhóm sỹ quan đã được làm quen một cách tỷ mỉ với các máy bay tiêm kích Su-33; từ 19 đến 23 tháng 1 năm 1969, Su-33 đã thực hiện 67 chuyến bay, trực thăng Ka-27 xử lý nhiệm vụ săn ngầm; 26 tháng 1 năm 1996, tàu đã ra khơi tới bờ biển Siry, trong cuộc hành quân, 2 máy bay Su-33 đã thực hiện việc bám sát cặp máy bay tiêm kích F-16 của Không quân Israel; trong giai đoạn 28 tháng 1 đến 2 tháng 2 năm 1996, đã hoàn thành việc ghé vào Tartus (Siry); 4 tháng 2 năm 1996, tàu trinh sát loại lớn “Kavkaz” đã tới Địa Trung Hải, gần quần đảo Kret, Tham mưu trưởng Hải quân Nga – Phó Đô đốc V.E.Selivanov đã thay thể Đô đốc I.V.Kasatonov và kéo cờ trên tàu tuần dương chở máy bay; đã thực hiện cuộc diễn tập ngoài kế hoạch theo sự kéo của tàu kéo “Shakhter”; 8-9 tháng 2 năm 1996, cụm tàu chiến đấu đã bị bão bụi, sau đó diễn ra sự bổ sung nhiên liệu ở điểm số 52 trên biên giới khu vực nước của Libia và Ai Cập; trong giai đoạn 17-18 tháng 2 năm 1996, đã hoàn thành cuộc viếng thăm La-Valetta (Malta), sau đó do các vấn đề với nồi hơi và bão kéo đến gần, cuộc viếng thăm đã không đúng kế hoạch; 2 tháng 3 năm 1996, lần đầu tiên trên Địa Trung Hải đã diễn ra cuộc diễn tập bay chiến thuật trong tầm gần và tầm xa khu vực phòng không của cụm tàu với sự xử lý bằng các máy bay tiêm kích các nhiệm vụ truy đổi máy bay và tấn công tên lửa có cánh; 6 tháng 3 năm 1996 đã đi qua Gigralta và tới Đại Tây Dương, ở khu vực nước Anh, tàu tuần dương chở máy bay có đã thăm tàu chiến “Sheffield”, trực thăng chở Đô đốc Hải quân Nga đã cất cánh từ boong tàu tuần dương; 20 tháng 3 năm 1996, theo sự đi qua bờ biển Faren-Island đã tiếp nhận tham gia cuộc diễn tập chỉ huy tham mưu của Hạm đội Phương Bắc, Su-33 đã đánh trả thành công cuộc tấn công tên lửa của đối thủ thật (4 Tu-22M3), truy kích với sự tham gia của tàu trinh sát cảnh báo sớm (tàu khu trục “Besstrashnưi”), các máy bay ném bom đã bị “bắt giữ” ở tầm xa 450km từ trung tâm cảnh giới; trong qua trình diễn tập, một trong số các máy bay Su-33 đã bị hỏng một động cơ cục bộ, nhưng phi công đã kịp hạ cánh khẩn cấp xuống boong (sau đó, phi công này được tặng danh hiệu Anh hùng Nga);
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #424 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2012, 11:36:13 am »

(tiếp theo):

22 tháng 3 năm 1996, tàu tới Vidiaevo; trong thời gian hành quân đã đi qua 14 156 dặm, thực hiện 524 lần cất cánh bằng máy bay và 996 lần bằng trực thăng, truy đuổi 12 mục tiêu trên không, phát hiện 2 tàu ngầm của nước ngoài, xử lý các nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu theo hai tàu ngầm; tiến hành bắn pháo – tên lửa thành công, trong đó có cả bằng tổ hợp tiến công chính; trong giai đoạn từ 8 tháng 4 năm 1996 đến tháng 7 năm 1998, ở xưởng đóng tàu phía bắc số 35 (“Sevmorput”) đã trải qua sự sửa chửa tăng cường hệ thống đạo hàng; sau khi hoàn thành sửa chữa đã đảm bảo sự huấn luyện chiến đấu của không quân trên tàu; tháng 8 năm 1998 đã tham gia các cuộc tập trận dưới lá cờ của Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nga; trong giai đoạn 26 tháng 3 đến 2 tháng 4 năm 1999, làm nhiệm vụ trực chiến, đi qua 193 giờ di chuyển tới 750 dặm; tháng 10 năm 1999, đảm bảo việc thí nghiệm thiết kế bay trên biển Barents của máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi Su-27KUB, việc cất và hạ cánh trên boong được thực hiện những lần đầu tiên vào 6 tháng 10 năm 1999; 16 tháng 10 năm 1999 đã thực hiện việc hạ cánh lần đầu tiên của Su-33 trên boong trong các điều kiện ban đêm thuộc vùng cực; trong 10 năm phục vụ đầu tiên, tàu đã bơi 75 000 dặm; năm 1991 – 15 650 dặm; 1992 – 5 012 dặm, năm 1993 – 5095; năm 1994 – 5397 và năm 1995 – 5467; theo hàng loạt các nguyên nhân (độ ẩm, nhiệt độ thấp, sự cẩu thả, trình độ nghiệp vụ thấp của cá nhân), đến năm 1999, đã hỏng một trong số các nồi hơi chính, một thiết bị động cơ tuabin răng cưa và hàng loạt hệ thống và máy móc; mùa thu năm 2000, tàu đã chuẩn bị làm nhiệm vụ trực chiến ở Địa Trung Hải, nhưng sau sự thay thế sửa chữa, liên quan tới tai nạn của tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa có cánh “Kursk” Đề án 949-A, đã được đưa vào sửa chữa ở xưởng số 35; trong giai đoạn tháng 5-6 năm 2003 đã trải qua sửa chữa trên ụ của xưởng đóng tàu số 82 (Rosliakovo); tháng 10 năm 2003 ở trên biển Barents thực hiện các thí nghiệm vận động, trong thời gian đó đã xảy ra đám cháy ở ống khói chính; tháng 2 năm 2004 từ xưởng số 35, đã được sửa chữa, ra khởi đẻ tham gia trong cuộc huấn luyện chỉ huy – tham mưu chiến lược “Bezoanasnosch-2004” (“An ninh-2004”) để đảm bảo sự hoạt động theo chỉ định của các máy bay tiêm kích trên boong thuộc Hạm đội Phương Bắc; 27 tháng 9 năm 2004 (sau khi sửa chữa, thí nghiệm và xử lý nhiệm vụ luân phiên), đã dẫn đầu cum tàu chiến Hạm đội Phương Bắc dưới lá cờ phó tư lệnh Hạm đội Phương Bắc ra khơi tham gia cuộc diễn tập ở Đại Tây dương (thành phần cụm tàu chiến: tàu tuần dương tên lửa năng lượng hạt nhân “Pie Đại đế”, tàu tuần dương tên lửa “Nguyên soái Ustinov”, tàu chống ngầm “Severomorsk”, và “Nguyên soái Levchenko” và tàu khu trục “Đô đốc Ushacov”, tàu tiếp tế (chở dầu vận tải) “Sergei Osipov”, tàu kéo “Altai” và SB-406); một trong số các nhiệm vụ chính của các cuộc diễn tập là xử lý sự phối hợp của các tàu khi đánh trả cuộc tấn công của đối phương có thật, đồng thời thực hiện nhiệm vụ bay từ boong của các phi công; 24 tháng 10 năm 2004, cụm tàu chiến đã quay về vịnh Kolsk; tháng 8 năm 2005 và tháng 9 năm 2005 đã tham gia các cuộc diễn tập của Hạm đội Phương Bắc; 5 tháng 9 năm 2005 khi Su-33 hạ cánh đã xảy ra sự cố vỡ đường băng, máy bay bị rơi xuống nước và chìm ở độ sâu 1100 mét, phi công kịp thoát ra ngoài và được cứu bằng trực thăng cứu nạn; 5 tháng 12 năm 2007, tàu trong cụm tàu (2 tàu chống ngầm, tàu vận tải và cứu nạn) đã ra khơi trong cuộc hành quân thứ 61 tới Địa Trung Hải; 18 tháng 1 năm 2008, cụm tàu gặp tàu tuần dương tên lửa “Moskva” Đề án 1164, sau đó, cụm tàu một lần nữa ra khơi hướng đến Đại Tây Dương; trong giai đoạn 21 tháng 1 đến 1 tháng 2 năm 2008, đã tham gia các cuộc diễn tập trong thành phần cụm tàu chiến đấu với cụm máy bay trên boong (tổng cộng đã thực hiện hơn 100 cuộc cất cánh của mọi loại máy bay); 3 tháng 2 năm 2008, đã bơi qua hơn 12 000 dặm và thực hiện mọi nhiệm vụ huấn luyện, tàu đã quay trở về Severomorsk.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #425 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 10:26:02 am »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 43 000

+ hoàn toàn: 55 000

+ lớn nhất: 61 390

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 306,45 (270)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 71,96 (33,41)

+ lượng lớn nước trung bình (tiêu chuẩn/thường/hoàn toàn): 8,05/8,97/9,76

+ lượng choán nước lớn nhất: 10,4

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 8 nồi hơi KVG-4 trong 4 cụm tự hoạt động

+ 4 thiết bị tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 200 000 (147 000)

+ các máy phát điện tuabin TD-1500, công suất, kW: 6x1500

+ các máy phát điện – diezel DGR-1500, công suất, kW: 4x1500

4 trục; 4 bánh lái chân vịt 4 cánh

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 29

+ tốc độ tuần tra/tuần tra chiến đấu: 14/18

Tầm hoạt động, dặm (với tốc độ, hải lý)

+ 8417 (14)

+ 7680 (18)

+ 3850 (29)

Thời gian hoạt động: 45 ngày

Thủy thủ đoàn, người

+ theo đề án: 1980

+ số lượng sỹ quan/hạ sỹ quan/thủy thủ: 520/322/1138

+ thực tế: 1533

+ số lượng sỹ quan/hạ sỹ quan/thủy thủ: 196/210/1127

Cụm máy bay: 620.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #426 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 10:56:06 am »

Vũ khí

Máy bay

+ tổng cổng khí tài bay: 50 – 52

+ trong đó: máy bay tiêm kích Su-33 (“Flanker-D” và Mig-29K (“Fulcum-D”) hoặc máy bay cường kích Su-25UTG (“Frogfoot-B”): 26 – 28

+ số trực thăng trinh sát Ka-31 (“Helix-D”): 4

+ trực thăng Ka-27 và Ka-29 (“Helix-A/B”): 18

+ trực thăng cứu nạn Ka-27PS (“Helix-C”): 2

Tên lửa tiến công

+ thiết bị phóng thẳng đứng SM-233 của tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-700 “Granit-NK”: 12x1

+ tên lửa chống tàu có cánh P-700 (3M45) (SS-N-19 “Shipwerck”): 12

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng đừng SM-9 của tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”: 24x8

+ tên lửa phòng không 9M330-2 (SA-N-9 “Gaunlet”): 192

Pháo – tên lửa phòng không

+ tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik” (CADS-N-1) trong mỗi tổ hợp: 8

+ thiết bị phóng tên lửa phòng không 9M331 (SA-N-11 “Grison”): 2x4

+ pháo tự động 30mm AO-18: 2x6

Pháo

+ tổ hợp pháo phòng không tự động 30mm AK-630M: 6x6

Vũ khí chống ngầm/chống ngư lôi

+ thiết bị phóng bom phản lực RBU-12 000 “Udav”: 2x10

+ cơ số đạn: 120

Vũ khí chống biệt kích

+ súng phóng lựu MRG-1: 5x7

+ cơ số đạn: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #427 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 11:19:35 am »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu “Lesorub-434”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu

+ 1xtổ hợp ra đa định vị “Mars-Passat” – 4 ra đa mảng pha (Sky Watch)

+ 1xMR-750 “Fregat-MA” (Top Plate)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu bay tầm thấp

+ 2xMR-360 “Podkat” (Strut Pair)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 3x”Vaigach” (Palm Frond)

Đài thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Polinom-T”

+ đài thủy âm “Zvezda-M1” (Horse Jaw)

+ MG-717 “Amulet” chống đài thủy âm biệt kích

+ đài thủy âm “Altưn”

+ MG-35

+ MG-355TA

Khí tài đối kháng điện tử

+ “Kantata-11435” (2 Bell Crown; 2 Bell Push; 8 Foot Ball; 2 Wine Flask; 2 Flat Track)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

+ 4x10 thiết bị phóng PK-10 “Smelưi”

Các khí tài quang điện

+ 4x”Rotan” vô tuyến nhìn gần

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Korall-BN” (Punch Bowl) tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ vệ tính cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh “Granit”

+ 4xZR95 (Cross Sword) điều khiển tổ hợp tên lửa phòng không “Kinzhal”

+ 4xZR86 modul điều khiển tổ hợp pháo – tên lửa phòng không “Kortik”

Tổ hợp đạo hàng

+ “Beisur”

Các khí tài đạo hàng vô tuyến

+  “Rezistor K-4” (Cake Stand) điều khiển máy bay

+ “Gazon” (Fly Trap B) điều khiển máy bay

+ “Tur-434” kiểm soát chiến đấu của máy bay

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp “Buran-2” với 51 khí tài thuộc các tần số khác nhau

+ 2 “Kristall-BK” (Low Ball) thông tin liên lạc vệ tinh

Đài ra đa định vị hội thoại nói
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #428 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 12:05:53 pm »

Các tàu tuần dương tên lửa lớp “Groznưi” – lớp Kynda – Đề án 58


Tổng số tàu đã đóng: 4

Biến thể: không có

Đề án tàu phóng lôi với vũ khí phản lực điều khiển (tên gọi trước đó của các tên lửa điều khiển) thế hệ mới được bắt đầu thiết kế vào năm 1956. Mùng 6 tháng 12 cùng năm, Tư lệnh Hải quân – Đô đốc S.G.Gorshkov đã khẳng định sự đồng ý với Bộ công nghiệp đóng tàu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế đề án sơ bộ tàu khu trục mới, còn trước đó không lâu – 16 và 24 tháng 10 cùng năm, Phó Tư lệnh Hải quân đã khẳng định tương một cách tương ứng sự đồng ý với các Bộ công nghiệp đóng tàu, Bộ công nghiệp hàng không, Bộ công nghiệp quốc phòng và Bộ công nghiệp xe máy nhiệm vụ kỹ - chến thuật thiết kê tổ hợp vũ khí phản lực phòng không tầm gần (sau đó là tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”) và tổ vũ khí phản lực tiến công (sau đó là tên lửa chống tàu P-35). Bằng cách này, việc thiết kế Đề án, nhận số hiệu 58, thực tế được thiết kế một cách đồng bộ với sự thiết kế vũ khí chính. Việc này xác định một cách tương đối sự thiết kế hoàn toàn và hầu như không “tìm kiếm” việc thiết kế đề án – được thay đổi từ giai đoan này sang giai đoạn khác mà chỉ trong cấp độ, có sự zíc zắc trong việc thiết kế tổ hợp vũ khí chính.

Việc thiết kế tàu được giao cho Phòng thiết kế Trung ương số 53, vào thời điểm đó đã hoàn thành chuyên môn hóa trong vai trò phòng thiết kế chính theo các lớp tàu chiến nổi cơ bản. Tổng công trình sư sau thời gian “nghỉ” dài (từ đề án 41) một lần nữa được giao cho V.A.Nikitin, còn nhóm giám sát viên từ Hải quân là Thuyền trưởng – kỹ sư cấp 2 P.M.Khokhlov. Đề án sơ bộ 58 được thiết kế vào năm 1957. Đối với kiểm soát việc đóng tàu, Hải quân đã đưa ra đơn đặt thiết kế đề án kỹ thuật, đã hoàn thành trong tháng 3 năm 1958.

Tàu khu trục đầu tiên (sau đó nhận tên gọi “Groznưi”) được khởi công ở Leningrad ngày 23 tháng 3 năm 1960, còn tháng 6 năm 1962, tàu đã được mang tới các thí nghiệm cấp nhà nước. Trong quá trình đóng tàu đã thực hiện việc hoàn thành phân loại cho tàu mà tới thời điểm đó trong các tài liệu chính thức được gọi một cách không chính xác là “tàu với vũ khí phản lực”. Có lẽ là do quan điểm gốc (đầu tiên) của lãnh đạo đất nước khi đó với vai trò của các tàu nổi từ một mặt, mặt khác – sự “ngại”trong tiếp nhận các khái niệm truyền thống – tàu tuần dương, tàu khu trục… Tình trạng xảy ra vào đầu những năm 1960 và tàu mới chính thức được được phân loại sang lớp tàu tuần dương, phân lớp tàu tuần dương tên lửa – tàu cấp 1. Về tên gọi trước đó, gợi lại tên gọi của tàu phóng ngư lôi và là sự kết hợp của tàu tuần dương – phóng lôi phổ biến.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #429 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 12:07:11 pm »

Hình, hình vẽ và bản vẽ màu tàu tuần dương tên lửa đề án 58





Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM