Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:38:17 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329726 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #510 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2012, 01:20:37 pm »

Việc ngừng các công việc theo đề án 82 là hợp lý – nó không mang ý nghĩa trong việc tăng cường sức mạnh Hải quân Liên Xô trong tương lai. Vào cuối những năm 1960, đã trở nên rõ ràng rằng để thực hiện công kích vào cụm tàu sân bay của Hải quân Mỹ trong phạm vi kiểm soát một cách hiệu quả trong biên chế (HQ Liên Xô) chỉ có các tàu pháo tuần dương đề án 26-bis và đề án 68-bis. Trong các thời điểm khủng hoảng (căng thẳng), chúng được sử dụng một cách tích cực trong các lực lượng giám sát cụm tàu sân bay, giữ cự ly hỏa lực hiệu quả với các tàu sân bay của đối phương một cách liên tục. Rõ ràng rằng kim loại được cắt ra trên các tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 chưa được đóng xong có thể được sử dụng trong trường hợp này hiệu quả hơn, bởi vì bất kỳ tàu sân bay nào trong tầm hỏa lực hiệu quả 305mm của nó thì sau 1-2 phút có thể trở thành đống đổ nát. Cuối cùng, các tàu pháo hạng nặng – tàu chủ lực và tàu tuần dương – có sức mạnh chiến đấu đáng kể và có khả năng trước khi bị tiêu diệt sẽ bắn cháy tàu sân bay thậm chí trong trường hợp bắn trả. Tất cả những điều này khẳng định các nguyên tắc cũ rằng các phương pháp chiến đấu mới trên biển không từ bỏ những cái cũ mà còn bổ sung chúng.

Tháng 6 năm 1953, Bộ trưởng công nghiệp lắp xe máy vận tải hạng nặng và Tư lệnh Hải quân đã ra quyết định sử dụng bộ phận thân tàu tuần dương chưa đóng xong “Stalingrad”, bao gồm thành (tàu) trong vai trò buồng thí nghiệm ngoài trời để kiểm tra các thí nghiệm hỏa lực trong điều kiện trường bắn để thử độ vững chắc trong thiết kế bảo vệ tàu (bọc thép, chống mìn) trước các tác động của các mẫu vũ khí Hải quân mới, xử lý ngòi nổ và các bộ phận chiến đấu của chúng. Các tài liệu về trang bị lại buồng được xử lý bởi phân nhánh thuộc Phòng thiết kế Trung ương số 16 ở Nikolaev. Sau đó, phân xưởng ở Nikolaev bị đóng cửa. Năm 1954, buồng được hạ thủy, còn trong trong năm 1956-57 được sử dụng trong vai trò mục tiêu đển thí nghiệm các loại tên lửa có cánh, đạn pháo, bom đường không và ngư lôi và khi đó không bị mất tính nổi khi không có trong đó trang bị khí tài đảm bảo sự sống, khẳng định hiệu quả cao bởi đề án dự định phòng thủ tàu tuần dương. Thân chưa đóng hết của hai tàu pháo tuần dương hạng nặng khác được xẻ kim loại trên âu tàu xưởng số 189 và 402.

Các bộ phận lắc đã được chế tạo của pháo chính 305 trên các tàu pháo tuần dương hạng nặng được quyết định sử dụng trong chế tạo các đại đội pháo phòng thủ bờ trên đường sắt. Ngày 19 tháng 1 năm 1955, mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng vè chế tạo 4 đại đội pháo 305mm với việc sử dụng 12 pháo SM-33 của các thiết bị pháo trên tháp SM-31 với sự bàn giao chúng cho Hải quân vào năm 1957-1958 đã được đưa ra. Ở Phòng thiết kế trung ương số 34 đã bắt đầu các công việc chế tạo pháo trên tàu hỏa (pháo đường sắt) SM-41 với bộ phận lắc (giật) SM-33MT. Việc thiết kế các bản vẽ và tài liệu kỹ thuật trên thiết bị hoàn thành trong tháng 7 năm 1954, tuy nhiên, các công việc theo đó nhanh chóng bị ngừng lại theo mệnh lệnh của N.S.Khrusev

Bằng mệnh lệnh của Chính phủ từ ngày 19 tháng 3 năm 1955 “Về sử dụng các vật liệu có giá trị còn lại sau khi ngừng đóng các tàu đề án 82”, Bộ lắp xe máy và Bộ công nghiệp đóng tàu đã được giao việc đảm bảo giữ ở xưởng phát điện Kharcov phần thừa theo sự sản xuất 8 tổ hợp tua bin răng cưa chính TV-4 cho các tàu tuần dương hạng nặng đề án 82, còn ở các xưởng số 402 và số 444 – trang bị máy – nồi hơi. Còn có mệnh lệnh cho Bộ Công nghiệp quốc phòng ra lệnh bàn giao cho Bộ quốc phòng 12 bộ phận lắc 2M-109 được chế tạo bởi xưởng “Bolsevich” cho các thiết bị pháo 130mm BL-109A trên tàu tuần dương “Stalingrad”.

Danh sách tàu và ngày tháng

+ “Stalingrad” (số hiệu xưởng 400); ghi tên vào danh sách Hải quân 31 tháng 8 năm 1951, khởi công 31 tháng 12 năm 1951 ở xưởng đóng tàu số 444 ở Nikolaev; hạ thủy năm 1953, dừng đóng 26 tháng 6 năm 1953; loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó trở thành mục tiêu để thí nghiệm các loại vũ khí khác nhau.

+ “Moskva” (số hiệu xưởng 406); ghi tên vào danh sách Hải quân 31 tháng 4 năm 1951; khởi công tháng 9 năm 1952 ở xưởng đóng tàu số 189 ở Leningrad; dừng đóng 11 tháng 4 năm 1953; loại khỏi biên chế Hải quân và sau đó bị xẻ kim loại.

+ Thân tàu thứ ba (số hiệu xưởng 401); khởi công tháng 10 năm 1952 ở xưởng số 402 ở Molotovsk (hiện nay là Severodvinsk) nhưng nhanh chóng bị ngừng đóng.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #511 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2012, 01:32:51 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 36 500

+ hoàn toàn: 43 000

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 250,5 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 31,6 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 9,6 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 12 nồi hơi, 4 tua bin hơi nước, 4 tổ hợp tuabin răng cưa TV-4, tổng công suất, sực ngựa (kW): 280 600 (206 000)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): -

+ các máy phát điện – diesel, công suất (kW): -

4 trục, 4 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 34

+ tiết kiệm năng lượng: 15

Tầm bơi xa, dặm (ở tốc độ, hải lý): 5000 (15)

Thời gian hoạt động, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (số sỹ quan): 1481 (-).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:35:22 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #512 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2012, 01:44:00 pm »

Vũ khí

Pháo

+ pháo chính 305mm SM-31: 3x3

+ pháo 130mm BL-109A: 6x2

+ pháo 45mm SM-20-Zif: 6x4

+ pháo phòng không 25mm BL-120: 10x4

Bọc thép

+ thành: 20mm

+ boong: 90…100mm

+ tháp pháo: 323mm

Trang bị vô tuyến điện

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: 1x “Rif”

Đài thủy âm: -

Các khí tài tác chiến điện tử: các thiết bị bảo vệ âm

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Zalp” cho pháo chính

+ 3x”Yakor” (trong thành phần SPN-500) cho pháo đa năng

+ 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo và pháo phòng không

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xKDP-2-8-10 cho pháo chính

+ 3xSPN-500 cho pháo đa năng

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #513 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2012, 04:03:58 pm »

Tàu chống ngầm loại lớn lớp “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Ukraina”


Đề án 61/61-ME – lớp Kashin.

Số tàu đã đóng: 20/5

Các biến thể:

+ 61 – đề án cơ sở sản xuất hàng loạt (1962)

+ 61-M (Kashin biến thể) – tàu cuối cùng trong loạt, trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu P-15M và tổ hợp pháo phòng không (1973)

+ 61-PM (Kashin biến thể) – các tàu nâng cấp với tổ hợp tên lửa chống tàu P-15M và tổ hợp pháo phòng không (1970)

+ 61-E – tàu thí nghiệm, được trang bị lại để thí nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan” (1975)

+ 01090 – tàu thí nghiệm, được trang bị để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran” (1987)

+ 61-ME (Kashin-II) – phiên bản xuất khẩu cho Hải quân Ấn Độ, trang bị tổ hợp tên lửa chống tàu P-20 (1979).

Năm 1956, đã tiếp nhận quyết định về chế tạo tàu tuần tra mới, với thành phần trang bị phòng không mạnh hơn so với đề án 50 và có tốc độ lớn hơn. Đề án tàu nhận số hiệu 61. Nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch đã được phê duyệt bởi Tư lệnh Hải quân ngày 14 tháng 3 năm 1956. Nhiệm vụ của tàu tương ứng với nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch là: phòng không cho các tàu chiến và tàu vận tải trên biển khỏi sự tấn công của các máy bay tầm thấp và đạn tên lửa điều khiển; chống ngầm cho tàu chiến và tàu vận tải trên biển.

Trên cơ sở nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch, Viện đóng tàu quân sự đã bắt đầu thiết kế nhiệm vũ kỹ - chiến thuật cho đề án tàu tuần tra mới (đề án 61) – được phê duyệt bởi Tư lệnh Hải quân mùng 3 tháng 12 năm 1956. Sự thành lập nhiệm vụ kỹ - chiến thuật bao gồm thực hiện thiết kế phác thảo bởi Viện đóng tàu quân sự. Kết quả của sự thiết kế này là lựa chọn được không chỉ làm rõ thành phần (chủng loại) vũ khí mà còn thiết kế bố cục tàu hợp lý hơn. Tổng cộng có 7 phương án bố trí vũ khí đã được nghiên cứu. Sơ đồ (hệ thống) bố trí vũ khí được tiếp nhận cho phép sử dụng trên một thành tàu toàn bộ khí tài phòng không (2 tổ hợp tên lửa phòng không và 2 tổ hợp pháo) – rất quan trọng khi đánh trả sự tấn công từ cụm các mục tiêu. Sau nhiều lần nghiên cứu và đánh giá đá tiếp nhận sự bố trí các ăng ten đài thủy âm phát hiện mục tiêu tổng hợp và đài thủy âm điều khiển bắn vũ khí chống ngầm trong mũ (nắp) chụp di (cơ) động, cho phép giảm lượng mớn nước từ 7 xuống 4 mét (khi thu – tháo mũ chụp) và đảm bảo các điều kiện khai thác sử dụng cũng như các tàu thông thường không có nắp chụp đài thủy âm.

Dự án nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, về cơ bản, được sự ủng hộ bởi Viện đóng tàu quân sự, mà cùng với đó, đã nhấn mạnh rằng sự tiếp nhận trên tàu đề án 61 thiết bị tuabin khí (GTU) có thể cho phép giảm lượng choán nước khoảng 15%. Khi nghiên cứu vật liệu của đề án, trong các Cục trung ương Hải quân đã quyết định tiếp nhận sử dụng trên tàu không chỉ thiết bị tuabin khí. Theo đó, lần đầu tiên trong thực tế thế giới đã tiếp nhận quyết định về bắt đầu thiết kế tàu đủ lớn với thiết bị tuabin khí, được sử dụng để hoạt động trong mọi chế độ di chuyển. Ngày 30 tháng 4 năm 1957, đã phê duyệt những phần tử vũ khí cơ bản trong phòng không và chống ngầm của đề án 61 để thiết kế đề án phác thảo. Việc thiết kế tàu được giao cho Phòng thiết kế trung ương số 53 – Tổng công trình sư của tàu là B.I.Kupensky. Về phía Hải quân, giám sát việc thực hiện thiết kế tàu được giao cho Thuyền trưởng – kỹ sư hạng 3 O.T.Safronov.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #514 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2012, 05:41:23 pm »

Tàu đề án 61 về nguyên tắc có sự khác biệt với toàn bộ các tàu thuộc Hải quân Liên Xô đóng trươc đó bởi hai đặc điểm: sự xuất hiện 2 tổ hợp tên lửa phòng không; thiết bị tuabin khí hoạt động mọi chế độ. Trong các cường quốc biển hàng đầu thế giới, việc thiết kế tổ hợp tên lửa phòng không chuyên dụng cho Hải quân thực tế rất phức tạp (“Talos”, “Terrier”, “Tartar”, “Sea Slag”) hoặc sử dụng các thành quả (công việc) của Không quân (“Sea Sparow”). Trong trường hợp tổ hợp tên lửa phòng không Mỹ (“Nike Hercules”, “Hawk”…) không hề có các biến thể cho Hải quân. Nguyên nhân vấn đề này được tìm (nhìn) thấy trong đó, rằng các nhà thiết kế tổ hợp tên lửa phòng không Mỹ rất dễ dãi trong việc tính toán các thông số khối lượng – kích thước của chúng, dẫn đến sự không cho phép lắp các tổ hợp vũ khí hàng không lên tàu nói chung. Trong Hải quân Liên Xô, hướng chống ngầm đã được lựa chọn – hướng biến đổi cho Hải quân tổ hợp tên lửa phòng không thuộc Lục quân. Sự biến đổi bao gồm trên cơ sở trong sự thiết kế thiết bị phóng và hệ thống nạp đạn mới, đồng thời thiết kế nốt (lại) hệ thống điều khiển và chính các tên lửa phòng không. Việc thiết kế tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” (tên gọi này nó được nhận một cách chính thức trong Hải quân) được thực hiện ở Viện nghiên cứu khoa học số 10 thuộc Bộ công nghiệp đóng tàu từ năm 1955. Tổ hợp tên lửa phòng không bao gồm: thiết bị phóng cân bằng (ổn định) cho 2 tên lửa phòng không điều khiển với hệ thống bảo quản và nạp đạn (hầm đạn với 2 thùng quay thẳng đứng, trên mỗi thùng quay – 8 tên lửa), hệ thống điều khiển tên lửa phòng không điều khiển “Yatagan” và 16 tên lửa phòng không điều khiển. Tầm bắn của tổ hợp này phụ thuộc vào tầm bay cao của mục tiêu ban đầu là 15km. Tên lửa phòng không điều khiển trong tổ hợp này được dẫn bắn tới mục tiêu theo tia của đài ra đa định vị của hệ thống điều khiển “Yatagan” tới thời điểm (điểm) mòn ngòi (ống) nổ ra đa định vị. Hệ thống điều khiển này có những ưu điểm cũng như nhược điểm. Ưu điểm chính của hệ thống này là khả năng sử dụng các tên lửa phòng không điều khiển giá rẻ, còn nhược điểm là chỉ có 1 kênh dẫn bắn theo mục tiêu và độ bắn chính xác giảm dần (tỷ lệ nghịch) theo tầm xa. Tổ hợp tên lửa phòng không tương đương với “Volna” trong Hải quân Mỹ - “Tartar” – ban đầu có tên lửa đồng thời được dẫn bắn theo tia ra đa định vị, nhưng sau đó, đã nhận tên lửa phòng không điều khiển với sự (đầu đạn) tự dẫn bắn bán tự động theo ra đa định vị trong hành trình bay cuối. Được sử dụng trong tên lửa phòng không điều kiển này là đài ra đa định vị của hệ thống điều khiển AN/SPG-51 trong các biến thể khác nhau được lắp trên các tàu được đóng trong những năm 1980. Tổ hợp “Volna” và hệ thống điều khiển của không nhận được sự phát triển (không được phát triển) trong những năm 1980. Việc này được chỉ ra rằng giải pháp kỹ thuật được tiếp nhận khi chế tạo tổ hợp “Volna” có triển vọng thấp (không có triển vọng). Nguyên nhân chưa chắc có thể tìm được. Như cũng trong thời gian đó, ở Phòng thiết kế M.Bisnovat đã thiết kế tổ hợp hàng không cho vũ khí của máy bay phòng không tầm xa Tu-128. Vũ khí chính của tổ hợp này là tên lửa R-4RR với tầm xa ban đầu gần 12-16km (sau đó tầm xa tăng lên 40km) và hệ thống điều khiển ra đa định vị “Smerch”. Tên lửa có đầu đạn tự dẫn bắn bán chủ động bằng ra đa định vị. Các thông số kích thước của hệ thống điều khiển “Smerch” nhỏ hơn “Yatagan”. Phải công nhận rằng sự nâng cấp bên trong tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” đã được thực hiện rất nhiều. Cụ thể, sự nâng cấp tên lửa phòng không điều khiển và hệ thống điều khiển cho phép tăng tầm bắn, đảm bảo tiêu diệt các mục tiêu trên không tầm thấp và mục tiêu nổi. Theo đó, nó trở thành tổ hợp tên lửa phòng không đa năng. Theo việc lựa chọn các phần tử chính cho tổ hợp tên lửa phòng không có thể là các yếu tố cá nhân hoặc thuộc về Nhà nước, còn khả năng sức ép truyền thống của ngành công nghiệp (được hỗ trợ bởi các chính trị gia) đối với Hải quân.

Trang bị pháo của tàu gồm có 2 pháo nòng đôi 76mm AK-726 và khi không có vũ khí tấn công – đương nhiên ra rất yếu. Sự không chấp nhận (từ chối, cự tuyệt) các loại pháo hạng trung trong thiết kế tàu làm chúng trở thành “vật tế” cho tên lửa và trở nên thua thiệt trong vai trò tàu pháo nói chung. Sự thiếu pháo hạng trung làm cho tàu chỉ có hiệu quả trong việc yểm trợ hỏa lực đổ bộ và bắn các mục tiêu phòng thủ bờ biển khác nhau.

Vũ khí đường không của tàu được phát triển mạnh hơn so với đề án 58, các công việc trên đó được thực hiện thực tế là trong cùng thời gian. Ngoài bãi cất hạ cánh thẳng trên boong trên còn có hầm đạn cho vũ khí đường không và 5 tấn nhiên liệu hàng không trong kho bảo quản chuyên dụng.

Sự thay đổi liên tục thành phần vũ khí đã được kết thúc trong đề án kỹ thuật bằng sự thay thế 2 thiết bị ngư lôi 3 ống thành 5 ống bố trí trên bề mặt phẳng hoàn toàn trên nóc thượng tầng. Cấp độ tập trung và tự động hóa điều khiển cho phép lần đầu tiên đảm bảo thực hiện các hoạt động chiến đấu bằng tàu khi thủy thủ đoàn rời lên boong trên và đài chỉ huy.

Nhà thiết kế thiết bị tuabin khí là xưởng tuabin phía nam (YuTZ) ở Ukraina. Ở thời điểm phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật tàu đề án 61, ở xưởng đã tiến hành thiết kế tuabin khí M-2 cho tàu tuần tra tên lửa đề án 159. Trong khi đó, công suất M-2 là 15 000 sức ngựa, còn thời gian phục vụ tổng cộng là 1000 giờ. Tuabin này được sử dụng trong thành phần thiết bị tuabin khí-diezel (DGTU) như bộ phận được sử dụng khi di chuyển ở tốc độ tối đa (hoàn toàn). Đã xuất hiện khả năng chế tạo trong các thời hạn có thể (tiếp nhận được) trên cơ sở động cơ M-2 tổ hợp công suất 36 000 sức ngựa, bao gồm 2 tua bin 18 000 sức ngựa. Thời gian phục vụ của tổ hợp được bảo hành trong 5 000 giờ và tốc độ tàu đạt 24 hải lý.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #515 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2012, 05:43:40 pm »

Hình vẽ tàu chống ngầm loại lớn đề án 61







Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #516 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2012, 12:03:08 am »

Tới giai đoạn này, ở các cường quốc biển hàng đầu còn chưa hình thành quan điểm tiếp nhận tuabin khí trong ngành đóng tàu quân sự (ngoại trừ Anh, nơi các công việc áp dụng tuabin khí đã được tiến hành rộng rãi). Không lâu sau đó, vào cuối những năm 1960, các cường quốc biển hàng đầu đã đẩy mạnh tốc độ áp dụng tuabin khí trên các tàu chiến. Trong đó, các động cơ tuabin phản lực hàng không là cơ sở của chúng. Trong ngành thiết kế tuabin khí Hải quân Liên Xô đã lựa chọn hướng khác –hướng chế tạo các tuabin khí chuyên dụng cho Hải quân ở xưởng chuyên dụng – xưởng tuabin phương Nam. Khi Liên Xô tan rã, việc này tác động rất mạnh tới ngành đóng tàu quân sự của Nga.

Trong phương án cuối cùng đã lựa chọn thiết bị tuabin khí 2 trục với 2 tổ hợp tuabin khí – răng cưa tự trị và các bộ truyền động đảo chiều. Sự chế tạo tổ hợp tuabin khí M-3 là thành tựu lớn. Thời gian phục vụ của mỗi động cơ được xác định là 3000 giờ, trong đó 100% công suất trong 100 giờ., còn công suất 50-60% - 2700 giờ. Khối lượng thiết bị năng lượng chính khi cùng công suất so với đề án 56 giảm 2 lần. Để dẫn động máy phát điện dẫn động, đã quyết định sử dụng đồng thời các tuabin khí (các máy phát điện – diesel với thời gian phục vụ cụ thể không xác định) – thiết bị tuabin khí GTU-6 của xưởng “Economaizer”.

Thân tàu được tiếp nhận tương đồng với các đề án 41, 50, 56 và 57 – boong trơn, nhưng với độ dốc (nâng) vừa đủ của boong trên ở phần cuối mũi tàu. Liên quan tới sự tăng liên tục của lượng choán nước và đề phòng không nhận được tốc độ theo tính toán, Tổng công trình sư đã thiết kế cho tàu đường viền (đường bao) rất sắc (tỷ lệ chiều dài và chiều rộng là 9,5). Việc này cũng ngang với sự tăng liên tục khối lượng vũ khí trong quá trình thiết kế làm giảm tính ổn định của tàu. Để duy trì sự ổn định cần thiết trên độ nghiêng lớn – rất quan trọng khi bơi trong điều kiện bão, bộ phận nổi của thân được mở rộng và xuất hiện sự đứt (gãy) của thành từ khung số 45 tới sống đuôi.

Thượng tầng có độ dài khoảng 2/3 chiều dài boong và chế tạo từ hợp kim magie-nhôm. Khu vực bố trí cột buồm, các thiết bị phóng thuộc tổ hợp tên lửa phòng không, đài ra đa định vị, đài điều khiển, tổ hợp tên lửa phòng không và pháo tự động, đồng thời trạm dẫn động được chế tạo bằng thép. Tàu có 4 ống khói. Các kích thước ống khói được lựa chọn bắt nguồn từ hai đặc điểm: đảm bảo khả năng thay thế tuabin M-3 và GTU-6 qua cửa bố trí trong các ống khói, đồng thời giảm nhiệt độ khói do tính toán sự pha trộn lớn của chúng với không khí trong vỏ ống khói để giảm khả năng bị lộ do nhiệt. Trong hai buồng máy (buồng máy mũi và mạn tàu) bố trí 1 tổ hợp tuabin khí – răng cưa và 2 tuabin khí GTU-6. Sự bố trí tổng quan có hàng loạt các đặc điểm. Tương ứng với các yêu cầu của Viện đóng tàu quấn ựu, trạm chỉ huy chính (GKP) được bố trí một cách độc lập (riêng biệt) với trạm truyền động (KhP) trong thân tàu trên boong dưới. Ở đây có toàn bộ các khí tài, cho phép chỉ huy không chỉ kiểm soát tình trạng trên không và dưới nước mà còn điều khiển (lái) tàu, và thực hiện việc điều khiển thực tế toàn bộ các hệ thống pháo và vũ khí. Trong trạm truyền động chỉ còn lại các khí tài để lái tàu. Điều khiển thiết bị năng lượng chính có khả năng không chỉ từ các trạm điều khiển từ xa (PDU). PDU của tàu đề án 61 trong sự khác biệt với các tàu trước là sự kết hợp với các đài điện. Trạm điện và đảm bảo cuộc sống (PEZh) được bố trí trong buồng không lớn và thực hiện các chức năng kiểm soát điều khiển thiết bị năng lượng chính.

Hệ thống phân bố trạm chỉ huy chính và trạm dẫn động, trạm điều khiển từ xa và trạm điện – đảm bảo sự sống này mặc dù trên cơ bản được duy trì trong các đề án sau, nhưng sự tập trung hóa sau đó thực tế nhằm vào việc chuyển trạm dẫn động thành trạm chỉ huy chính, còn trạm năng lượng – đảm bảo sự sống được hợp nhất với đài điều khiển từ xa. Tai nạn của tàu khu trục Anh “Sheffild” (1982) sau khi trúng một tên lửa chống tàu ở khu vực trạm năng lượng – đảm bảo sự sống đã đặt ra sự nghi ngờ tính hợp lý sự tập thực tế với khả năng sống còn trong chiến đấu. Kinh nghiệm chiến tranh và xung đột cục bộ thêm một lần nữa chỉ ra rằng trạm chỉ huy chính và trạm dẫn động phải được bảo vệ dù là mảnh đạn bắn trúng vào tàu. Trong sơ đồ đài chỉ huy chính bố trí trong thân và đài dẫn động được chế tạo từ thép, trên đề án 61 trong giới hạn đáng kể, các yêu cầu này được đáp ứng. Lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô, một bộ phận buồng cho sỹ quan được bố trí ở khu vực đường trung tâm của tàu và bị mất ánh sáng tự nhiên.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #517 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2012, 12:10:34 am »

Cuối cùng, đặc điểm quan trong của bố bục tổng thế trên tàu là việc hình thành hành lang dày đặc trên thượng tầng từ mũi tới mạn tàu, đảm bảo cho phép thủy thủ đoàn tới toàn bộ các trạm chiến đấu của tàu. Toàn bộ đường ra boong trên trong tình trạng chiến đấu phải thực hiện qua buồng đệm không thấm (lọt) khí của hành lang này. Lần đầu tiên trong thực tế lịch sử đóng tàu Liên Xô có nhà ăn – trong đó có thể tổ chức bữa ăn đồng thời cho 2/3 số hạ sỹ quan và thủy thủ phục vụ trên tàu.

Tàu đầu tiên thuộc đề án 61 – “Đoàn viên thanh niên Cộng sản Ukraina” được đưa tới các thí nghiệm cấp nhà nước ngày 15 tháng 10 năm 1962, nhưng tới thời điểm này, các tổ hợp M-3 chưa được xử lý hoàn toàn, vì thế các thí nghiệm được thực hiện trên 60% công suất. Quyết định tiếp nhận tiến hành thí nghiệm ở công suất đối đa muộn hơn. Độ nghiêng thực của tàu đã chỉ ra rằng lượng choán nước tiêu chuẩn là 3400 tấn – nhẹ hơn so với thiết kế. Các kết quả nghiêng đã chỉ ra rằng tàu hoàn toàn không có trữ lượng ổn định là lượng choán nước. Nếu tính toán (cho) rằng Hải quân đã nhận được tàu mới hoàn toàn với vũ khí và thiết bị cơ khí (máy) được chế tạo đồng thời với chúng, thì có thể thừa nhận kết quả này hoàn toàn đạt yêu cầu. Lần đầu tiên trong thời gian thí nghiệm đã thực hiện cuộc hành quân (di chuyển) tự trị 10 ngày, trong quá trình này đã xuất hiện sự tin cậy không lớn các mẫu tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” đầu tiên và các hệ thống điều khiển “Turel”. Nhược điểm lớn của buồng sống là tiếng ồn lớn (79-106 Db trong buồng thủy thủ và sỹ quan). Lần đầu tiên lên tàu để làm quen với tiếng ồn này là khó khăn, tuy nhiên sau 2 tháng sống trên tàu, sự thích nghi và tiếng ồn không còn gây cản trở. Trên tàu đồng thời xuất hiện mùi dầu và nó đồng thời được làm quen. Sau đó, các thí nghiệm ở tốc độ tối đa để xác định tầm bơi xa được khẳng định bằng tính toán số liệu. Thực tế, trên toàn bộ các tàu đề án 61, nó cao hơn 34 hải lý (tốc độ cao nhất là 35,5 hải lý năm 1964).

So sánh các thông số kỹ - chiến thuật cơ bản của đề án 61 với tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” – Hải quân Mỹ chỉ ra rằng lượng choán nước và tốc độ của các tàu này là tương đương (bằng nhau). Tầm bơi xa ở tốc độ 30 hải lý của tàu đề án 61 lớn hơn không nhiều (2000 dặm – 1850 dặm), còn trên tốc độ 18-20 hải lý thấp hơn (3500 dặm – 4500 dặm). Việc này được giải thích bởi sự tiết kiệm (tính kinh tế) lớn của thiết bị tuabin ở tốc độ cao và sự tiêu thụ nhiên liệu đáng kể của thiết bị tuabin khí mà trên tốc độ thấp bắt đầu chiếm ưu thế trong sự tiêu thụ nhiên liệu chung trên toàn bộ tàu. Về vũ khí phòng không, nhờ sự xuất hiện của 2 tổ hợp tên lửa phòng không điều khiển và 2 phái tự động với 2 đài điều khiển, tàu đề án 61 có khả năng tấn công đồng thời 4 mục tiêu trên không, còn tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” chỉ có 2(1 tổ hợp tên lửa phòng không “Tartar”, 2 đài điều khiển pháo). Tuy nhiên, nhờ cơ số đạn tên lửa phòng không nhiều hơn (38-42 so với 16) trên một tổ hợp, tàu khu trục tên lửa “Charle F.Adams” có thể tham gia chiến đấu phòng không trong thời gian dài hơn. Theo vũ khí chống ngầm, tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” vượt trội hơn tàu đề án 61 nhờ sự xuất hiện của tên lửa chống ngầm điều khiển “Asroc”. Tuy nhiên sự vượt trội này không đáng kể bởi vì tầm bắn xa của các thiết bị ngư lôi chống ngầm Liên Xô 533mm tương đương với tên lửa chống ngầm điều khiển. Bom phản lực của đề án 61 kém thiết bị ngư lôi 324mm của tàu khu trục tên lửa “Charles F.Adams” về hiệu quả tiêu diệt tàu ngầm ở tầm gần, tuy nhiên, chúng có thể được sử dụng không chỉ để chống tàu ngầm mà còn chống ngư lôi hoặc tậm chí bắn vào bờ. So sánh thiết bị pháo, đề án 61 kém tàu khu trục tên lửa do không có pháo hạng trung. Trang bị vô tuyến điện đề án 61 theo danh pháp cũng như theo các khả năng của nó thua kém so với thiết bị tương đương trên tàu khu trục tên lửa.

Toàn bộ các tàu đề án 61 được khai thác sử dụng ở cường độ cao trong toàn bộ 4 hạm đội. Lần đầu tiên trong biên chế Hải quân xuất hiện các tàu có sự hy vọng vào hoạt động của thiết bị năng lượng chính rất cao, nhờ sự thay thế các động cơ bằng tổ hợp thâm chí một cách tương đối, các tàu cũ và không được sửa chữa trong thời gian dài đã có khả năng đạt tốc độ tối đa một cách dễ dàng. Mặc dù được tiếp nhận trong thiết kế là 18 hải lý ở tốc độ tuần tra, thường xuyên nhất ở tốc độ 22-24 hải lý bởi vì nhờ thiết bị tuabin khí, tầm bơi xa khi tốc độ này giảm tổng cộng 15% so với tốc độ 18 hải lý. Nhờ hình dạng mũi rất sắc và chiều cao tương đối lớn của thùng trên khung số 0, các tàu dễ dàng chống lại mọi cơn song, còn trạm dẫn động không chịu sự văng mạnh. Theo so sanh với các tàu có thiết bị ống khói tuabin, các tàu đề án 61 có các khoang (hầm) tương đối khô và sạch.

Các tàu đề án này là giai đoạn không chỉ cho Liên Xô mà còn ngành đóng tàu quân sự thế giới bởi vì lần đầu tiên đã chế tạo tàu đủ lớn với thiết bị tuabin khí. Đề  án 61 tiếp nhận hệ thống thiết bị tuabin khí đã chứng tỏ có triển vọng rõ ràng đối với các tàu khu trục và tàu tuần dương. Trên tàu khu trục “Spruance” và tàu tuần dương “Ticonderoga” trong Hải quân Mỹ sử dụng chính hệ thống tuabin khí này.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #518 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2012, 12:28:40 am »


Các bản vẽ bố cục tổng thể tàu khu trục ngư lôi đề án 61

1. Trực thăng chống ngầm Ka-25PL

2. Thiết bị pháo 76mm AK-726

3. Thiết bị phóng tên lửa phòng không ZiF-101

4. Trạm ăng ten của đài ra đa định vị thủy âm MR-105 (“Turel”)

5. Trạm ăng ten đài điều khiển “Yatagan” của tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

6. Thiết bị ngư lôi 5 ống 533mm PTA-53-1123

7. Trạm ăng ten đài ra đa định vị MR-500 (“Kliver”)

8. Trạm ăng ten đài ra đa định vị MR-130 (“Angara”)

9. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000

10. Tàu (xuồng) con

11. Xuồng trinh sát chỉ huy

12. Kho

13. Buồng bánh lái

14. Buồng trực ban

15. Buồng thủy thủ

16. Trạm chỉ huy – cất cánh trực thăng

17. Kho đạn tên lửa phòng không điều khiển

18. Các trạm khối cao tần của hệ thống điều khiển “Yatagan”

19. Buồng sỹ quan

20. Hòm xích

21. Thùng nhiên liệu

22. Hầm thiết bị nâng – thả đài thủy âm định vị

23. Buồng máy ở mũi

24. Buồng máy móc hỗ trợ

25. Buồng máy mạn tàu

26. Thùng nước ngọt

27. Thiết bị phóng bom phản lực RBU-1000
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #519 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2012, 12:06:20 am »

Các biến thể

Trong quá trình đóng và khai thác sử dụng các tàu này, chúng đã chịu những sự nâng cấp. Từ năm 1966, thay cho 2 đài ra đa định vị “Angara” đã lắp “Kliver” và “Angara”. Việc áp dụng trên cacstauf nổi tên lửa tấn công đã dẫn tới sự bố trí tên lửa chống tàu trên các tàu đề án 61: những năm 1970, 5 tàu chống ngầm lớn đã được nâng cấp theo đề án 61-MP, còn tàu cuối cùng – thứ 20 trong dòng đã được đóng ngay lập tức theo đề án nâng cấp 61-M, toàn bộ chúng nhận được tổ hợp tên lửa chống tàu “Termit”. “Provornưi” trong các thí nghiệm đã chịu sự nâng cấp theo đề án 61-E, thay tổ hợp tên lửa phòng không “Volna” thành tổ hợp tên lửa phòng không “Uragan” và thay đài ra đa định vị “Kliver” bằng “Fregat-M”.

Năm 1974, tàu chống ngầm loại lớn đề án 61 thu hút được sự chú ý của phái đoàn Ấn Độ - khi đi tham quan các tàu Hải quân ở thành phố Sevastopol và đã tìm cho Hải quân của họ nguyên mẫu cần thiết. Kết quả là Ấn Độ đã đặt mua loạt 5 tàu biến thể đề án 61-ME có tổ hợp tên lửa chống tàu và trực thăng đóng thường trực.

Cuối những năm 1980, tàu chống ngầm loại lớn “Smetlivưi” được trang bị lại theo đề án 01090 để thí nghiệm tổ hợp tên lửa chống tàu “Uran”. Thiết bị phóng được lắp thay cho thiết bị ngư lôi.

Chương trình đóng tàu

Tàu đầu tiên trong đề án 61 – “Komsomolets Ukrainư” được khởi công 15 tháng 9 năm 1959 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xã Pari ở Nikolaev, hạ thủy 31 tháng 12 năm 1960 và được đưa vào các thí nghiệm cấp nhà nước 15 tháng 10 năm 1962. Tổng cộng trong xưởng đã đóng 15 tàu đề án này (tàu cuối theo đề án nâng cấp 61-M), còn thêm 5 tàu nữa ở xưởng mang tên A.A.Zhdanov. Toàn bộ loạt 20 tàu dừng đóng năm 1973.

Từ năm 1976, đã bắt đầu đóng tàu chống ngầm loại lớn “Hadezhnưi” (“Hy vọng”) theo đề án nâng cấp 61-ME cho Hải quân Ấn Độ. Đến năm 1987, đã đóng được 5 tàu – ban đầu đồng thời gia nhập biên chế Hải quân Liên Xô, còn sau đó được bàn giao cho Ấn Độ.

Tình hình đến năm 2005

Đến 19 tháng 5 năm 1966, các tàu đề án 61 nằm trong lớp tàu tuần tra, nhưng sau khi phân loại lại trở thành tàu chống ngầm loại lớn. Ngày 28 tháng 6 năm 1977, các tàu chống ngầm nâng cấp đề án 61-M/MP được phân loại thành tàu tên lửa loại lớn. Nhưng ngày 14 tháng 10 năm 1980 đã quay trở lại lớp tàu chống ngầm lớn. Từ năm 1992, toàn bộ các tàu trong biên chế được chuyển thành tàu tên lửa tuần tra.

Năm 1986, đã có quyết định bán “Smelưi” cho Ba Lan. Năm 1987, nó được bán cho Hải quân Cộng hòa nhân dân Ba Lan, nơi nó nhận tên gọi “Varsava”.

Ngày 30 tháng 8 năm 1974, gần bờ biển Krưm khu vực Sevastopol, theo kết quả vụ cháy tình cờ tên lửa phòng khong điều khiển do lỗi vận hành của thủy thủ đoàn và vụ nổ đạn sau đó trong hầm chứa tên lửa làm tàu chống ngầm lớn “Otvazhnưi” bị chìm. Tàu khi đó đã thể hiện khả năng sống còn cao, bởi vì khi vụ nổ hầm chứa đạn, các tàu này đã chìm nhanh chóng, còn tàu chống ngầm lớn đề án 61 chỉ bị chìm hơn 5 giờ sau đó và cho phép cứu nạn thực tế toàn bộ thủy thủ đoàn. Hơn nữa, ngay chính tai nạn của tàu đã liên quan trước hết với các hành động thiếu kinh nghiệm của lực lượng cứu nạn. Trong giai đoạn sau chiến tranh, việc đảm bảo khả năng sống còn của các tàu nổi và tàu ngầm trong Hải quân Liên Xô được đánh giá (nằm trong) mức độ cao nhất trên thế giới, còn việc huấn luyện thủy thủ đoàn trong xử lý tai nạn giảm dần và dẫn tới hàng loạt các thảm họa “không mong muốn”. Sự thật, cấp độ huấn luyện bộ phận chỉ huy Hải quân trong các câu hỏi xử lý các tai nạn – trước kết, ở cấp độ thấp (trong các vụ đắm tàu “Novorossisk” hay “Otvazhnưi” có rất nhiều sự thiếu kiến thức (dốt nát, vô học – безграмотности) của lãnh đạo cấp cao Hải quân), việc này được viết một cách chi tiết trong sách của B.A.Karzhavin: “Sự hủy diệt “Otvazhnưi”, Saint Peterburg năm 1994.

Nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ cho lực lượng vũ trang Ai Cập năm 1967 – “Komsomolets Ukrainư”; “Soobrazitelnưi” – Ai Cập – 1967 và 1968; “Provornưi” – cho Ai Cập và Siri năm 1967, 1968 và 1973; “Obraztsovưi” – Ai Cập – 1970; “Otvaznưi” – Ai Cập – 1967; “Slavnưi” – Ai Cập và Siri – 1972; “Krasnưi Kavkaz” – Ai Cập – 1967 và 1968, Siri – 1973, Ai Cập – 1974, còn năm 1974, đảm bảo quét thủy lôi (mìn) ở kênh đào Suez.

Hiện nay, trong biên chế Hải quân Nga còn có 2 tàu lớp này: “Smelưi” đề án 01090 và “Sderzhanưi” đề án 61-M biên chế trong Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM