Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:39:38 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330290 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #490 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 02:56:28 am »

Vào năm 1955, tàu tuần dương hạng nhẹ “Đô đốc Nakhimov” sau khi trang bị lại theo đề án 67-EP trong loạt thí nghiệm – lần đầu tiên trong Hải quân Liên Xô đã nhận vào trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu “Strela”. Thiết bị phóng SM-58 được lắp ở mũi tàu, nhưng khi đó phải hy sinh 2 tháp pháo chính ở mũi. Sau đó tàu được trang bị lại theo đề án 67-SI.


Tàu tuần dương “Zhdanov” và “Đô đốc Senyavin” trong những năm 1966-72 đã trở thành các tàu tuần dương điều khiển (các đề án 68-U1 và U2), nhận được các trang thiết bị tương ứng, đồng thời thiết bị phóng tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M2”, nhưng khi đó phải mất bộ phận các pháo chính, đương nhiên, không chấp nhận được đối với các tàu này.

Năm 1957, trên tàu tuần dương “Đô đốc Ushakov” lần đầu tiên trong Hải quân đã chuẩn bị bãi đáp trực thăng tự chế và thực tế được tán thành. Sau đó, các bãi đáp trực thăng này được lắp một cách phổ biến trên các tàu mới.

Trên “Cách mạng tháng Mười”, “Ushakov” và “Kutuzov” đầu những năm 1970 theo đề án 68-A đã tăng cường vũ khí phòng không do kết quả lắp bổ sung tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-230, đồng thời lắp các khí tài kỹ thuật ra đa hiện đại hơn.

Bảy tàu tuần dương hạng nhẹ không được đóng xong theo quyết định một cách vội vàng (bất tài - по бездарному решению) của lãnh đạo đát nước khi đó đã ở giai đoạn phá dỡ (một số tàu đã ở trong tình trạng sẵn sàng về kỹ thuật hơn 80%), đóng lại theo đề án hiện đại hóa 68-bis-ZiF với sự tăng cường vũ khí phòng không bằng cách lắp pháo tự động 45mm ZiF-68. Ngoài ra, có các đề án trang bị lại các tàu tuần dương lớp “Sverdlov” theo đề án 67-bis và đề án 64 với việc láp các tên lửa chống tàu thay cho pháo, nhưng các công việc theo đề án này đã được dừng lại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #491 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 03:21:17 am »

Chú thích bố cục chung của tàu tuần dương hạng nhẹ "Sverdlov":


1-tháp pháo 152mm MK-5 bis; 2-pháo phòng không 37mm V-11; 3-trạm chỉ huy-đo xa; 4-thiết bị pháo đa năng 10mm SM-5-1; 5-trạm ngắm (bắn) ổn định; 6-ăng ten đài ra đa định vị ; 7-khoang hóa chất (hóa học); 8-buồng lái; 9-thuyền con bốn tay chèo; 10-trạm chỉ huy dự bị (ZKP); 11-thuyền con tuần tra; 12-khoang nồi hơi bổ sung (dự bị); 13-buồng hoa tiêu; 14-buồng chỉ huy tiểu đoàn phòng không; 15-trạm quan sát (giám sát) tàu ngầm và (đường) chân trời; 16-khoang quan trắc; 17-trạm chỉ huy chính (buồng chiến đấu); 18-đài chỉ huy truyền động; 19-buồng thủy thủ; 20-nhà kho; 21-hộp xích; 22-khoang thủy âm; 23-kho đạn pháo 152mm; 24-kho liều phóng đạn 152mm; 25-buồng máy phát điện diesel; 26-trạm năng lượng và cho người ở (PEZh); 27-buồng nồi hơn; 28-thùng dầu; 29-buồng máy; 30-kho đạn ngư lôi; 31-khoang chênh mớn nước; 32-ray thả mìn; 33-thuyền sáu tay chèo; 34-thiết bị ngư lôi 5 ống 533mm; 35-ca nô; 36-thuyền buồm sáu tay chèo.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Sáu, 2012, 12:09:45 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #492 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 12:12:56 pm »


Sự bố trí vũ khí trên các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis

1-thiết bị pháo chính 3 nòng 152mm MK-5-bis; 2-các pháo tự động 37mm V-11M; 3-trạm chỉ huy đo xa KDP-2-8III điều khiển pháo chính; 4-thiết bị pháo 100mm SM-5-1; đài ra đa định vị (điều khiển) bắn “Zalp”; 6-trạm dẫn bắn ổn định SPN-500 với đài ra đa định vị “Yakor” để điều khiển các pháo đa năng; 7-thiết bị ngư lôi 5 ống phóng 533mm PTA-53-68bis; 8-đài ra đa định vị “Rif”; 9-đài ra đa định vị “Gyuis”; 10-rãnh dẫn hướng cho mìn (thủy lôi).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #493 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2012, 12:36:33 pm »

Chương trình đóng tàu


Tàu tuần dương đề án 68-bis đầu tiên, được đặt tên “Sverdlov” (đồng thời nó trở thành tên gọi của lớp tàu này theo Phương Tây – “lớp Sverdlov”), được khởi công ở xưởng đóng tàu Baltic tại Leningrad (xưởng số 189) ngày 15 tháng 10 năm 1949, hạ thủy mùng 5 tháng 7 năm 1950 và gia nhập biên chế 15 tháng 5 năm 1952 (tổng cộng ở xưởng này đã đóng 6 tàu). Ngoài ra, việc đóng các tàu tuần dương này được triển khai ở xưởng đóng tàu Admiraltei (Leningrad, xưởng số 194 – 3 chiếc), xưởng Sevmash (Molotovsk, số 402 – 2 tàu) và xưởng đóng tàu biển Đen ở Nicolaev (số 444 – 3 tàu). Đây là dòng tàu tuần dương lớn nhất trong lịch sử đóng tàu Liên Xô. Sự tiếp nhận công nghệ mới cho phép rút ngắn thời gian đóng chúng gần 2 lần. Thời gian đóng các tàu này được được thực hiện trong 2,5 năm.

Gần năm 1955, trong số 21 tàu được khởi công (tổng cộng theo kế hoạch đóng 25 tàu), chỉ có 14 tàu trong lớp này được đóng, trở thành những tàu lớn nhất trong biên chế Hải quân sau khi các tàu chủ lực cũ bị loại khỏi biên chế. Sự vội vàng của Khrusev về khái niệm “tàu tên lửa” và những người thân cận của ông ta (trong đó có S.G.Gorshkov) đã phản ánh sự tiêu cực trong số phận của các con tàu này. Như thực tế các tàu đã được đóng toàn bộ (7 tàu đề án 68-bis-ZiF) đã bị xẻ kim loại (5 trong số chúng đã hoàn thành 70-84%), mặc dù các phòng thiết kế khác đã thiết kế cho đề án nhằm trang bị vũ khí tên lửa cho chúng (tên lửa chống tàu và tên lửa phòng không).

Ngoài các tàu đã được liệt kê, dự kiến đóng tàu pháo tuần dương hạng nhẹ số hiệu xưởng 631 (xưởng Leningrad số 194) và số hiệu xưởng 396 (xưởng Nicolaev số 444), các đơn đặt đóng đã bị hủy.

Tàu tuần dương “Ordzhonikidze” được bán năm 1963 cho Hải quân Indonesia và đổi tên thành “Irian” (năm 1972 bị loại).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #494 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2012, 01:13:09 pm »

Tình hình đến năm 2005


Sau khi gia nhập biên chế, các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis được bố trí theo các hạm đội theo số lượng sau: Hạm đội Cờ đỏ Baltic: 4 (trong đó 1 được bán, 1 được chuyển sang Hạm đội Biển Đen), Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen: 3; Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương: 4; Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc: 3. Trong tháng 8 năm 1961, tàu tuần dương hạng nhẹ “Dzerzhinski” đề án 70-E được phân loại lại thành tàu tuần dương huấn luyện.

Như đã nhắc trước đó, lãnh đạo đất nước trong những năm nay đã tính rằng thời đại tàu nổi lớn đã kết thúc. N.S.Khrusev đã nói thẳng rằng ông ta cho rằng những tàu này là những mục tiêu tốt cho tên lửa, và chúng chỉ thích hợp cho các nghi lễ trang trọng ở các nước khác. Một phần nào đó đã nhận được kết quả tích cực: các tàu tuần dương “Sevrdlov” thường thực hiện việc tới các cảng nước ngoài với các cuộc viếng thăm chính thức, trong đó, với người đứng đầu chính phủ trên tàu.

Sự phát triển Hải quân đánh bộ thuộc Hải quân trong những năm 1970 yêu cầu sự có mặt các tàu pháo trong nhiệm vụ đảm bảo hỏa lực yểm trợ đổ bộ cho Hải quân đánh bộ. Và ở đây, vai trò quan trọng nhất là các tàu tuần dương 68-bis – khi đó, không có các tàu lớn hơn trong Hải quân Liên Xô. Đồng thời, các tàu này được sử dụng để giám sát và theo dõi cụm tàu sân bay Hải quân Mỹ, rất hiệu quả trong khả năng kiềm chế trong trường hợp xảy ra chiến tranh, pháo 152mm của tàu tuần dương theo tính toán trong vài phút có thể làm cho bất kỳ tàu sân bay nào trở thành đống kim loại.

Nằm trong khu vực hoạt động chiến đấu, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu theo sự yểm trợ hỏa lực cho các lực lượng các nước đồng minh: “Dzerzhinsky – Ai Cập năm 1967 và 1973, “Kutuzov” – Ai Cập năm 1967 và 1968 và Siry – 1970, “Murmansk” – Ai Cập năm 1970-71.

Tai nạn nghiêm trọng nhất với hậu quả nặng nề trên tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis là đám cháy trong tháp pháo. Trong thời gian huấn luyện bắn trên tàu tuần dương “Đô đốc Senyavin” 13 tháng 6 năm 1978, sau 8 loạt bắn trên pháo đầu tiên trong tháp pháo thứ nhất đã xảy ra sự cố. Theo nguyên nhân không rõ ràng, khẩu đội đã chuyển từ nạp đạn tự động tới bằng tay, bao gồm 2 đóng sự mở khóa nòng. Sau đó khóa nòng được mở và đạn – được chuẩn bị cho lần bắn thứ 9 được đẩy vào nòng, nơi nó được phân phối cho phát bắn thứ 9. Đám cháy đã xảy ra trong tháp pháo. Vụ nổ kho đạn đã đánh chìm kho đạn này, còn đám cháy được dập bằng các hệ thống chữa cháy trên tàu. Kết quả 37 người hy sinh. Từ trường hợp này rõ ràng rằng, không có sự đóng (khóa) nào có thể “cứu” được sự cố.

Trong số toàn bộ các tàu tuần dương dòng này đến năm 2000, chỉ duy nhất 1 tàu được giữ lại – “Mikhail Kutuzov” đề án 68-A nằm trong sự bảo quản dài hạn ở Sevastopol, sau đó được trang bị lại thành tàu – bảo tàng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #495 vào lúc: 21 Tháng Sáu, 2012, 01:44:27 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Sverdlov” (số hiệu xưởng 408). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947; khởi công 15 tháng 10 năm 1949 ở xưởng số 189; hạ thủy 5 tháng 7 năm 1950; gia nhập biên chế 15 tháng 5 năm 1952; gia nhập biên chế Hải quân số 4 31 tháng 8 năm 1952; 11-18 tháng 6 năm 1953 và 12-17 tháng 10 năm 1955 thăm cảng Porstmouth (Anh); 20-25 tháng 7 năm 1956 – Rotterdam (Hà Lan); 5-9 tháng 10 năm 1973 và 27 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1975 – tới Gdưno (Ba Lan), 16-22 tháng 4 năm 1974 – tới Algie, 21 -26 tháng 6 năm 1974 – tới Sherbur (Pháp), 5-9 tháng 10 năm 1976 – Rostok (Cộng hòa dân chủ Đức), 21-26 tháng 6 năm 1976 – tới Bordeaux (Pháp), 24 tháng 12 năm 1955 chuyển đến Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 24 tháng 12 năm 1960 – 14 tháng 7 năm 1961 và 12 tháng 2 năm 1966 – 29 tháng 4 năm 1966 trải qua đại tu ở Leningrad; sau khi bị loại khỏi biên chế Hải quân, bảo quản dài và đưa vào neo đậu, 11 tháng 2 năm 1972, tháo niêm cất và đưa lại biên chế, 7 tháng 2 năm 1977 lần thứ hai được đại tu, 14 tháng 2 năm 1978 đưa vào niêm cất và đưa tới Liepai để bảo trì dài hạn; 30 tháng 5 năm 1989, tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể 31 tháng 10 năm 1989; năm 1990 bán cho công ty tư nhân Indonesia để lấy kim loại.

+ “Dzerzhinski” (số hiệu xưởng 374). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947, khởi công 21 tháng 12 năm 1948 ở xưởng số 444, hạ thủy 31 tháng 8 năm 1950, gia nhập biên chế 18 tháng 8 năm 1952, gia nhập Hạm đội Biển Đen 30 tháng 8 năm 1952, 15 tháng 10 năm 1957 – 24 tháng 12 năm 1958 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 70-E; 3 tháng 8 năm 1961 phân loại lại thành tàu tuần dương hạng nhẹ huấn luyện, 20-26 tháng 8 năm 1964 thăm Konstants (Rumani), 10-14 tháng 7 năm 1967 – tới Port-Said (Ai Cập), 9 -12 tháng 8 năm 1969 – tới Varna (Bulgari), 26-30 tháng 4 năm 1971 – Gavr (Pháp), 14-18 tháng 12 năm 1971 – tới Latakia (Siry), 30 tháng 6-4 tháng 7 năm 1977 – tới Tunis, 20-25 tháng 10 năm 1978 – tới Pirei (Hy Lạp), 16-20 tháng 11 năm 1978 – tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ), 5-30 tháng 6 năm 1967 và 5-24 tháng 10 năm 1973, nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ lực lượng vũ trang Ai Cập, 19 tháng 2 năm 1980 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa tới neo đậu ở Sevastopol, tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 10 năm 1988, giải thể 9 tháng 12 năm 1988.

+ “Ordzhonikidze” (số hiệu xưởng 600), ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 12 năm 1947, khởi công 19 tháng 10 năm 1949 ở xưởng số 194; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1950, gia nhập biên chế 18 tháng 8 năm 1952, gia nhập biên chế Hải quân số 4 31 tháng 8 năm 1952, 10-14 tháng 7 năm 1954 tới thăm Helsinki (Phần Lan), 18-27 tháng 4 năm 1956 – tới Porstmouth (Anh), 1-8 tháng 8 năm 1956 - tới Copenhagen (Đan Mạch), 1-11 tháng 8 năm 1958 – tới Helsinki một lần nữa; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 14 tháng 2 năm 1961 chuyển tới Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen, 5 tháng 4 năm 1962 rời Sevastopol để bàn giao cho Hải quân Indonesia, 5 tháng 8 năm 1962 đã tới cảng Surabaia, loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 1 năm 1963, giải thể 29 tháng 1 năm 1963, gia nhập biên chế Hải quân Indonesia dưới tên gọi “Irian”, năm 1972, tháo vũ khí và bán cho công ty Indonesia để lấy kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #496 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2012, 06:34:02 pm »

+ “Zhdanov” (số hiệu xưởng 419); từ 21 tháng 2 năm 1989 là KRU-101. Ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948; khởi công 11 tháng 2 năm 1950 ở xưởng số 189; hạ thủy 27 tháng 12 năm 1950; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 25 tháng 1 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 31 tháng 2 năm 1970 tới Hạm đội Biển Đen; 12-18 tháng 9 năm 1957 và 12-17 tháng 5 năm 1975 thăm cảng Split (Nam Tư), 21 tháng 9-1 tháng 10 năm 1957 tới Latania (Siry), 3-7 tháng 7 năm 1975 tới Tulon (Pháp), 27 tháng 3 năm 1960 tới Messina (Italia), 10-14 tháng 10 năm 1983 – tới Pirei (Hy Lạp), 10-14 tháng 4 năm 1984 tới Tripoli (Libi), 27 tháng 3 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và neo đậu ở Kronshtadt, 21 tháng 12 năm 1965 tháo niêm cất và đưa vào biên chế; năm 1971 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 68-U1 và 27 tháng 12 năm 1971 phân loại lại thành tàu điều khiển, 7 tháng 2 năm 1977-3 tháng 8 năm 1977 và 12 tháng 9 năm 1986-13 tháng 6 năm 1988 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod”; sau khi được đưa vào danh sách dự bị, neo đậu ở Sevastopol; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể 11 tháng 2 năm 1991, tháng 2 năm 1992 bán cho công ty tư nhân của Indonesia để lấy kim loại.

+ “Alecsandr Nevski” (số hiệu xưởng 625). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948, khởi công 30 tháng 5 năm 1950 ở xưởng số 194, hạ thủy 7 tháng 6 năm 1950, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 15 tháng 2 năm 1953, 25 tháng 12 năm 1964 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và neo đậu ở vịnh Kolskom dưới Murmansk; 15 tháng 12 năm 1970, tháo niêm cất và gia nhập biên chế; 30 tháng 5 năm 1989 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 31 tháng 12 năm 1989 và sau đó bị xẻ lấy kim loại.

+ “Đô đốc Nakhimov” (số hiệu xưởng 375). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 1 tháng 12 năm 1948, khởi công 27 tháng 6 năm 1950 ở xưởng số 444, hạ thủy 29 tháng 6 năm 1951, gia nhập biên chế 27 tháng 3 năm 1953, gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 8 tháng 2 năm 1953, từ năm 1955 trang bị lại theo đề án 67-EP và được sử dụng làm mục tiêu thí nghiệm cho các thí nghiệm tên lửa chống tàu, 28 tháng 7 năm 1960 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ, năm 1961-62 bị xẻ thành kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Sevastopol.

+ “Đô đốc Ushakov” (số hiệu xưởng 626). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 11 năm 1950, khởi công 6 tháng 2 năm 1951 ở xưởng số 194, hạ thủy 29 tháng 6 năm 1952, gia nhập biên chế 8 tháng 9 năm 1953, gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 19 tháng 9 năm 1953, năm 1955 nhận phần thưởng của Tư lệnh Hải quân về bắn pháo, 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 3 tháng 11 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, năm 1957 trải qua thí nghiệm đảm bảo cất hạ cánh trên bãi đáp trên (mạn) tàu, 5 tháng 10 năm 1963 chuyển tới Hạm đội Biển Đen, 16-21 tháng 4 năm 1954 tới thăm Stockholm (Thụy Điển), 6-12 tháng 3 năm 1973 – tới Latania (Siry), 15-19 tháng 10 năm 1973 – tới Taranto, 19-22 tháng 10 năm 1973 – tới Messina (Italia), 7-10 tháng 8 năm 1981 – tới Varna (Bulgari), 18 tháng 2 năm 1964 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa tới Sevastopol neo đậu, 15 tháng 2 năm 1971 tháo niêm cất và gia nhập biên chế, từ 27 tháng 6 năm 1971 đến 16 tháng 12 năm 1971 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 68-A, 28 tháng 2 năm 1983 được đưa vào danh sách dự bị lần thứ 2 và niêm cất ở Sevastopol, 16 tháng 9 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, năm 1992 bán cho công ty tư nhân của Indonesia để tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #497 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2012, 06:59:55 pm »

+ “Đô đốc Lazarev” (số hiệu xưởng 626). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 11 năm 1950, khởi công 6 tháng 1 năm 1952 ở xưởng số 194, hạ thủy 29 tháng 6 năm 1952, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1953, gia nhập đơn vị Hải quân số 8 18 tháng 2 năm 1954, 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 27 tháng 2 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 22 tháng 10 năm 1956 – sau khi di chuyển trong thơi gian hè – thu năm 1956 theo đường biển Bắc từ Sevastopol tới Viễn Đông – chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương, 26 tháng 3 năm 1963 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa tới Havan Xô Viết neo đậu, 18 tháng 3 năm 1972 tháo niêm cất và trở lại biên chế, từ 18 tháng 9 năm 1980 tới 3 tháng 2 năm 1986 trải qua đại tu ở “Dalzavod” ở Vladivostoc, tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 10 năm 1986 giải tán 11 tháng 2 năm 1988, năm 1991 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để lấy kim loại.

+ “Alecsandr Suvorov” (số hiệu xưởng 436), khởi công 26 tháng 2 năm 1951 ở xưởng số 189, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, hạ thủy 15 tháng 5 năm 1952, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1953, gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 18 tháng 2 năm 1954, 12-17 tháng 10 năm 1955 thăm Portsmuoth (Anh), 26-31 tháng 5 năm 1981 – tới Aden (Nam Yemen), 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic, 27 tháng 2 năm 1956 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 1 tháng 12 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa vào neo đậu, tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 15 tháng 12 năm 1989, giải tán 19 tháng 4 năm 1990, tháng 11 năm 1991 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để lấy kim loại.

+ “Đô đốc Senyavin” (số hiệu xưởng 437). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 31 tháng 10 năm 1951 ở xưởng số 189, hạ thủy 22 tháng 12 năm 1952, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1954, gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 18 tháng 12 năm 1954, 24 tháng 2 năm 1955, chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 7 tháng 9 năm 1955 – sau khi hành quân theo đường biển Bắc từ biển Bắc tới Viễn Đông – chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương, 17-21 tháng 11 năm 1959 thăm Surabaia (Indoneisa), 14-19 tháng 1 năm 1973 – Bombei (Ân Độ), 15-20 tháng 3 năm 1973 – tới Mogadisho (Somali), 20-24 tháng 12 năm 1973 – tới Port-Lui (Mavriky), 5-10 tháng 11 năm 1979 – tới Hải Phòng (Việt Nam), từ 31 tháng 12 năm 1966 đến 24 tháng 7 năm 1972 nâng cấp và đóng lại ở “Dalzavod” ở Vladivostoc theo đề án 68-U2 và 13 tháng 3 năm 1973 phân loại lại thành tàu điều khiển, 13 tháng 6 năm 1978 trong thời gian bắn sát hạch ở tàu đã xảy ra đám cháy và nổ trong tháp pháo chính thứ nhất, 37 nguwoif hy sinh, 30 tháng 5 năm 1989 tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 15 tháng 12 năm 1989, năm 1992 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để tháo dỡ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #498 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2012, 05:03:26 pm »

+ “Molotovsk” (số hiệu xưởng 301), từ 3 tháng 8 năm 1957 là “Cách mạng tháng Mười”. Khởi công 15 tháng 7 năm 1952 ở xưởng số 402, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 2 tháng 9 năm 1953, hạ thủy 25 tháng 5 năm 1954, gia nhập biên chế 30 tháng 11 năm 1954, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 18 tháng 12 năm 1954, 3-7 tháng 8 năm 1956 và 30 tháng 8 – 3 tháng 9 năm 1958 – thăm Oslo (Na Uy), 8-12 tháng 8 năm 1956 và 8-12 tháng 9 năm 1958 – tới Gotenburg (Thụy Điển), 8-13 tháng 5 năm 1970 – tới Strabugr (Pháp), 17-22 tháng 8 năm 1971 – tới Copenhagen (Đan Mạch), 20-24 tháng 7 năm 1978 và 27-30 tháng 6 năm 1980 – tới Gdưnia (Ba Lan), 8-10 tháng 10 năm 1978, 4-9 tháng 10 năm 1979 và 9-14 tháng 8 năm 1982 – tới Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức), 16 tháng 12 năm 1960 chuyển tới Hạm đội Baltic, 27 tháng 3 năm 1961 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, niêm cất và đưa tới Cronshtadt neo đậu, 29 tháng 4 năm 1966 tháo niêm cất và trở lại biên chế, 16 tháng 11 năm 1968-25 tháng 12 năm 1969 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol theo đề án 68-A, 17-23 tháng 7 năm 1970 và 29 tháng 9-1 tháng 10 năm 1972 – nằm trong khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ chiến đấu yểm trợ các lực lượng vũ trang Siri, còn 17 tháng 5-25 tháng 6 năm 1971, 5-9 tháng 7 năm 1971 và 8-12 tháng 9 năm 1972 – cho quân đội Ai Cập, 16 tháng 9 năm 1987 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 11 tháng 2 năm 1988, năm 1989-90 bị tháo thành kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Leningrad.

+ “Mikhail Kutuzov” (số hiệu xưởng 385). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 9 tháng 11 năm 1950, khởi công 23 tháng 2 năm 1951 ở xưởng số 444, hạ thủy 29 tháng 11 năm 1951, gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1954, gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 1 năm 1955, 31 tháng 5-4 thangs6 năm 1956 và 30 tháng 8-3 tháng 9 năm 1964 thăm Split (Nam Tư), 5-10 tháng 6 năm 1956 và 30 tháng 8 -3 tháng 9 năm 1957 – tới Durres (Albani), 2-13 tháng 8 năm 1964 – tới Varna (Bulgari), 1 tháng 6-31 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 8-31 tháng 12 năm 1968 nằm trong khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập, 1 tháng 3-31 tháng 7 năm 1970 – cho quân đội Siri, từ 1 tháng 12 năm 1986 đến năm 1989 nâng cấp và đóng lại ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol theo đề án 68-A, sau đó đưa vào lực lượng dự bị, sau đó niêm cất và neo đậu ở Sevastopol, cuối những năm 1990 được tiếp nhận quyết định trang bị lại cho tàu tuần dương hạng nhẹ thành bảo tàng, 29 tháng 11 năm 2000 kéo tới ụ PD-30 trang bị lại thành SRZ-13, 3 tháng 1 năm 2001 kéo khỏi ụ và đưa tới bến tàu vịnh Troyts ở Sevastopol.

+ “Dmitri Pozharski” (số hiệu xưởng 445). Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 31 tháng 2 năm 1952 ở xưởng số 189, hạ thủy 25 tháng 6 năm 1953, gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1954, gia nhập biên chế lực lượng Hải quân số 4 31 tháng 1 năm 1955, 24 tháng 2 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc, 7 tháng 9 năm 1955 – sau khi hành quân theo đường biển Bắc từ Severomorsk tới Viễn Đông – chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương, 21-26 tháng 6 năm 1956 tới thăm Thượng Hải (Trung Quốc), 28-31 tháng 3 năm 1968 – tới Madras và 3-6 tháng 4 năm 1968 – tới Bombei (Ấn Độ), 17-24 tháng 4 năm 1968 – tới Mogadiso (Somali), 11-19 tháng 5 năm 1968 tới Umm-Kasr (Iraq), 25 tháng 5-2 tháng 6 năm 1968 – tới Karachi (Pakistan), 5-9 tháng 6 năm 1968 – tới Bender-Abbas (Iran), tháng 6 năm 1968 – tới Aden (Nam Yemen), 6-11 tháng 7 năm 1968 – tới Kolombo (Sri Lanka), 25 tháng 4 năm 1969-23 tháng 10 năm 1970 và 1 tháng 2 năm 1981-1 tháng 1 năm 1985 trải qua đại tu ở “Dalzavod” ở Vladivostoc, 30 tháng 1 năm 1979 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa tới Vladivostoc neo đậu, tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 5 tháng 3 năm 1987, giải tán 16 tháng 9 năm 1987, năm 1990 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ thể tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #499 vào lúc: 24 Tháng Sáu, 2012, 05:42:55 pm »

+ “Murmansk” (số hiệu xưởng 302). Khởi công 28 tháng 1 năm 1953 ở xưởng số 402, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1953, hạ thủy 24 tháng 4 năm 1955, gia nhập biên chế 22 tháng 9 năm 1955, gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 6 tháng 10 năm 1955, 17-21 tháng 10 năm 1964 tới thăm Tronheim (Na Uy), 10-14 tháng 5 năm 1978 – tới Bordeaux (Pháp), từ 1 tháng 11 năm 1970 tới 31 tháng 7 năm 1971 nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ lực lượng vũ trang Ai Cập, 28 tháng 1 năm 1972-30 tháng 11 năm 1973 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” tại Sevastopol, 1 tháng 12 năm 1989 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, niêm cất và đưa đến neo đậu ở vịnh Kolsk, 3 tháng 7 năm 1972 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân, giải tán 31 tháng 12 năm 1992, năm 1994 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ để lấy kim loại.

+ “Serbakov” (số hiệu xưởng 627). Khởi công tháng 6 năm 1951 ở xưởng số 194, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, hạ thủy 17 tháng 3 năm 1954, rút khỏi đóng khi tình trạng sẵn sàng kỹ thuật 80,6% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Đô đốc Korrnilov” (số hiệu xưởng 395). Ghi tên danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 16 tháng 11 năm 1951 ở xưởng số 444, hạ thủy 17 tháng 3 năm 1954, dừng đóng khi tình trạng sẵn sàng kỹ thuật 70,1% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Cronshtadt” (số hiệu xưởng 453). Khởi công tháng 4 năm 1953 ở xưởng số 189, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1953, hạ thủy 11 tháng 9 năm 1954, dừng đóng khi tình trạng sẵn sàng kỹ thuật 84,2% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Talin” (số hiệu xưởng 454). Khởi công 28 tháng 9 năm 1953 ở xưởng số 189, ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 8 năm 1953, hạ thủy 28 tháng 5 năm 1955, dừng đóng khi sự chuẩn bị kỹ thuật 70,3% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Varyag” (số hiệu xưởng 460). Khởi công 5 tháng 2 năm 1954 ở xưởng số 189 và ghi tên vài danh sách tàu Hải quân, hạ thủy 5 tháng 6 năm 1956, rút đóng trong tình trạng kỹ thuật 40% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Kozma Minin” (số hiệu xưởng 628, sau đó là 303), từ 25 tháng 9 năm 1953 là “Archangelsk”. Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công tháng 6 năm 1952 ở xưởng số 194, hạ tủy mùa thu năm 1953 và kéo trên xà lan tới xưởng 402 để đóng tiếp, dừng đóng khi sự chuẩn bị kỹ thuật 68,1% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.

+ “Dmitri Donskoi” (số hiệu xưởng 629, sau đó là 304), từ 25 tháng 9 năm 1953 là “Vladivostoc”. Ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 31 tháng 8 năm 1959, khởi công tháng 4 năm 1953 ở xưởng số 194, hạ thủy mùa thu năm 1953 và được kéo trên xà lan tới xưởng số 402 để đóng tiếp, dừng đóng khi sự chuẩn bị kỹ thuật 28,8% và loại khỏi biên chế Hải quân 2 tháng 9 năm 1959.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM