Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:32:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329797 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #430 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 12:08:20 pm »

Bản vẽ thiết kế





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #431 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2012, 01:21:50 pm »

Là sự tiếp tục theo logic của sự hình thành lớp tàu tên lửa lớn, các tàu khu trục trước đó, trong sự liên quan tới Đề án 58, đóng những vai trò mang tính nguyên tắc đối với tàu mới. Trên tàu hoàn toàn không có thiết kế phòng thủ, do sự tính toán rằng nó hoàn toàn không phòng thủ trước tên lửa chống tàu có cánh. Trong đề án kỹ thuật có nghiên cứu sự phòng thủ chống mảnh đạn của các hầm tên lửa phòng không, nhưng đã bị loại bỏ theo nguyên nhân kinh tế về khối lượng. Trong thành phần vũ khí trang bị được đưa ra, hình dáng tối ưu của thân tàu là hình dáng với boong mũi kéo dài và thang nâng không lớn gần sống mũi. Thân tàu được chia ra thành 17 khoang không thấm nước. Bố cục tổng thể của tàu theo so sánh với các tàu được đóng trước đó khác biệt ở sự bố trí tổ hợp trạng chỉ huy chính trên thân, không có các buồng chiến đấu mở, thượng tầng số lượng không lớn. Các thượng tầng được chế tạo từ hợp kim nhôm – magie và từng phần cục bộ từ thép.

Vũ khí chính của tàu tuần dương tên lửa là tổ hợp tên lửa chống tàu mới tầm xa với tên lửa chống tàu có cánh P-35. Tổ hợp về bản chất gồm có các tên lửa có cánh với tầm bắn trên 250km, dẫn bắn theo các mặt phẳng đứng và ngang theo thiết bị phóng 4 khối (thùng - ống phóng), hầm đạn tên lửa dự trữ và hệ thống điều khiển trong quá trình bay “Binom”. Trên chính tàu tuần dương bố trí 2 tổ hợp ở mũi và mạn, trong nguyên tắc có thể tạo thành loạt phóng 8 tên lửa. Tuy nhiên, hệ thống điều khiển trong chế độ cơ bản cho phép chỉ thực hiện loạt bắn 4 tên lửa. Để bắn trên tầm xa tối đa, tàu phải tiếp nhận sự chỉ thị mục tiêu từ các nguồn bên ngoài, cụ thể, từ máy bay trinh sát và chỉ thị mục tiêu Tu-95RTs và để làm được việc này đã lắp tổ hợp chuyên dụng.

Điểm mới là sự bố trí ở mũi tàu tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” với thiết bị phóng hai dầm, 16 tên lửa phòng không và hệ thống điều khiển chỉ huy vô tuyến “Yatagan”. Để chống lại các tàu nổi hạng nhẹ và để tăng cường các khí tài phòng không, trên mạn tàu theo sơ đồ tuyến – tăng dần lắp 2 thiết bị tháp pháo kép tự động 76mm AK-726 với hệ thống điều khiển ra đa định vị chung “Turel”. Vũ khí chống ngầm của tàu tuần dương gồm có 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng với các ngư lôi tấn công 2 mục tiêu (theo các mục tiêu ngầm và nổi) và giữ lại các thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 truyền thống 12 nòng. Hệ thống điều khiển các ngư lôi chống ngầm “Zummer” được kết hợp với hệ thống điều khiển vũ khí chống ngầm “Buria”, điều khiển bắn bom phản lực.

Trang bị vô tuyến điện nhiệm vụ tổng hợp gồm có 2 đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Angara”, đài ra đa định vị đạo hàng “Don”, các khí tài đối kháng điện tử “Krab-11” và “Krab-12”, đồng thời đài thủy âm “Gercules-2M” với ăng ten dưới sống tàu. Ban đầu dự kiến bố trí trên các tàu thiết bị bắn nhiễu F-82-T trong thành phần có 2 thiết bị phóng đồng trục và tổng cơ số 792 đạn, nhưng chúng không được lắp (có thể còn không được chế tạo). Tới thời điểm hoàn thành việc đóng tàu tuần dương đầu tiên, một số hệ thống trang bị còn chưa được thiết kế. Sự không thuận lợi nhất là không có hệ thống “Uspekh-U”, sử dụng để cung cấp sự chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp P-35 từ nguồn bên ngoài, cho phép thực hiện các khả năng chiến đấu một cách từng phần bởi vì việc bắn tên lửa chính xác chỉ có thể thực hiện trong các phạm vi của rada.

Ở mạn tàu bố trí bãi đáp cất – hạ cánh cho trực thăng trinh sát và chỉ thị mục tiêu với các hệ thống đảm bảo và với kho đạn dưới boong cho trực thăng. Trực thăng ban đầu không được tính toán, và chỉ trong đề án kỹ thuật khi kéo dài phần cuối mạn tàu, vì thế, nó được tiếp nhận dưới dạng quá tải và việc đóng căn cứ của nó được tính toán một cách đơn thuần mang tính biểu tượng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #432 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2012, 06:03:25 pm »

Thiết bị năng lượng chính của tàu tuần dương vẫn giữ lại thiết kế nồi hơi truyền thống theo Đề án 56/57-bis với sự bố trí theo hàng trong 2 buồng máy – nồi hơi. Tuy nhiên, chính các nồi hơi cũng là khác nhau. Lần đầu tiên trên các tàu Liên Xô đã lắp các nồi hơi nước cột cao áp tự động, cho phép tăng công suất hoàn toàn lên 25% theo so sánh với thiết bị trên Đề án 57-bis và đảm bảo tốc độ tối đa hơn 34 hải lý. Ngoài ra, các yêu cầu đặc biệt đã được nhắc đến về việc phòng thủ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt và sự giảm trường vật lý của tàu, cụ thể, là trường nhiệt (nhiệt độ khí giảm thành công tới 60%). Trong vai trò tổ hợp tuabin răng cưa trên Đề án 58 đã lắp các tuabin TV-12, khác với các tuabin trước, TV-8 có công suất tổ hợp lớn, giảm khối lượng riêng 35% và lớn hơn 2-4% trong hệ số hoạt động hiệu quả.

Sự bất thường là cấu trúc của tàu tuần dương mới, vị trí chủ đạo là thương tầng – cột buồm nặng dạng hình kim tự tháp, hạ thấp số lượng lớn các trạm ăng ten xuống khá thấp so với ngoại hình gốc. Giải pháp này được đề ra bởi yêu cầu phân chia các diện tích lớn và khối lượng cho việc bố trí các tổ hợp khí tài vô tuyến điện, các yêu cầu chống vũ khí nguyên tử và cuối cùng, là yêu cầu về sự cố định vững chắc các ăng ten nặng. Cùng với đó, tàu vẫn duy trì hình dáng đẹp, phù hợp hoàn toàn với tên gọi “Groznưi” (Dữ dội).

Việc chế tạo tàu tương tự, có lượng choán nước tiêu chuẩn rất khiêm tốn (4 330 tấn) với sự phát triển danh mục khí tài chiến đấu và hỏa lực lớn, không nói quá, là chiến thắng lớn lao của trường thiết kế nội địa và toàn bộ các nhà chế tạo tàu tuần dương mới. Cần thiết với nhấn mạnh với niềm tự hào rằng, các tàu tương đương trong thời gian đó không hề có mặt trong trang bị Hải quân thế giới. Các chuyên gia nước ngoài từ thời điểm đó và tới thời điểm này không ngừng nhấn mạnh rằng, các thông số trong thiết kế của các tàu nga là sự đặc biệt trong việc trung hòa cao của các tổ hợp hỏa lực và các khí tài chiến đấu trong sự kết hợp với thiết kế tuyệt vời.

Các thông só chính của thiết bị nồi hơi trên tàu tuần dương tên lửa Đề án 58

+ lượng sản xuất hơi nước của mỗi nồi hơi: 95 tấn/h

+ áp suất làm việc của hơi nước: 64kg lực/cm2

+ nhiệt độ hơi nước: 4700 độ C

+ số vòng quay của trục trên tốc độ tối đa: 300 vòng/phút

+ sự tiêu thụ nhiên liệu riêng trong tốc độ tối đa: 329g/sức ngựa/h (845kg/dặm).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #433 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2012, 01:34:02 pm »

Chính phủ đã trao tặng vì sự thiết kế và chế tạo tàu tuần dương Đề án 58 giải thưởng Lenin, nhưng cũng như thường xảy ra, trong danh sách tặng thưởng không nhắc đến Tổng công trình sư nào cũng như không có giám sát viên chính của Hải quân. V.A.Nikitin sau khi hoàn thành công việc sáng tạo chính của mình đã được đưa đi “nghỉ có công”, còn P.M.Khokholov hầu như được miễn nhiệm cùng ông. Các bản vẽ cuối cùng theo tàu trong vai trò Tổng công trình sư được ký bởi A.L.Fisher và V.G.Korolevich. Như vậy, tàu tuần dương tên lửa Đề án 58 không trở thành “bài hát thiên nga” của nhà đóng tàu chiến Nga Xô viết Vladimir Alacsandrovich Nikitin, mà là thành quả lao động được “tinh chế” chuyên nghiệp được sử dụng.

Thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật của Hải quân, đánh dấu sự xuất hiện – ra đời các tàu tuần dương tên lửa mới, cùng với không chỉ những bước tiến chất lượng mà còn bằng những thành quả mới, nhưng ngày nay là những quan điểm sai lầm và lỗi. “Sự sảng khoái mang tính bệnh lý” về tàu tên lửa của những năm 1950 – đầu 1960, có nghĩa là sự tin tưởng gần như tuyệt đối và hả năng đa dạng của vũ khí tên lửa, không chỉ các nhà chính trị, thiết kế và lãnh đạo quân sự mà cả những nhà lý luận quân sự. Các tàu tuần dương tên lửa Đề án 58 được xem như tàu tuần dương không chỉ theo tên gọi mà còn trong thực tế tiếp nhận chiến đấu. Tính toán nghiêm túc rằng, các tàu này có khả năng tự hoạt động riêng lẻ, một mình chống lại cụm tàu sân bay của địch và tiêu diệt các tàu sân bay ngoài tầm đáp trả của địch bằng nhiều loạt tên lửa. Tên lửa phòng không được tính toán gần như sự đảm bảo tuyệt đối về khả năng đánh trả lại vũ khí tấn công đường không bất kỳ.

Dự định sẽ đóng trên 16 tàu tuần dương Đề án 58, nhưng thực tế đến năm 1964, chỉ đóng có 4. Việc này được giải thích bằng sự đánh giá lại hiệu quả (giá trị, ý nghĩa) – không thể đóng trong thời gian rất ngắn, còn bởi sự dịch chuyển các ưu tiên của ngàn đóng tàu và được biết đến nhiều nhất – các nguyên nhân chủ quan. Trong thời gian này, việc đóng các tàu nổi cho Hải quân Liên Xô, đã được thực hiện theo hai hướng chính: “tiến công” và “chống ngầm”. Việc triển khai ở Mỹ trong những năm 1960 hệ thống “Polaris”, một cách tự nhiên, đã đưa ra nhiệm vụ chống các tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo của đối thủ tiềm tàng lên hàng đầu. Liên quan tới thông tin này, thậm chí xa hơn là nhiệm vụ của Hải quân, các lãnh đạo và chính phủ với thuật ngữ “chống ngầm” đã nhận thức với sự hiểu biết tích cực, rằng trước hết cần đảm bảo “bật đèn xanh” cho chương trình bất kỳ dưới phương châm “chống ngầm”. Ngoài ra, chính Đề án 58 trong tổng thể có những nhược điểm được xác định: trong lượng choán nước rất “kẹp” và các kích thước không thể thực hiện yêu cầu tối đa điều kiện sống của thủy thủ đoàn (Hải quân bắt đầu “phục vụ chiến đấu”), tăng cường khả năng phòng không, tăng tầm bơi xa và thời gian hoạt động. Sự hoàn thiện vũ khí tên lửa không cần các thiết bị phóng quay lớn và phức tạp. Thực tế đã chỉ ra rằng sự nạp đạn của chúng – lâu, kéo dài và không thuận lợi đối với điều kiện chiến đấu. Sự đóng căn cứ tạm thời của trực thăng trên bãi cất hạ cánh trong điều kiện biển phức tạp làm cho nó nhanh chóng không sử dụng được.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #434 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2012, 11:57:21 am »

Các biến thể

Trong quá trình đại tu trên 3 tàu (“Groznưi”, Golovko” và “Varyag”) đã bố trí bổ sung 4 pháo 6 nòng 30mm AK-630 với 2 hệ thống ra đa định vị điều khiển “Vưmpel” trên mỗi cặp được lặp để phòng thủ các mục tiêu tầm thấp theo thành tàu. Những năm 1970, trên “Groznưi” và “Fokin” đã lắp hệ thống chưa hoàn thiện “Uspekh-U”, đài ra đa định vị 2 tọa độ MR-300 thay bằng đài ra đa định vị 3 tọa độ MR-310 “Angara-A”. Toàn bộ các tàu nhận được đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi “Don-2” thứ 2, trên một số tàu, tên lửa chống tàu 4K-44 được thay bằng tổ hợp hiện đại hơn “Progress”, còn tên lửa phòng không điều khiển V-600 – V-601. Ngoài ra, trên một số tàu tuần dương lắp khí tài và tổ hợp không dự kiến trước: đài nhiễu tích cực “Ograda”, hệ thống hội thoại nói “Parol”, tổ hợp đạo hàng vũ trụ “Shlyug”… Mỗi tàu có có những sự ghép bộ riêng, khác với các tàu còn lại của tổ hợp các hệ thống và khí tài.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên, nhận tên gọi “Groznưi”, được khởi công ở xưởng đóng tàu Leningrad mang tên A.A.Zhanov ngày 23 tháng 3 năm 1960, hạ thủy ngày 26 tháng 3 năm 1961, tháng 6 năm 1962, tàu đã được đưa đến các thí nghiệm cấp nhà nước. Trong quá trình đóng tàu đã diễn ra sự phân loại cuối cùng (đến thời điểm đó, trong các tài liệu chính thức đã được gọi tên không xác định như là “tàu với trang bị vũ khí”) – tàu tuần dương tên lửa, đặt từ 29 tháng 9 năm 1962. Ban đầu dự định đóng trên 16 tàu lớp này, nhưng thực tế ngay sau “Groznưi” chỉ đóng có “Đô đốc Fokin”, “Đô đốc Golovko” và “Varyag” cùng trên xưởng đóng tàu mang tên A.A.Zhdanov. Tàu sau cùng gia nhập biên chế Hải quân năm 1964.

Tình hình đến năm 2006

Các tàu tuần dương Đề án 58 đã phục vụ trong biên chế của 4 Hạm đội Hải quân Liên Xô. Chúng được thủy thủ đoàn nắm vững, tham gia một cách tích cực vào các nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu từ cuối những năm 1960, thường xuyên thăm các cảng nước ngoài. Trên các tàu không xảy ra các sự cố nghiêm trọng hoặc tai nạn, mang đến cơ sở kết luận rằng các tàu đáng tin cậy và thành công trong khai thác sử dụng.

Tàu tuần dương “Groznưi” bắt đầu phục vụ ở Hạm đội Phương Bắc, và cuối cùng  - Baltic. “Đô đốc Fokin” và “Varyag” đóng căn cứ ở Viễn Đông trong biên chế Hạm đội Thái Bình Dương. “Đô đốc Golovko” đến cuối những năm 1990 trong biên chế Hạm đội Biển Đen (ở đó được đại tu ở Sevastopol), trở thành “người sống lâu” nhất trong số các tàu cùng lớp. Trong giai đoạn 1990 – 99, trong thời gian tàu tuần dương tên lửa “Moskva” Đề án 1164 đang sửa chữa ở thành phố Nicloaev, nó là tàu tuần dương tên lửa duy nhất của Hạm đội Biển Đen và chỉ bị loại vào cuối năm 2002.

Năm 1967, tàu tuần dương tên lửa “Đô đốc Golovko” nằm trong khu vực chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ lực lượng vũ trang Ai Cập.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #435 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2012, 12:47:19 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Groznưi” (số hiệu xưởng 780); khởi công 23 tháng 2 năm 1960 ở xí nghiệp đóng tàu phương Bắc số 190; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 17 tháng 9 năm 1960; hạ thủy 26 tháng 3 năm 1961; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1962 và gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc; 5 tháng 10 nawm1966 chuyển sang Hạm đội Biển Đen; 6 tháng 10 năm 1984 – chuyển sang Hạm đội Baltic; 12-15 tháng 8 năm 1967 thăm Varna và Burgas (Bulgari); 29 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm 1968 – tới Cotor và Zelenika (Nam Tư); 20-27 tháng 7 năm 1969 – Havana (Cuba), 6-8 tháng 8 năm 1969 – For-de-Frans (Martinica); 20-25 tháng 4 năm 1972 – Casablanca (Maroc); 2-7 tháng 7 năm 1973 – Marsille (Pháp); 20-25 tháng 11 năm 1974 – Latacia (Syri), 19-23 tháng 7 năm 1984, 26-30 tháng 5 năm 1985 và 18-23 tháng 7 năm 1987 – Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức) và 19-24 tháng 7 năm 1988 – Sentsin (Ba Lan); từ 19 tháng 7 năm 1976 đến tháng 1 năm 1982 – đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; từ 1 tháng 4 năm 1989 trải qua đại tu ở Liepai, nhưng đến 24 tháng 6 năm 1991 bị tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 12 năm 1992, năm 1993 tháo thành kim loại.

+ “Steregusi” (số hiệu xưởng 781); từ 31 tháng 10 năm 1962 là “Vladivostoc”; từ 11 tháng 5 năm 1964 là “Đô đốc Fokin”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 17 tháng 9 năm 1960; khởi công 5 tháng 10 năm 1960 ở xí nghiệp số 190; hạ thủy 19 tháng 11 năm 1961; gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương mùa hè năm 1965; 26 tháng 11 đến 2 tháng 12 năm 1968 thăm cảng Mombasa (Kenia); 2-7 tháng 1 năm 1969 – Aden (Nam Yemen); 9-12 tháng 1 năm 1969 – Hodeida (Bắc Yemen), 5-9 tháng 4nawm 1969 – Nairobi, 19-23 tháng 4 năm 1970 và 10-14 tháng 3 năm 1977 – Port-Lui (Mavriki); tháo vũ khí và loại khỏi biên chế 30 tháng 6 năm 1993; giải tán 31 tháng 12 năm 1993.

+ “Doblestnưi” (số hiệu xưởng 782), từ 18 tháng 12 năm 1962 là “Đô đốc Golovko”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 12 năm 1960; khởi công 20 tháng 4 năm 1961 ở xí nghiệp số 190; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1962; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1964; gia nhập Hạm đội Phương Bắc 22 tháng 1 năm 1965; từ 1 tháng 6 đến 31 tháng 6 năm 1967 nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ cho lực lượng vũ trang Ai Cập; 22 tháng 3 năm 1968 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 8-13 tháng 5 năm 1970 thăm Algieri; 3-7 tháng 8 năm 1972 – tới Constantsa (Rumani), 21-26 tháng 8 năm 1975 – tới Tunidi và 22-27 tháng 6 năm 1978 – tới Latacia (Syri); từ 4 tháng 6 năm 1982 đến 1 tháng 3 năm 1989 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol; cuối năm 2002 tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Soobrazitelnưi” (số hiệu xưởng 783); từ 30 tháng 10 năm 1962 là “Varyag”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 5 tháng 8 năm 1961; khởi công 13 tháng 10 năm 1961 ở xí nghiệp số 190; hạ thủy 7 tháng 4 năm 1963; gia nhập biên chế 20 tháng 8 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 23 tháng 9 năm 1965; 10-14 tháng 10 năm 1981 thăm Đà Nẵng (Việt Nam); tháo vũ khí và loại khỏi biên chế 19 tháng 4 năm 1990; giải thể 21 tháng 5 năm 1991. Trong giai đoạn phục vụ đã mang cờ Cận vệ, thừa hưởng từ tàu khu trục “Soobrazitelnưi” Đề án 7-U thuộc Hạm đội Biển Đen.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #436 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2012, 12:53:57 pm »

Các thông số kỹ chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 4330

+ hoàn toàn: 5380

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 142 (134)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 16 (15,2)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 5,1 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KVN-95/64, 2 thiết bị tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

+ các máy phát điện – diezel DG-500, công suất (kW): 2x500

+ các máy phát điện tuabin TD-750, công suất (kW): 2x750

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 34,5

+ tuần tra: 14

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3500 (18)

Thời gian hoạt động, ngày: 10

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 399 (27).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #437 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2012, 12:58:20 pm »

Vũ khí

Tên lửa tấn công

+ thiết bị phóng SM-70 thuộc tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35: 2x4

+ tên lửa chống tàu có cánh P-35 hoặc “Progress” (SS-N-3B “Sepal”): 16

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng ZIF-101 của tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 1x2

+ tên lửa phòng không V-600 (SA-N-1 “Goa”): 16

Pháo

+ thiết bị pháo AK-726 76,2mm: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không tự động AK-630 30mm (trừ “Fokin”): 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm TTA-53-57-bis: 2x3

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn: RGB-60): 96

Không quân (hàng không)

+ bãi đáp cho trực thăng Ka-25RTs (“Hormone B”): 1.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #438 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2012, 08:09:53 pm »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: “Planset-58”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 2xMR-300 “Angara” (Head Net A) hoặc

+ 1xMR-300 và 1xMR-310 “Angara-A” (Head Net C) hoặc

+ 2xMR-300 “Angara-A” (Head Net C) trên “Varyag”

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Don” (Don)

+ 1x”Don-2” (Don-II) lắp sau

Đài thủy âm: GS-572 “Gerkules-2M”

Các khí tài đối kháng điện tử

+ “Krab-11” và “Krab-12” nhiễu tích cực (chủ động)

+”Bizan-4D” trinh sát kỹ thuật vô tuyến

+ MR-262 “Ograda-1” (Guard Dog) trên “Groznưi”

+ “Zaliv-15-16”; “Zaliv-13-14”; “Zaliv-11-12”

(4 Top Hat; Bell Clout; Bell Tap; Bell Slam)

Các khí tài quang điện

+ 2xMT-45 (Tee Plinth) trừ “Groznưi”

+ 2xVPB-452 (quan sát chỉ huy)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x4R-44 “Binom” (Scoop Pair) cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh P-35

+ 2x”Uspekh-U” (Plinth Net) tiếp nhận chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh (trên “Fokin” và “Groznưi”)

+ 1x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 1xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

(lắp sau, trừ “Fokin”)

Các khí tài thông tin liên lạc

+ 6 tổ hợp máy phát bước sóng ngắn và trung bình

+ 12 máy thu

+ 6 khí tài thông tin liên lạc vô tuyến (tổng cộng 34 ăng ten)

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B)

+ hệ thống hội thoại “Parol” (không phải trên toàn bộ).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #439 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 03:39:01 pm »

Tàu tuần dương tên lửa hạt nhân Đề án 1165 “Fugas”


Đề án dự kiện của một trong số các phương án phác thảo trước đó của đề án tàu tuần dương tên lửa đề án 1165 "Fugas". Tàu được trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu có cánh "Malakhit", tổ hợp tên lửa phòng không "Korshun" và "Volna", đồng thời các thiết bị ngư lôi, pháo 76mm và tổ hợp pháo phòng không 30mm cùng thiết bị phóng bom phản lực.

Tổng số tàu đã đóng: 0

Biến thể: 0

Năm 1961, trong biên chế Hải quân Mỹ đã gia nhập tàu nổi nguyên tử đầu tiên – tàu tuần dương trang bị vũ khí tên lửa điều khiển “Long Big”. Ở Liên Xô, các công việc nghiên cứu theo xác định hình dáng tàu tương tự được bắt đầu muộn hơn – trong năm 1964. Nhưng các công việc được tiến hành một cách cẩn thận. Nguyên nhân không chỉ ở sự tiếp cận mới mà còn ở quan điểm riêng của N.S.Khrusev trong vai trò phát triển Hải quân Liên Xô, cụ thể là các tàu nổi (đặc biệt là tàu lớn).

Tuy nhiên, mong muốn có tàu đại dương hoạt động không hạn chế, có khả năng hoạt động độc lập trên các khu vực xa xôi thuộc đại dương và tìm kiếm, tiêu diệt các tàu ngầm nguyên tử tên lửa của địch đã dẫn tới việc bắt đầu các công việc trên đề án 1144 “Orlan”. Theo phân loại ban đầu, nó là tàu tuần tiễu, sau đó là tàu chống ngầm lớn. Đặc biệt là đối với nó đã chế tạo thiết bị năng lượng nguyên tử 2 lò phản ứng, còn ngoài ra, theo mệnh lệnh riêng của Bộ Tổng tư lệnh, tàu phải được trang bị thiết bị năng lượng dự bị trong nhiên liệu hạn chế. Việc thiết kế “Orlan” là phức tạp và diễn ra trong quá trình khá chậm. Kể từ những giai đoạn “bò lên phía trước” đầu tiên là lượng choán nước đã xuất hiện sức hút lớn trong lựa chọn vũ khí. Tàu thường xuyên được tăng cường kích thước và trở nên “nhỏ” trong phân lớp tàu tuần tra – nguyên mẫu đầu tiên. Nguyên nhân trong đó, rằng Hải quân cũng như bên đặt đóng đã không hiểu rằng, tàu thực sự cần gì, toàn bộ quan điểm và việc thực hiện phải phối hợp mà ở Liên Xô hồi đó hầu như không có. Dần dần, từ những người ủng hộ đề án 1144 đã trở thành con tàu, mà nó cần được bảo vệ. Kết quả là một lần nữa quay lại với quan điểm “cặp đôi”: 1 tàu thực hiện nhiệm vụ săn tàu ngầm địch, còn tàu khác bảo vệ nó.

Đề án 1165 “Fugas” đã xuất hiện như vậy, tàu thứ 2 với thiết bị năng lượng nguyên tử, nhưng với vũ khí tên lửa chống tàu và phòng không mạnh. Mặc dù theo bản thân, đề án rất triển vọng với quan điểm kỹ thuật, nó đã trở thành đặc thù “cố chấp” và chỉ “sống” trên giấy tờ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM