Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:05:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329622 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #560 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2012, 01:19:17 pm »

Các biến thể


Đồng thời cũng như trên các tàu đề án 1134-A, trên tàu chống ngầm lớn đề án 1134-B trong thời gian sửa chữa đã thay thế tổ hợp tên lửa chống ngầm “Metel” bằng tổ hợp đa chức năng mới “Rastrub-B” với tên lửa 85-RU có khả năng tiêu diệt mục tiêu nổi.

Hai tàu trong đề án đã chịu sự nâng cấp sâu. Trên tàu thứ ba – “Kerch” – thay cho đài ra đa định vị “Voskhod” đã lắp đài ra đa định vị “Podberezovik”. Trên tàu thứ 4 “Azov” năm 1977, thay tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” ở mạn tàu đã lắp để thí nghiệm tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh mới “Fort” – phiên bản Hải quân của tổ hợp phòng không Quân chủng Lục quân (Phòng không quốc gia) S-300PS. Sau khi nâng cấp, số hiệu đề án đổi thành 1134-BF (ở phương Tây gọi “Azov” là lớp Kara biến thể - Modified Kara). Tàu này được sử dụng tương đối lâu trên Biển Đen để xử lý tổ hợp tên lửa phòng không đa kênh trên tàu trong tổ chức phòng thủ tập thể với tên lửa phòng không khởi động thẳng, được sử dụng để thiết kế trên các tàu tuần dương đề án 1164 và 1144 ở thời điểm đó.

Chương trình đóng tàu


Tàu đầu tiên trong đề án 1134-B nhận tên gọi “Nikolaev” được khởi công tháng 1 năm 1969 ở xưởng đóng tàu ở Nikolaev mang tên 61 chiến sĩ công xã (xưởng số 200), trong tháng 1 năm 1971 tàu được đưa vào biên chế Hải quân. Đến năm 1979 đã đóng thêm 6 tàu thuộc đề án trong cùng xưởng trên.

Tình hình đến năm 2007

Các tàu đề án 1134-B tham gia một cách tích cực trong các hoạt động sẵn sàng chiến đấu trong biên chế Hải quân Liên Xô – 4 – biển Đen; 3 – Thái Bình Dương. Trong tháng 2-6 năm 1979, tàu chống ngầm lớn “Petropavlovsk” và “Taskent” đã hoàn thành cuộc hành quân chung kéo dài quanh Châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc. Một trong số các tàu đã tham gia bộ phim “Cuộc đi biển đơn độc”.

Sau khi Liên Xô tan rã, các tàu chống ngầm lớn đã bắt đầu bị loại dần khỏi biên chế Hải quân. Cuộc khủng hoảng kinh tế chung ở Nga đầu những năm 1990 và sự phân chia Hạm đội Biển Đen không phải là nguyên nhân chính. Tới thời điểm này, trong Hải quân Nga chỉ còn các tàu chống ngầm lớn “Kerch” và “Ochakov”. Trong đó, tàu sau cùng có khả năng chiến đấu thấp và có khả năng trong tương lai gần sẽ bị loại khỏi biên chế. Trong khi đó, để sửa chữa “Ochakov”, theo ý Đô đốc I.Kasatonov, trong những năm 1990 đã ghi nhận (đưa) tàu chống ngầm lớn mới hơn “Azov” thuộc Hạm đội Biển Đen được sử dụng như nguồn phụ tùng, nhưng theo sự mài mòn lớn của “Ochakov”, việc sửa chữa đã không được thực hiện.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #561 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2012, 01:28:05 pm »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


(* - tàu đang còn phục vụ trong biên chế)

+ “Nikolaev” (số hiệu xưởng 2001); 25 tháng 6 năm 1968 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 200); 13 tháng 8 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 19 tháng 12 năm 1969; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1971; 8 tháng 2 năm 1972 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 9 tháng 4 năm 1984 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 26 tháng 9 – 1 tháng 10 năm 1973 tới thăm Split (Nam Tư) và 15-21 tháng 4 năm 1981 – tới Havana (Cuba); 11 tháng 11 năm 1987 được đưa tới Nikolaev để đại tu, nhưng 29 tháng 10 năm 1992 bị loại khỏi biên chế Hải quân; 31 tháng 12 giải thể; 10 tháng 8 năm 1994 được tới Ấn Độ để tháo dỡ kim loại.

+ (*) “Ochakov” (số hiệu xưởng 2002); 19 tháng 12 năm 1969 ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 200); 25 tháng 12 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 30 tháng 4 năm 1971; gia nhập biên chế 4 tháng 11 năm 1973; 28 tháng 11 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 14-19 tháng 6 năm 1979 tới thăm Latania (Siri); 13-18 tháng 4 năm 1979 – tới Rieka (Nam Tư); 11-16 tháng 6 năm 1979 – tới Tulon (Pháp); 10-13 tháng 8 năm 1979 – tới Barna (Bulgaria); 20-24 tháng 10 năm 1986 – tới Havana (Cuba); 26-31 tháng 3 năm 1987 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ); 26-30 tháng 10 năm 1987 và 8-12 tháng 5 năm 1990 – tới Split (Nam Tư); 24-28 tháng 4 năm 1989 tới Constant (Rumani) và 11-14 tháng 6 năm 1990 – tới Taranto (Italia); trong giai đoạn từ 26 tháng 3 năm 1980 đến 18 tháng 7 năm 1984 trải qua đại tu ở “Sevmorzavod” ở Sevastopol; vào đầu những năm 1990 được đưa tới sửa chữa ở Sevastopol; 9 tháng 2 năm 1993 trên tàu xảy ra đám cháy do kết quả cháy khoang số 10.

+ (*) “Kerch” (số hiệu xưởng 2003); 30 tháng 4 năm 1971 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) tại Nikolaev; 25 tháng 5 năm 1971 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; hạ thủy 21 tháng 7 năm 1972; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1974; 23 tháng 1 năm 1975 gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; 10-14 tháng 8 năm 1984 và 11-15 tháng 8 năm 1989 tới thăm Varna (Bulgaria) và 28 tháng 6 – 2 tháng 7 năm 1989 tới Stambul (Thổ Nhĩ Kỳ) năm 2005 trải qua sửa chữa ở Novorossisk.

+ “Azov” (số hiệu xưởng 2004); 4 tháng 1 năm 1972 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 21 tháng 7 năm 1972 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã tại Nikolaev (số 200); hạ thủy 14 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế 25 tháng 12 năm 1975; 19 tháng 2 năm 1976; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen; năm 1977 nâng cấp theo đề án 1134-BF; 22-26 tháng 1 năm 1990 tới thăm Pirei (Hy Lạp); 25 tháng 6 – 1 tháng 7 năm 1990 tới Havana (Cuba); 24-28 tháng 6 năm 1991 – tới Tulon (Pháp) và 15-19 tháng 8 năm 191 – tới Constants (Rumani); trong giai đoạn từ 18 tháng 7 năm 1984 đến 21 tháng 2 năm 1985 trải qua đại tu tại “Sevmorezavod” ở Sevastopol; 10 tháng 12 năm 1998 bị loại khỏi biên chế Hải quân, giải thể và sau đó đưa vào danh sách tháo dỡ kim loại.

+ “Petropavlovsk” (số hiệu xưởng 2005); 4 tháng 1 năm 1972 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 9 tháng 9 năm 1973 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) tại Nikolaev; hạ thủy 22 tháng 1 năm 1974; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1976; 5 tháng 2 năm 1977 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24 tháng 2 – 3 tháng 7 năm 1979 hoàn thành cuộc hành quân quanh Châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc; thực hiện công tác, ghé vào Luanda (Angola), Maputa (Mozambic) và Port-Lui (Mavriki); trong giai đoạn từ 9 tháng 10 năm 1986 đến 12 tháng 2 năm 1990 trải qua đại tu ở “Dalzavod” tại Vladivostoc; năm 1995 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ “Taskent” (số hiệu xưởng 2006); 5 tháng 7 năm 1974 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân; 22 tháng 11 năm 1974 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã (số 200) ở Nikolaev; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1975; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1977; 17 tháng 2 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 24 tháng 2 – 3 tháng 7 năm 1979 hoàn thành cuộc hành quân quanh Châu Phi từ Sevastopol tới Vladivostoc; công tác, ghé vào Luanda (Angola), Maputa (Mozambic) và Port-Lui (Mavriki); 20 tháng 12 năm 1989 đưa tới Nikolaev để đại tu; nhưng 3 tháng 7 năm 1992 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; 29 tháng 10 năm 1992 giải thể; 10 tháng 8 năm 1994 kéo tới Ấn Độ để tháo kim loại.

+ “Tallin” (số hiệu xưởng 2007); từ 2 tháng 8 năm 1990 là “Vladivostoc”; 7 tháng 5 năm 1975 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân; 5 tháng 11 năm 1975 khởi công ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xa (số 200) tại Nikolaev; hạ thủy 5 tháng 11 năm 1976; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1979 và 28 tháng 3 năm 1980 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 13-17 tháng 12 năm 1981 tới thăm Maputa (Mozambic); 16-20 tháng 2 năm 1984 – tới Massaua (Etiopia); 13-17 tháng 8 năm 1985 – tới Wonsan (Hàn Quốc), còn 12-16 tháng 3 năm 1986 công tác, ghé vào Jibutil; năm 1994, bị loại khỏi biên chế hải quân và giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #562 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2012, 05:34:09 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, mét

+ tiêu chuẩn: 6590

+ hoàn toàn: 8470

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 173,4 (162)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước tiêu chuẩn): 18,5 (16,8)

+ lượng mớn nước lớn nhất: 6,35 (5,74)

Thiết bị năng lượng chính: thiết bị tuabin khí – khí

+ 2 tuabin khí hành trình M-62, tổng công suất, sức ngựa (kW): 12 000 (8820)

+ 4 tuabin khí tăng lực M-8E, tổng công suất, sức ngựa (kW): 80 000 (58 000)

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 32

+ tiết kiệm năng lượng: 18

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ 7100 (18)

+ 3000 (30)

Thời gian hoạt động: 30 ngày

Thủy thủ đoàn, thành viên (sỹ quan): 380 (47).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:24:43 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #563 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2012, 05:46:59 pm »

Vũ khí

Tên lửa chống ngầm

+ thiết bị phóng tên lửa chống ngầm PRK-3 “Metel” hoặc URK-5 “Rastrub-B”: 2x4

+ tên lửa chống ngầm 85-R hoặc 85-RU (SS-N-14 “Silex”): 8

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng B-187A của tổ hợp tên lửa phòng không M-11 “Shtorm” hoặc “Shtorm-M”: 2x2

+ tên lửa phòng không điều khiển V-611 (SA-N-3 “Goblet”): 48

+ thiết bị phóng Zif-122 của tổ hợp tên lửa phòng không 4K33 “Osa-M”: 2x2

+ tên lửa điều khiển 9M33M (SA-N-4 “Gecko”): 40

Pháo

+ thiết bị pháo 76,2mm AK-726: 2x2

+ tổ hợp pháo phòng không 30mm AK-630: 4x6

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-1134: 2x5

Chống ngầm

+ RBU-6000 “Smerch-2”: 2x12

+ RGB-60: 144

+ RBU-1000 “Smerch-3” (trừ “Petropavlovsk”): 2x6

+ RGB-10: 60

Vũ khí đường không

+ trực thăng Ka-25PL (“Hormone A”) hoặc Ka-27 (“Helix-A”): 1.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #564 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2012, 06:00:32 pm »

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Alleia-1” và “Koren”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm cao

+ 1xMR-600 “Voskhod” (Top Sail)

+ 1x”Podberezovic” (Flat Screen) chỉ trên “Krech”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1xMR-310A “Angara-A) (Head Net C)

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 2x”Volga” (Palm Frond) và “Vaigach” (Don Kay) trên Nikolaev hoặc

+ 3x”Vaigach” (2 Don Kay và 1 Don 2) trên các tàu còn lại

Đài thủy âm định vị

+ MG-332T “Titan-2T” (Bull Nose)

+ MG-235 “Vega” (Mare Tail) – đài thủy âm định vị lại

Các khí tài tác chiến điện tử

+ “Koltso”

+ “Gurfuz”, “Gurfuz-1” (8 Side Globe) (2 Bell Slam; 1 Bell Clout; 2Bell Tap) trên 1-2 tàu hoặc 4 Rom Tub trên các tàu còn lại

+ BAT-1

Các tổ hợp bắn nhiễu

+ 2x2 thiết bị phóng PK-2 (Zif-121)

Các khí tài quang điện

+ 4x(Tilt Pot)

Đài thủy âm định vị điều khiển hỏa lực

+ 2x”Grom-M” (Head Light C) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Shtorm” và tên lửa chống ngầm

+ 2x4R33 (Pop Group) cho tổ hợp tên lửa phòng không “Osa-M”

+ 2xMR-105 “Turel” (Owl Screech) cho thiết bị pháo 76,2mm

+ 2xMR-123 “Vưmpel” (Bass Tilt) cho thiết bị pháo 30mm

Đài đạo hàng đảm bảo bay

+ (Fly Screen A) không phải trên toàn bộ

Đài ra đa định vị hội thoại nói

+ “Nikel-KM” và “Khrom-KM” (High Pole A và B).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #565 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 01:24:21 am »

Tàu khu trục phóng ngư lôi lớp “Osmotritelnưi” – Đề án 30-K


Tổng số tàu đã đóng: 10

Biến thể: không có

Tận dụng (học hỏi, dựa vào) kinh nghiệm Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các công trình sư tàu khu trục của tất cả các nước đã bắt đầu các công việc theo sự tăng cường khả năng phòng thủ của chúng và trước hết là bảo vệ các trạm chiến đấu chính. Đạt được thành công lớn nhất là các công trình sư Nhật Bản – đã từ bỏ tốc độ rất lớn cho các tàu khu trục của họ, có thể trong lượng choán nước bị giới hạn bố trí toàn bộ pháo trên thiết bị tháp pháo và bọc thép buồng lái trên các thiết bị ngư lôi. Sự tăng các mối đe dọa từ tren không trong những năm 30 đã dẫn đến sự cần thiết tăng cường khẩn cấp vũ khí phòng không. Và trong câu hỏi này, các công trình sư Nhật rõ ràng đã đi tới (tìm ra) những phương pháp quan trọng. Toàn bộ các tàu khu trục Nhật được đóng sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất được trang bị pháo chính đa năng trên các tháp pháo (như kinh nghiệm Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đã chỉ ra, các tàu khu trục của Nhật đã thể hiện rất tốt). Vào đầu những năm 40, trong toàn bộ các cường quốc Hải quân , trên các tàu khu trục đã ứng dụng loại pháo chính đa năng lắp trên tháp pháo. Tàu đầu tiên của Hải quân Liên Xô trong lớp này được lắp thiết bị tháp pháo B-2-LM cho pháo 130mm được thiết kế dưới sự chỉ đạo của S.I.Lodkin và được sử dụng ban đầu cho các tàu khu trục mới – được đánh tương ứng với các kế hoạch xây dựng Hạm đội lớn năm 1938. Đề án tàu khu trục này nhận số hiệu 30.

Tàu khu trục đề án 30 được thiết kế ban đầu theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật được phê chuẩn bởi Tham mưu trưởng các lực lượng Hải quân Hồng quân công nông ngày 15 tháng 11 năm 1937, theo đó cần thiết chế tạo dự án cho việc đóng tàu khu trục thay thế cho các tàu đề án 7 và 7-U. Trong qua trình nghiên cứu lúc đầu, nhiệm vụ được xác định khái niệm cơ bản, khởi công đề án 30 bao gồm trong đó sự ghép bộ pháo chính và phái phòng không trên các tháp pháo. Đề án 30 được thiết kế bởi Phòng thiết kế xưởng số 190 (hiện nay là xưởng đóng tàu Phương Bắc) thuộc Bộ dân ủy đóng tàu trong những năm 1937-1939 dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư đề án A.M.Yunovidov và được phê duyệt bởi Mệnh lệnh Chính phủ số 403 ngày 27 tháng 10 năm 1939.

Trong bối cảnh, khi tàu khu trục đề án số 7 xuất hiện sự “phá hoại” (cơ bản do khả năng sống sót thấp của sơ đồ tuyến bố trí thiết bị năng lượng chính),  những quyết định quan trong về mọi mặt của tàu được dẫn trong số đó - từ kinh nghiệm trong chiến tranh Tây Ban Nha những năm 1936-1939. Tuy nhiên, sự viện dẫn kinh nghiệm này khi lập luận sự bố trí pháo trong tháp pháo để bảo vệ khẩu đội khỏi hỏa lực từ máy bay – là gượng ép, bởi vì các hoạt động chiến đấu trên biển không có (bao hàm) các trường hợp tấn công cường độ lớn (bắn từ sung máy và đại bác), khi tàu khu trục bắn pháo chính hoặc bắn ngư lôi. Thậm chí các bằng chứng trên kinh nghiệm nước ngoài ở thời điểm đó rất không được tiếp nhận (tiếp thu). Pháo chính của tàu mới được bố trí trong tháp pháo B-2-LM (2x2 pháo 130mm), còn các thiết bị ngư lôi được bố trí trong khoang điều khiển bắn ngư lôi bọc thép.

Một mặt, đây là tàu khu trục phóng lôi hiện đại hơn so với đề án 7 và 7-U, nhưng mặt khác, nó tiếp tục thừa kế một số nhược điểm của tàu khu trục các dòng trước, đặc biệt là ở trang bị pháo và thiết bị cơ khí. Như theo so sánh với các tàu khu trục tương tự ở nước ngoài, nó có vũ khí phòng không không đảm bảo do pháo chính không phải đa năng. Ở thời điểm đó, trên tàu khu trục Mỹ, pháo đa năng 127mm là ngắn (gọn) với chiều dài nòng gấp 38 lần cỡ nòng, vượt trội về tốc độ bắn nhưng kém về tầm xa so với pháo 130mm B-13 của tàu khu trục đề án 30. Tuy nhiên điểm yếu này của pháo Mỹ chỉ mang ý nghĩa thuần về lý thuyết bởi vì khí bắn trong điều kiện sóng biển, việc thực hiện bắn ở tầm xa đối đa trên thực tế là không thể. Các tàu khu trục của các nước tham chiến, theo kinh nghiệm của Chiến tranh Thế giới thứ hai, trong các trận chiến trên biển, thực tế không tiếp nhận sử dụng pháo ở tầm bắn tối đa. Mặt khác, sự đe dọa từ trên không của đối phương đã chứng minh là rất mạnh. Và trong thời gian chiến tranh, để chống lại máy bay của địch, các tàu khu trục đề án 7 và 7-U bắt buộc phải sử dụng thậm chí các pháo 130mm B-13. Tốc độ bắn cao của pháo trên tàu khu trục Mỹ đạt được nhớ áp dụng đạn liều phóng nạp rời. Nhược điểm của đề án 30 đồng thời được bao gồm sử dụng trong thành phần thiết bị năng lượng chính nồi hơi loại thường với sự thổi không khí tới buồng nồi hơi. Cũng kinh nghiệm trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã chỉ ra rằng thiết bị nồi hơi này trên các tàu nhẹ nhanh chóng mất đi chất lượng và các tham số trong kết quả mất sự kín buồng nối nơi do các vết thủng của mảnh đạn vào thành tàu trong các vụ bom ném từ máy bay nổ gần và trong hàng loạt các trước hợp tàu khu trục nói chung mất khả năng di chuyển và bị loại khỏi vòng chiến đấu. Sơ đồ này của thiết bị nồi hơi trong các nước Hải quân hàng đầu (Mỹ và Anh) từ cuối những năm 30, đầu những năm 40 đã không được tiếp nhận trong các đề án tàu khu trục mới và các tàu lớn hơn (sử dụng sử thổi trực tiếp vào buồng đốt và tăng các tham số hơi nước: áp suất hơn 45 kg lực/cm2, nhiệt độ 450 độ C). Chỉ vào mùng 8 tháng 3 năm 1940, Bộ Dân Ủy Hải quân đã phê duyệt nhiệm vụ kỹ - chiến thuật của tàu khu trục mới đề án 30-A, trong thiết bị năng lượng chính của tàu sử dụng sơ đồ và tham số hơi nước của tàu khu trục Mỹ (1 tổ hợp thiết bị năng lượng chính nhận được từ Mỹ), nhưng đề án do những nguyên nhân không rõ ràng đã không được thực hiện.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #566 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 02:23:35 am »



Bản vẽ tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30

Khả năng cơ động trên biển không tốt được thừa hưởng từ đề án 7 được giữ trên đề án 30. Boong bị ngập nặng của tàu khu trục tất cả nước nước khi sóng lớn không cho phép sử dụng vũ khí một cách hiệu quả, còn sự di chuyển thủy thủ đoàn lên boong trên gắn liền với những mối tai nạn (hiểm họa) lớn. Ở một số nước đã làm được những bước đàu tiên về nâng cấp điều kiện khai thác sử dụng vũ khí do kết quả nâng từng phần lên chiều cao lớn. Ví dụ, như tàu khu trục Mỹ từ boong mũi hoặc tháp mũi đến tháo pháo mũi pháo chính được bố trí dày đặc trên thượng tầng, trên nóc bố trí thiết bị ngư lôi và pháo, còn bên trong đảm bảo sự di chuyển của thủy thủ đoàn từ các buồng mũi tới mạn tàu theo mọi trạm chiến đấu mà không phải ra khỏi boong trên. Trên tàu chỉ huy “Taskent” đã tiếp nhận giải pháp thiết kế này, mặc dù chỉ huy Hải quân lo ngai hiệu quả hoạt động của thiết bị ngư lôi bố trí trên thượng tầng. Như kinh nghiệm khai thác sử dụng sau đó đã chỉ ra rằng khả năng này tăng hiệu quả sử dụng vũ khí, qua sự đảm bảo điều kiện làm việc thuận lợi hơn cho thủy thủ đoàn đã chứng minh hiệu quả rất cao (tính toán này đã áp dụng ở một trong số các phiên bản – đề án 30-bis đã nghiên cứu phương án thông tin thượng tầng mũi với mạn bằng cách sử dụng đài chỉ huy vòng). Đương nhiên, các thượng tầng phát triển và thành cao bởi các chuyên gia khi đó đã nghiên cứu như là sự xuất hiện không thuận lợi (tiêu cực) (do khả năng bị phát hiện lớn và phạm vi bị bắn cháy lớn với điểm ngắm chiến thuật, đồng thời giảm tính ổn định do chiều cao trung tâm trọng lực lớn). Sự tuyệt đối hóa các yếu tố bị phát hiện là kết luận của những quan điểm lỗi thời trong việc sử dụng tàu khu trục, khí đó đã cho rằng chúng được sử dụng trong vai trò cơ bản để tấn công bằng ngư lôi các tàu nổi lớn trong thời gian ban ngày. Khi đó, yếu tố chiếm vị trí ưu tiên đầu tiên là tốc độ, sức mạnh dàn ngư lôi và khả năng bị phát hiện thấp. Tuy nhiên, như trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ nhất, cũng như trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, các tàu khu trục đã tấn công các tàu nổi lớn bằng vũ khí ngư lôi vào ban ngày rất hiếm, tức là các trường hợp này bị loại trừ; không phải là thường xuyên. Chế tạo các tàu theo nhiệm vụ mà thậm chí trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất bị loại bỏ chưa chắc là hợp lý. Vì thế, các công trình sư Mỹ ngay lập tức đã nghiên cứu tàu khu trục như những tàu đa năng hạng nhẹ và đã cố gắng đảm bảo chúng các phần tử kỹ - chiến thuật cân bằng nhất. Trong sự khác biệt so với Hải quân Mỹ, Anh và Nhật, trong Hải quân Italia, Đức, Pháp và Liên Xô, nhiệm vụ chính của tàu khu trục được giữ lại như cũ, vì thế trong sự đảm bảo tốc độ cao đã chấp nhận hy sinh khả năng cơ động trên biển và độ dày thân tàu.


Trong sự tương ứng với đề án kỹ thuật được phê duyệt bởi Bộ Dân ủy công nghiệp đóng tàu năm 1939 đã bắt đầu đóng tàu khu trục theo đề án 30. Tuy nhiên từ đầu Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, việc đóng toàn bộ các tàu khu trục đề án 30 bị dừng lại. Tới thời điểm đó, chỉ hạ thủy thành công 5 tàu khu trục đề án 30 “Otlichnưi”, “Obraztsovưi” và “Otvazhnưi” ở xưởng Phương Bắc, còn “Ognevoi” và “Ozornoi” ở xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev, mà vào tháng 8 năm 1941 đã bị đưa ra xưởng trước khi Nikolaev bị chiếm bởi quân Đức. Chỉ vào năm 1943 ở Batumi mới bắt đầu đóng tàu khu trục “Ognevoi” và kết thúc vào tháng 4 năm 1945.

Chương trình đầu tiên sau chiến tranh (1946-1955) đã lên kế hoạch đóng và đưa vào biên chế Hải quân Liên Xô nhiều tàu khu trục. Lãnh đạo đất nước khi đó đã hướng tới khả năng có thể nhanh nhất bắt đầu thực hiện chương trình đã định và vì thế khi lựa chọn các đề án tàu, nó hoàn toàn phù hợp với ngành công nghiệp. Thay cho thiết kế các đề án tàu khu trục mới, dựa trên kinh nghiệm Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, trong đó bị bắt buộc bởi Dân ủy Hải quân đã tiếp nhận quyết định thực hiện các đề án đã có và cụ thẻ là đề án 30 với sự thay đổi một cần thiết một cách từng phần dựa trên kinh nghiệm này. Trong các tàu đang được đóng tiếp thuộc đề án 30-K “hiệu chỉnh” đã lắp bổ sung pháo phòng không 37mm 70-K, thiết bị phóng bom, đàu ra đa định vị bắn và đài thủy âm mới, đồng thời thân tàu được gia cố một cách đáng kể. Trên các tàu khu trục khác có bố cục tiêu chuẩn và được trang bị 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng, pháo 2 nòng 130mm và 85mm, đồng thời pháo phòng không, bom chìm và mìn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #567 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 02:37:04 am »

Chương trình đóng tàu

Việc đóng tàu đền án 30 được thực hiện từ năm 1939, nhưng bị dừng lại do chiến tranh bắt đầu. Tàu khu trục đầu tiên của đề án “Ognevoi” gia nhập biên chế tháng 5 năm 1945, còn theo đề án hiệu chỉnh 30-K sau Chiến tranh Thế giới thứ hai trong giai đoạn từ năm 1947 đến 1950 đã đóng tiếp và bàn giao cho Hải quân 10 tàu (1 – xưởng mang tên 61 chiến sĩ công xã ở Nikolaev (số 200 – số 445), 4 – xưởng Phương Bắc ở Leningrad (số 190 mang tên A.A.Zhdanov), 3 – xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin ở Komsomol-na-Amur (số 190), 2 - ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc ở Molotovsk – hiện nay là Severodvinsk số 402)). Các tàu còn lại được tháo lấy kim loại.

Tàu khu trục “Ozornoi” năm 1950 được bán cho Hải quân Bulgaria và đổi tên thành “Georgi Dimitrov”.

Tình hình đến năm 2005

Tàu cuối cùng bị loại khỏi danh sách Hải quân năm 1965. Đã có 5 tàu khu trục được chuyển đổi, làm nhiệm vụ khác.


Sự bố trí vũ khí trên tàu khu trục phóng ngư lôi đề án 30-K

1. Thiết bị pháo chính nòng đôi 130mm B2-LM

2. Thiết bị pháo phòng không nòng đôi 85mm 92-K

3. Trạm đo xa với đài ra đa định vị bắn để điều khiển hỏa lực pháo phòng không

4. Thiết bị ngư lôi 3 ống phóng 533mm TTA-533-30

5. Thiết bị pháo phòng không 37mm 70-K

6. Trạm ăng ten đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp “Gyuis-1”

7. Trạm đo xa – chỉ huy điều khiển hỏa lực pháo chính KDP2-4

8. Thiết bị phóng bom BMB-1

9. Rãnh dẫn hướng cho mìn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #568 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 03:18:15 am »

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Osmotritelnưi” số hiệu xưởng 103; từ 18 tháng 4nawm 1958 là PKZ-151; từ 9 tháng 5 năm 1958 là TsL-30; từ 17 tháng 9 năm 1958 là PKZ-151; khởi công 5 tháng 5 năm 1940 ở xưởng số 402; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1950; hạ thủy 24 tháng 8 năm 1940; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1947; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 1 tháng 10 năm 1947; 8 tháng 4 năm 1958 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và trang bị lại thành doanh trại nổi (PZK), sau đó thành tàu mục tiêu (TsL), sau đó một lần nữa thành doanh trại nổi; bị loại khỏi biên chế Hải quân; 6 tháng 11 năm 1961 bị đắm ở cửa sông vịnh Kandalak ở khu vực cảng Gridino bởi tàu tuần tương tên lửa “Groznưi” khi thử bắn tên lửa trong thời gian diễn ra thí nghiệm bàn giao cấp nhà nước.

+ “Vnushitelnưi”; số hiệu xưởng 3; từ 18 tháng 4 là TsL-32; từ 14 tháng 9 năm 1959 là UTS-90; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; khởi công 16 tháng 10 năm 1940 ở xưởng số 199; hạ thủy năm 1942; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1947; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1948; 23 tháng 4 năm 1953 gia nhập biên chế Hạm đội Thái Bình Dương; 18 tháng 4 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu; 28 tháng 8 năm 1959 trở thành tàu huấn luyện (UTS); bị loại khỏi biên chế Hải quân 29 tháng 9 năm 1960; giải thể 10 tháng 10 năm 1960.

+ “Okhotnik”; số hiệu xưởng 104; từ 1 tháng 12 năm 1946 là “Stalin”; khởi công 25 tháng 6 năm 1940 ở xưởng số 402; ghi tên vào danh sách tàu Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; hạ thủy 19 tháng 7 năm 1947; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1948; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 26 tháng 10 năm 1948; 28 tháng 1 năm 1958 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân và giải thể; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân 3 tháng 4 năm 1958; năm 1958-59 tháo dỡ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Murmansk.

+ “Otlichnưi”; số hiệu xưởng 58, từ 14 tháng 3 năm 1960 là TsL-69; từ 6 tháng 4 năm 1962 là PKZ-43; khởi công 2 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 10 năm 1940; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1947; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1948; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 9 tháng 1 năm 1949; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập biên chế Hạm đội Baltic; 6 tháng 2 năm 1960 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân; tháo vũ khí và phân loại thành tàu mục tiêu; loại khỏi biên chế Hải quân 9 tháng 2 năm 1962 tháo neo đậu và cải tạo thành doanh trại nổi; cuối cùng bị loại khỏi danh sách tàu Hải quân 13 tháng 7 năm 1965; trong năm 1965-66 xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Kronshtadt.

+ “Vưnoslivưi”; số hiệu xưởng 4; từ 20 tháng 2 năm 1959 là TsL-51; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; khởi công 29 tháng 10 năm 1940 ở xưởng số 199; hạ thủy 17 tháng 11 năm 1947; gia nhập biên chế 5 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1949; 31 tháng 5 năm 1949 chuyển tới đơn vị Hải quân số 7; 23 tháng 4 năm 1953; chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 2 năm 1959 loại khỏi biên chế chiến đấu; tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu; loại khỏi danh sách Hải quân 30 tháng 8 năm 1960 và cải tạo thành căn cứ để đảm bảo thực hiện các bài tập chiến đấu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #569 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2012, 03:38:37 am »

+ “Vlastnưi”; số hiệu xưởng 5; 20 tháng 2 năm 1959 là TsL-48; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; khởi công 29 tháng 10 năm 1940 ở xưởng số 190; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 23 tháng 2 năm 1948; 31 tháng 5 năm 1949 chuyển tới đơn vị số 7 Hải quân; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 20 tháng 2 năm 1959 bị loại khỏi biên chế Hải quân; tháo vũ khí và cải tạo thành tàu mục tiêu; loại khỏi danh sách Hải quân 30 tháng 8 năm 1960 và trở thành căn cứ đảm bảo thực hiện các bài tập luyện chiến đấu.

+ “Ozornoi”; số hiệu xưởng 1087; khởi công 20 tháng 11 năm 1939 ở xưởng số 200; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; hạ thủy 25 tháng 12 năm 1940; 14 tháng 8 năm 1941 được kéo tới Poti; 1 tháng 12 năm 1942 dừng đóng và niêm cất; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại; gia nhập biên chế 9 tháng 1 năm 1949; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 25 tháng 2 năm 1949; loại khỏi biên chế Hải quân 25 tháng 3 năm 1950 để bán cho Bulgaria; gia nhập biên chế Hải quân Bulgaria dưới tên gọi “Georgi Dimitrov”; năm 1963 tháo vũ khí và chỉ huy quân đội Bulgaria bán lấy kim loại.

+ “Obraztsovưi”; số hiệu xưởng 539; từ 20 tháng 8 năm 1959 là TsL-41; từ 6 tháng 2 năm 1960 là UTS-251; khởi công 2 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; 20 tháng 5 năm 1942 dừng đóng; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 30 tháng 10 năm 1947; gia nhập biên chế 29 tháng 9 năm 1949; gia nhập đơn vị Hải quân số 8 27 tháng 11 năm 1949; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập Hạm đội Baltic; 20 tháng 2 năm 1959 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; tháo vũ khí và phân loại lại thành tàu mục tiêu; 30 tháng 12 năm 1958 trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi biên chế Hải quân 23 tháng 2 năm 1961; tháo kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Paldisky.

+ “Otvazhnưi”; số hiệu xưởng 540; khởi công 30 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; 20 tháng 5 năm 1942 dừng đóng; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 2 tháng 1 năm 1948; gia nhập biên chế 2 tháng 3 năm 1950; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 16 tháng 4 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1955 gia nhập Hạm đội Baltic; loại khỏi biên chế Hải quân 18 tháng 3 năm 1958; giải thể 3 tháng 4 năm 1958.

+ “Odarennưi”; số hiệu xưởng 541; từ 18 tháng 4 năm 1958 là UTS-86; khởi công 30 tháng 12 năm 1939 ở xưởng số 190; ghi tên vào danh sách Hải quân 25 tháng 9 năm 1940; 20 tháng 5 năm 1942 dừng đóng; đóng tiếp sau Chiến tranh Vệ quốc; hạ thủy 27 tháng 12 năm 1948; gia nhập biên chế 28 tháng 6 năm 1950; gia nhập đơn vị Hải quân số 4 6 tháng 8 năm 1950; 24 tháng 12 năm 1966 gia nhập Hạm đội Baltic; 28 tháng 1 năm 1958 bị loại khỏi biên chế Hải uân; 18 tháng 4 năm 1958 tháo vũ khí và trở thành tàu huấn luyện; loại khỏi danh sách Hải quân 27 tháng 2 năm 1965.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM