Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:25:21 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 330105 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #520 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2012, 12:07:15 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


(*  - đang còn trong biên chế)

+ “Kosomolets Ukrainư” (số hiệu xưởng 1701); đến 9 tháng 10 năm 1962 là SKP-25; khởi công 15 tháng 9 năm 1959 ở xưởng đóng tàu số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 10 tháng 11 năm 1959; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1960; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1962; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 23 tháng 11 năm 1964; 18-25 tháng 6 năm 1964 và 26-30 tháng 10 năm 1987 tới thăm Split (Nam Tư); 8-13 tháng 5 năm 1970, tới Algieri; 18-22 tháng 11 năm 1986 tới Pirei (Hy Lạp); 17-21 tháng 11 năm 1987 tới Turnis (Tuynidi) và 28 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1989 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 5-30 tháng 6 năm 1967 nằm ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hỗ trợ quân đội Ai Cập; 23 tháng 5 năm 1977-7 tháng 8 năm 1979 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol; 24 tháng 6 năm 1991 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 năm 1991 giải thể.

+ “Soobrazitelnưi” (số hiệu xưởng 1702); đến 21 tháng 3 năm 1963 là SKR-44; khởi công 20 tháng 7 năm 1960 ở xưởng đóng tàu số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1961; hạ thủy 4 tháng 11 năm 1961; gia nhập biên chế 26 tháng 12 năm 1963; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 23 tháng 11 năm 1963; 18-25 tháng 6 năm 1964 thăm Split (Nam Tư); 12-15 tháng 8 năm 1967 tới Varna (Bulgari); 29 tháng 1 đến 4 tháng 2 năm 1968 tới Kotor và Zelenika (Nam Tư), 20-27 tháng 7 năm 1969 tới Havana (Cuba), tháng 5 năm 1974 tới Turnis và 26-30 tháng 9 năm 1985 tới Kork (Ai Len); 1-31 (30-?) tháng 6 năm 1967 và 1-31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu yểm trợ quân đội Ai Cập; 1 tháng 10 năm 1967 – 28 tháng 11 năm 1978 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 6 tháng 8 năm 1982 chuyển tới Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 10 năm 1988 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bảo quản trong dạng neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 3 tháng 7 năm 1992; giải thể 23 tháng 10 năm 1992; năm 1994 bán cho công ty tư nhân Ấn Độ làm kim loại. Trong giai đoạn phục vụ đã mang cờ Hải quân Cận vệ, thừa hưởng từ tàu khu trục đề án 7-U thuộc Hạm đội Biển Đen.

+ “Provornưi” (số hiệu xưởng 1703); đến 1 tháng 10 năm 1964 là SKR-37; khởi công 10 tháng 2 năm 1961 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 23 tháng 3 năm 1962; hạ thủy 21 tháng 4 năm 1962; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 22 tháng 1 năm 1965; 1-30 tháng 6 năm 1967; 1-31 tháng 12 năm 1968 và 5-24 tháng 10 năm 1973 nằm trong khu vực chiến sự, thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri; 2-7 tháng 7 năm 1973 thăm cảng Marsille (Pháp); 23 tháng 3 năm 1974 – 3 tháng 4 năm 1975 nâng cấp tại “Sevmorezavod” ở Sevastopol và 5 tháng 11 năm 1976 trở thành đề án 61-#; 1 tháng 2 năm 1977 – 20 tháng 11 năm 1978 và 1 tháng 4 năm 1987 – 21 tháng 3 năm 1988 trải qua đại tu; tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 21 tháng 8 năm 1990; giải thể 31 tháng 12 năm 1990.

+ “Ognevoi” (số hiệu xưởng 751); đến 1 tháng 10 năm 1964 là SKR-31; khởi công 9 tháng 5 năm 1962 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 27 tháng 8 năm 1962; hạ thủy 31 tháng 5 năm 1963; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1964; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 21 tháng 1 năm 1965; 5 tháng 2 năm 1971 – 12 tháng 10 năm 1971 nâng cấp ở Leningrad theo đề án 61-MP và sau đó bàn giao sang Hạm đội Phương Bắc; 1 tháng 2 năm 1980 – 3 tháng 12 năm 1982 trải qua đại tu ở Kroshtadt; 31 tháng 10 – 4 tháng 11 năm 1975 thăm Lagos (Nigieria), tháng 2 năm 1985 – tới Fritaun (Sierra Leon); tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 25 tháng 4 năm 1989; giải thể 1 tháng 10 năm 1989.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #521 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2012, 12:43:16 am »

+ “Obraztsovưi” (số 752); đến 1 tháng 10 năm 1964 là SKR-2; khởi công 29 tháng 7 năm 1963 ở xưởng số 100; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 29 tháng 1 năm 1964; hạ thủy 23 tháng 2 năm 1964; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 2 tháng 11 năm 1965; 21-26 tháng 6 năm 1967 và 27-30 tháng 6 năm 1980 thăm Gdưnia (Ba Lan); 3-9 tháng 10 năm 1969 tớ Rostoc và Varnemiude (Cộng hòa dân chủ Đức); 8-13 tháng 5 năm 1970 tới Sherburg (Pháp); 24-29 tháng 6 năm 1974 tới Helsinki (Phần Lan); 5-9 tháng 10 năm 1974 một lần nữa tới Rostoc và 28 tháng 5 – 1 tháng 6 năm 1974 tới Porstmouth (Anh), còn tháng 1 năm 1971 hoàn thành chuyến công tác tới Fritaun (quần đảo Seishel); 29 tháng 6 – 10 tháng 7 năm 1970 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ quân đội Ai Cập; 8 tháng 9 năm 1972 – 15 tháng 3 năm 1973 trải qua đại tu ở Kronshtadt; 13 tháng 4 năm 1977 – 10 tháng 11 năm 1984 trải qua đại tu ở Liepai; 25 tháng 8 năm 1988 được đưa đi đại tu ở Liepai; tháo vũ khí và bị loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 6 năm 1993; giải thể 1 tháng 2 năm 1994.

+ “Odarennnưi” (số hiệu xưởng 753); khởi công 22 tháng 1 năm 1963 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 12 tháng 8 năm 1964; hạ thủy 11 tháng 9 năm 1964; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 11 tháng 1 năm 1966; mùa hè – thu năm 1966, theo đường biển Bắc đã hoàn thành cuộc hành quân từ vịnh Kolsk tới Vladivostoc và 8 tháng 10 năm 1966 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 18-23 tháng 11 năm 1976 tới thăm Barsa (Iraq), 1-5 tháng 12 năm 1976 tới Bender-Abbas (Iran); 20-24 tháng 1 năm 1977 tới Maputa (Mozambic); 10-14 tháng 3 năm 1977 tới Port-Lui (Mavriki) và 16-19 tháng 10 năm 1980 tới Nochin (Ấn Độ); 4 tháng 7 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân; bảo quản và đưa tới neo đậu; 19 tháng 4 năm 1990 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 31 tháng 8 năm 1990.


+ “Otvaszhnưi” (số hiệu xưởng 1704); đến 17 tháng 2 năm 1965 là “Orel”; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 3 tháng 7 năm 1963; khởi công 10 tháng 8 năm 1963 ở xưởng số 200; hạ thủy 17 tháng 10 năm 1964; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1965; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 25 tháng 1 năm 1965; 5-30 tháng 6 năm 1967 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 10-14 tháng 7 năm 1967 tới thăm Port-Said (Ai Cập); 15-19 tháng 10 năm 1973 tới Taranto và 19-22 tháng 10 năm 1973 tới Messina (Italia); 30 tháng 8 năm 1974 ở tàu xảy ra vụ cháy ở kho tên lửa mạn tàu và sau những nỗ lực cứu nạn (cứu kéo) không thành công, tàu đã bị đắm ở biển Đen; bị loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 11 năm 1974; sau đó các phần còn lại của tàu, một phần bị hủy dưới đáy biển, một phần được trục vớt.

+ “Slavnưi” (số hiệu xưởng 754); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 7 năm 1964; khởi công 27 tháng 6 năm 1964 ở xưởng số 190; hạ thủy 24 tháng 4 năm 1965; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Baltic 17 tháng 10 năm 1966; 28-29 tháng 10 năm 1967; 3-9 tháng 10 năm 1969 và 23-28 tháng 10 năm 1987 thăm Rostoc (Cộng hòa dân chủ Đức); 17-22 tháng 8 năm 1971 tới Copenhagen (Đan Mạch); 11-15 tháng 10 năm 1985 tới Havana (Cuba); 18-23 tháng 7 năm 1987 tới Gdưnia và 19-24 tháng 7 năm 1988 tới Setsin (Ba Lan); 14 tháng 6-29 tháng 7 năm 1972 nằm ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri; 6 tháng 12 năm 1973-4 tháng 12 năm 1975 nâng cấp ở Leningrad theo đề án 61-MP; 15 tháng 12 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân, bảo quản và neo đậu; 19 tháng 2 năm 1991 tháo niêm cất và trở lại biên chế; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 6 năm 1991; giải thể 31 tháng 12 năm 1991.

+ “Stroinưi” (số hiệu xưởng 1705); khởi công 20 tháng 3 năm 1964 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 24 tháng 5 năm 1965; hạ thủy 28 tháng 7 năm 1965; gia nhập biên chế 15 tháng 12 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 30 tháng 12 năm 1966; 25-28 tháng 10 năm 1969 tới thăm Reikiavic (Ai xơ len); 28 tháng 5 năm 1971-19 tháng 2 năm 1972 trải qua đại tu; 28 tháng 12 năm 1975-14 tháng 7 năm 1981 nâng cấp ở Nikolaev và 6 tháng 11 năm 1980 trở thành đề án 61-MP; 19 tháng 1 năm 1990 được đưa đến đại tu ở Murmansk; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 12 tháng 4 năm 1990; giải thể 31 tháng 1 năm 1991.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #522 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2012, 01:18:26 am »

+ “Steregusi” (số hiệu xưởng 755); ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 7 năm 1964; khởi công 26 tháng 7 năm 1964 ở xưởng số 190; hạ thủy 20 tháng 2 năm 1966; gia nhập biên chế 21 tháng 12 năm 1966; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 7 tháng 1 năm 1967; 17-24 tháng 3 năm 1968 thăm Madras; 3-6 tháng 4 năm 1968 tới Bombei (Ấn Độ); 17-24 tháng 4 năm 1968 tới Mogadisho (Somali); 11-19 tháng 5 năm 1968 tới Umm-Kars và Basra (Iraq); 25 tháng 5-2 tháng 6 năm 1968 tới Karachi (Pakistan); 5-9 tháng 6 nawm1 968 tới Bender-Abbas (Iran); tháng 6 năm 1968 tới Aden (Nam Yemen) và 6-11 tháng 7 năm 1968 tới Colombo (Sri Lanka); 31 tháng 12 năm 1978 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cấp và đưa vào neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 6 năm 1993; giải thể 11 tháng 2 năm 1994.

+ “Krasnưi Kavkaz” (số hiệu xưởng 1706); ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 11 năm 1964; khởi công 25 tháng 11 năm 1964 ở xưởng số 200; hạ thủy 9 tháng 2 năm 1966; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1967; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 13 tháng 10 năm 1967; 1-30 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 1 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và 5-24 tháng 10 năm 1973 tới Latakia (Siri); 10-14 tháng 8 năm 1984 tới Varna (Bulgaria); 12-16 tháng 8 năm 1985 và 17-21 tháng 11 năm 1987 tới Tunidi; 20-24 tháng 10 năm 1986 tới Havana (Cuba) và 24-28 tháng 6 năm 1991 tới Tulon (Pháp); 10 tháng 3 năm 1981 – 19 tháng 7 năm 1984 trải qua đại tu ở Sevastopol; cuối những năm 1980 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể. Ở thời điểm ghi tên được trao lá cờ Hải quân Cận vệ thừa hưởng từ tàu tên lửa cùng tên trong Hạm đội Biển Đen.

+ “Reshitelnưi” (số hiệu xưởng 1707); khởi công 25 tháng 6 năm 1965 ở xưởng số 200; hạ thủy 30 tháng 6 năm 1966; ghi tên vào danh sách Hải quân 24 tháng 1 năm 1967; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1967; gia nhập biên chế hạm đội Biển Đen 11 tháng 1 năm 1968; 1-30 tháng 6 năm 1967 và 1 tháng 4 – 31 tháng 12 năm 1968 ở khu vực chiến sự thực hiện nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập; 9-12 tháng 8 năm 1969 tới thăm Varna (Bulgaria); 14-18 tháng 12 năm 1971 tới Laktakia (Siri); 6-9 tháng 10 năm 1978 tới Messina (Italia) và 16-20 tháng 11 năm 1978 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 1 tháng 11 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa vào neo đậu; sau đó bị giải thể.

+ “Smưshlenưi” (số hiệu xưởng 1708); khởi công 15 tháng 8 năm 1965 ở xưởng số 200; hạ thủy 22 tháng 10 năm 1966; ghi tên vào danh sách Hải quân 1 tháng 7 năm 1966; gia nhập biên chế 27 tháng  9 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 21 tháng 10 năm 1967; 31 tháng 10 – 9 tháng 11 năm 1971 tới thăm Havana (Cuba); 10-14 tháng 5 năm 1978 tới Bordeaux (Pháp) và 25-30 tháng 5 năm 1987 tới San-Tom (San Tom và Prinsipi); 1975-1977 nâng cấp ở Nikoalaev theo đề án 61-MP; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 22 tháng 2 năm 1993; giải thể 30 tháng 6 năm 1993.

+ “Strogi” (số hiệu xưởng 1709); khởi công 22 tháng 2 năm 1966 ở xưởng số 200; hạ thủy 29 tháng 4 năm 1967; ghi tên vào danh sách Hải quân 12 tháng 1 năm 1968; gia nhập biên chế 24 tháng 12 năm 1968; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 8 tháng 1 năm 1969; 7-15 tháng 12 năm 1969 thăm Berbera, Mogadiso và Kismaia (Somali); 4-8 tháng 2 năm 1972 tới Massaua (Etiopia); 2-7 tháng 6 năm 1978 tới Victoria (quần đào Seisel); 5-10 tháng 11 năm 1978 tới Hải Phòng (Việt Nam) và 22-26 tháng 6 năm 1985 tới Mapata (Mozambic); 1 tháng 11 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân; niêm cất và đưa đến neo đậu; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 30 tháng 6 năm 1993; giải thể 11 tháng 2 năm 1994.

+ (*) “Smetlivưi” (số hiệu xưởng 1710); khởi công 15 tháng 7 năm 1966 ở xưởng số 200; hạ thủy 26 tháng 8 năm 1967; ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 6 năm 1968; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 21 tháng 10 năm 1969; 6-12 tháng 3 năm 1973 tới thăm Latakia (Siri); 26 tháng 9-1 tháng 10 năm 1973 tới Split (Nam Tư); 9-13 tháng 8 năm 1974 tới Varna (Bulgaria) và 26 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1980 tới Tunis (Tuynidi); 19 tháng 2 năm 1987 được đưa vào đại tu ở Sevastopol; trang bị lại theo đề án 01090.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #523 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:16:42 am »

+ “Smelưi” (số hiệu xưởng 1711); khởi công 15 tháng 11 năm 1966 ở xưởng số 200; hạ thủy 6 tháng 2 năm 1968; ghi tên vào danh sách Hải quân 20 tháng 12 năm 1968; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1969; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 9 tháng 1 năm 1970; 17-22 tháng 9 năm 1976 tới thăm Messina (Italia); 8-13 tháng 4 năm 1978 tới Algieri và 13-18 tháng 4 năm 1979 tới Rieka (Nam Tư); 1976-1977 nâng cấp ở “Sevmorzavod” theo đề án 61-MP; 17 tháng 12 năm 1982 – 30 tháng 1 năm 1985 trải qua đại tu ở Riga và bàn giao cho Hạm đội Baltic; năm 1987 tiếp nhận quyết định chuyển tàu cho Ba Lan thuê; 19 tháng 1 năm 1988 bàn giao cho Ba Lan và đổi tên là “Varsaw”; loại khỏi biên chế Hải quân 5 tháng 3 năm 1988.

+ “Krasnưi Krưm” (số hiệu xưởng 1712); khởi công 23 tháng 2 năm 1968 ở xưởng số 200; hạ thủy 28 tháng 2 năm 1969; ghi tên vào danh sách Hải quân 9 tháng 2 năm 1970; gia nhập biên chế 15 tháng 10 năm 1970; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 20 tháng 10 năm 1970; 15-19 tháng 5 năm 1971 và 1-29 tháng 2 năm 1972 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ cho quân đội Ai Cập; 3-7 tháng 7 năm 1975 tới thăm Tulon (Pháp); 14-19 tháng 10 năm 1976 tới Split (Nam Tư); 5-9 tháng 8 năm 1977 tới Constants (Rumani); 12-16 tháng 8 năm 1985 tới Tuynidi và 11-14 tháng 6 năm 1990 tới Taranto (Italia); 6 tháng 10 năm 1978 – 28 tháng 8 năm 1983 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 1 tháng 6 năm 1992 phân loại thành tàu tuần tra tên lửa; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 24 tháng 6 năm 1993; giải thể 11 tháng 2 năm 1994; từ 30 tháng 6 năm 1970 mang cờ Hải quân Cận vệ thừa hưởng từ tàu tuần dương cùng tên trong Hạm đội Biển Đen.

+ “Sposobnưi” (số hiệu xưởng 1713); khởi công 10 tháng 3 năm 1969 ở xưởng số 200; hạ thủy 11 tháng 4 năm 1970; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 4 năm 1970; gia nhập biên chế 25 tháng 9 năm 1971; gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương 27 tháng 10 năm 1971; 20-24 tháng 12 năm 1973 tới thăm Port-Lui (Mavriki) và 25-30 tháng 8 năm 1976 tới Vancover (Canada); 30 tháng 7 năm 1987 được mang tới đại tu ở Sevastopol; bị loại khỏi danh sách Hải quân 3 tháng 7 năm 1992 nhưng 29 tháng 10 năm 1992 đưa lại vào biên chế Hạm đội Biển Đen 20 tháng 11 năm 1993 bàn giao cho xưởng “Sevmorezavod” mang tên S.Ordzhonikidze (thành phố Sevastopol) theo kết quả trả nợ cho xí nghiệp thuộc Hải quân.

+ “Skorưi” (số hiệu xưởng 1714); khởi công 20 tháng 4 năm 1970 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách Hải quân 20 tháng 10 năm 1970; hạ thủy 26 tháng 2 năm 1971; gia nhập biên chế 23 tháng 9 năm 1972; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 31 tháng 10 năm 1972; 26 tháng 9 – 1 tháng 10 năm 1973 và 12-17 tháng 5 năm 1975 tới thăm Split (Nam Tư); 14-19 tháng 10 năm 1974 tới Port-Lui (Mavriki); 19-23 tháng 11 năm 1974 tới Dacar (Senegal) và 20-25 tháng 10 năm 1978 tới Pirei (Hy Lạp); 5-24 tháng 10 năm 1973 ở khu vực chiến sự làm nhiệm vụ yểm trợ quân đội Ai Cập và Siri; 23 tháng 7 – 22 tháng 9 năm 1974 – quân đội Ai Cập; 4 tháng 8 – 14 tháng 10 năm 1974 đảm bảo quét mìn ở kênh đào Suez; 30 tháng 7 năm 1982 – 16 tháng 9 năm 1985 trải qua đại tu ở “Sevmorezavod” tại Sevastopol; đầu những năm 1990 bị tháo vũ khí, loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ (*) “Sderzhannưi” (số hiệu xưởng 1715); ghi tên vào danh sách Hải quân 20 tháng 10 năm 1970; khởi công 10 tháng 3 năm 1971 ở xưởng số 200; đóng tiếp theo đề án 61-M; hạ thủy 29 tháng 2 năm 1972; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 7 tháng 2 năm 1974; 12-17 tháng 5 năm 1976 tới thăm Tripoli (Libia); 31 tháng 10 năm 1985 – 12 tháng 10 năm 1987 trải qua đại tu tại “Sevmorezavod” ở Sevastopol.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #524 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:17:08 am »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 3 400

+ hoàn toàn: 4 390

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 144 (132)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 15,8 (14)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 4,6 (-)

Thiết bị năng lượng chính: tuabin khí

+ 2 tổ hợp M-3 (4 tuabin khí M-8E), tổng công suất, sức ngựa (kW): 72 000 (52 900)

+ các máy phát điện tuabin GTU-6, công suất (kW): 2x-

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 35,5

+ tiết kiệm năng lượng: 18

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 3500 (18)

+ 3000 (23)

+ 2600 (34)

Thời gian hoạt động: 10 ngày

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 266 (22).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:34:05 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #525 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:17:30 am »

Vũ khí

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-101 thuộc tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-600 (SA-N-1 “Goa”): 32

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-61: 1x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ RGB-60: 96

+ RBU-1000 “Smerch-3”: 2x6

+ RGB-10: 24

Mìn

+ có thể mang theo mìn trên boong trên: 20

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25PLO (“Hormone A”): 1 (trên bãi cất hạ cánh thẳng).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #526 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:17:52 am »

Trang bị vô tuyến điện

Thiết bị kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “More-U” trên 2 tàu đầu tiên hoặc

+ “Planshet-61” trên các tàu còn lại

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 2xMR-300 “Angara” (Head Net A) trên các tàu đầu tiên

+ 1xMR-310 “Angara” (Head Net C) và

+ 1xMR-500 “Kliver” (Big Net) trên các tàu còn lại

Đài thủy âm định vị

+ “Titan” (Bull Nose hoặc Bull Horn)

+ “Vưchegda”

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Zaliv”

+ “Krab-11”; “Krab-12” (2 Bell Shroud; 2 Watch Dog) hoặc

+ MR-262 “Ograda-1” (Guard Dog)

+ máy bảo vệ thủy âm (2)

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 4x16 thiết bị phóng PK-16 trên 1 số tàu

Các khí tài quang điện

+ 3xMT-45 (Tee Plinth)

+ 4x(Titt Pot)

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x4R-90 “Yatagan” (Peel Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Volna”

+ 2xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo

Các khí tài thông tin liên lạc

+ tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #527 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:19:10 am »

Đề án 1125

Tổng số tàu đã đóng: 0

Biến thể: không có.

Vào cuối năm 1962, trong biên chế Hải quân Liên Xô gia nhập tàu chống ngầm lớn đề án 61 “Đoàn viên thanh niên cộng sản Ukraina” do Phòng Thiết kế trung ương số 53 thực hiện từ năm 1966. Đây là dòng tàu chống ngầm loại lớn đầu tiên được trang bị thiết bị tuabin khí và trong kết quả là bước ngoặt không chỉ ở Liên Xô mà còn trong ngành đóng tàu quân sự thế giới. Mặc dù việc đóng tàu đề án này được dự trù từ năm 1959, khi đó đã rõ ràng rằng quan điểm từ vũ khí chống ngầm chỉ có 1 thiết bị ngư lôi và 4 thiết bị phóng bom phản lực, tàu này không thể đủ hiệu quả chống lại các tàu ngầm nguyên tử của địch. Vì thế, vào năm 1958, nhiệm vụ chiến dịch – chiến thuật thiết kế tàu chống ngầm lớn mang vũ khí mạnh hơn theo đề án 1125 được giao cho nhóm B.I.Kupensky. Sự khác biệt chính của nó là nó sẽ mang trên thành (trang bị) thiết bị RBU-24 000 6 ống phóng để bắn tên lửa chống ngầm “Vikhr” với bộ phận chiến đấu (đầu đạn) nguyên tử và có 1 hoặc 2 trực thăng chống ngầm đóng thường trực trên tàu.

Theo các kết quả công việc thiết kế sơ bộ, lượng choán nước của tàu: tiêu chuẩn: 5900 tấn, thường: 6650 tấn, hoàn toàn: 7400 tấn. Để tăng cường các công việc thiết kế được chế tạo trên thân tàu khu trục đề án 58 với các kích thước 160x16x6 mét và với cùng thiết bị tuabin nồi hơi công suất 2x45 000 sức ngựa. Tốc độ tối đa của tàu dự kiến là 40 hải lý, cho phép nhanh chóng đuổi kịp tàu ngầm nguyên tử, có tốc độ ở tư thế ngầm 30 hải lý.

Trang bị của tàu chống ngầm loại lớn đề án 1125 ngoài RBU-24 000 còn có 2 tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna” với các thiết bị phóng 2 thùng,2 thiết bị pháo nòng đôi 76,2mm AK-725, 2 thiết bị phóng bom phản lực RBU-6000 và 2 thiết bị ngư lôi 533mm 5 ống. Trong phần mạn tàu dự định thiết kế bãi cất hạ cánh thẳng và hang ga dưới boong cho 1 trực thăng (hoặc 2), đồng thời trữ lượng nhiên liệu hàng khong và hầm đạn.

Cuối cùng, việc sử dụng dòng tàu chống ngầm lớn đề án 61 đã từ bỏ đề án 1125, còn tên lửa chống ngầm “Vikhr” (đã ở trong dạng thiết bị phóng 2 thùng được nạp đạn) đã được nhận vào trang bị chỉ trên các tàu tuần dương chống ngầm chở máy bay các đề án 1123 và 1143. Đầu tiên, quyết định về việc không chấp nhận được tiếp nhận chiều theo ngành công nghiệp, kết quả là Hải quân Liên Xô đã bỏ lỡ cơ hội triển khai (phát triển) hệ thống chống ngầm mạnh hơn và sau đó là chế tạo. Toàn bộ các tàu này có thể được đóng với số lượng nhiều, bắt nguồn từ giá thành đóng loạt của chúng. Ngoài ra, đề án 1125 có thể sau đó được nâng cấp với sự xuất hiện vũ khí mới – vốn không làm được với đề án 61 do bố cục rất thô cứng của nó.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #528 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:27:26 am »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 5900

+ thường: 6650

+ hoàn toàn: 7400

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất: 160

+ chiều rộng nhất: 16

+ lượng mớn nước trung bình: 6

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KVN-95/64

+ 2 tô hợp tuabin răng cưa TV-12, tổng công suất, sức ngựa (kW): 90 000 (66 150)

2 trục, 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 40

+ tiết kiệm năng lượng: 24

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 4000 (24)

Thời gian hoạt động: 15…20

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): -
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:34:42 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #529 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2012, 12:32:02 am »

Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm “Vikhr”: 1x6

+ tên lửa chống ngầm 82-R: 6

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng Zif-101 của tổ hợp tên lửa phòng không M-1 “Volna”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-600: 32

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-61: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ cơ số đạn: 96

Vũ khí hàng không

+ trực thăng Ka-25PLO (“Hormone A”: 1… 2.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM