Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:57:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329697 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #590 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2012, 12:27:23 pm »

+ “Pưlki” (số hiệu xưởng 619); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 20 tháng 4 năm 1952 ở xưởng số 445 từ khối đã được lắp ở xưởng số 190; hạ thủy 31 tháng 7 năm 1952; gia nhập biên chế 31 tháng 12 năm 1952; gia nhập biên chế Hạm đội Biển Đen 18 tháng 1 năm 1953; 28 tháng 2 năm 1964 tách ra để bán cho Hải quân Indonesia, nhận tên gọi “Dipronegoro”; 9 tháng 5 năm 1964 loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 21 tháng 4 năm 1965; năm 1973 tháo vũ khí và bán kim loại bởi chỉ huy quân đội Indonesia.

+ “Vrazumitelnưi” (số hiệu xưởng 27); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 15 tháng 12 năm 1951 ở xưởng số 199; hạ thủy 3 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 10 tháng 1 năm 1953; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 5 1 tháng 2 năm 1953; 23 tháng 4 năm 1953 chuyển tới Hạm đội Thái Bình Dương; 7 tháng 2 năm 1977 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 18 tháng 7 năm 1977, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Ozhivlennưi” (số hiệu xưởng 197); từ 31 tháng 8 năm 1961 đến 24 tháng 6 năm 1965 là TsL-21; ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 12 tháng 1 năm 1951 ở xưởng số 402; hạ thủy 4 tháng 8 năm 1952; gia nhập biên chế 24 tháng 1 năm 1953; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 23 tháng 2 năm 1953; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu mục tiêu; 24 tháng 6 năm 1965 trở lại biên chế chiến đấu và phân loại lại thành tàu khu trục; 15 tháng 11 năm 1967 chuyển tới Hạm đội Biển Đen; 2 tháng 6 năm 1976 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 1 tháng 2 năm 1977 sau đó tháo kim loại.

+ “Stenennưi” (số hiệu xưởng 618); ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 11 tháng 2 năm 1952 ở xưởng số 190; hạ thủy 22 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 11 tháng 2 năm 1953; gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 8 1 tháng 3 năm 1953; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; 28 tháng 2 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu; 8 tháng 7 năm 1968 tháo niêm cất và trở lại biên chế; 14 tháng 3 năm 1968; tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 22 tháng 7 năm 1986, sau đó bị tháo kim loại.

+ “Ozhestochennưi” (số hiệu 198); từ 31 tháng 8 năm 1961 là TsL-22; ghi tên vào danh sách Hải quân 22 tháng 6 năm 1951; khởi công 3 tháng 4 năm 1952 ở xưởng số 402; hạ thủy 26 tháng 9 năm 1952; gia nhập biên chế 14 tháng 3 năm 1953; gia nhập biên chế Hạm đội Phương Bắc 5 tháng 4 năm 1953; 3 tháng 8 năm 1961 loại khỏi biên chế chiến đấu và phân loại thành tàu mục tiêu; 12 tháng 3 năm 1971 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân và tháo kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #591 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2012, 12:32:32 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 2316

+ hoàn toàn: 3066

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 120,5 (-)

+ chiều rộng nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 12 (-)

+ lượng mớn nước lớn nhất (trung bình): 3,9

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi nước KV-30; 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-6, tổng công suất, sức ngựa (kW): 60 000 (44 100)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ lớn nhất: 36,5

+ tiết kiệm năng lượng: 15,7

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 3660 (15,7)

Tầm bơi xa, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 286 (-).
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười, 2012, 09:22:57 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #592 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2012, 12:41:20 pm »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm B2-LM: 2x2

+ thiết bị pháo 85mm 92-K: 1x2

+ thiết bị pháo 37mm 70-K: 7x1

+ hoặc 37mm V-11: 4x2

+ pháo tự động 25mm 2M-3M (trên 1 số tàu): 2x2 hoặc 3x2

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-30-bis: 2x5

Chống ngầm

+ BMB-2: 2x1

+ máy rải bom: 2

+ bom chìm RGB/BPS/GB/BB: 51

Mìn

+ các loại mìn KB “Krab”/M-26: 52/60.

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Planshet-30-bis”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Rif-1” hoặc “Zarya”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Gyuis-1M4”

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Neptun”

Đài thủy âm định vị

+ “Tamir-5N” hoặc “Pegas-2”

Các khí tài tác chiến điện tử: không có

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Redan-2” cho thiết bị pháo chính trong thành phần KDP2 hoặc 1x”Zalp”

+ 1x”Vưmpel-2” cho thiết bị pháo phòng không trong thành phần KDP-29

Các trạm đo xa – chỉ huy:

+ 1xKDP2-4L

+ 1xSVP-29-RLM

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: “Fakel”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #593 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 12:18:26 am »

Đề án 41 – “Heystrashinmưi”


Tổng số tàu đã đóng: 1

Biến thể: không có.

Thực tế những đề án tàu phóng ngư lôi đầu tiên của Liên Xô không chỉ tính đến đề án 30-bis, mà còn đề án 40, nhiệm vụ kỹ - chiến thuật thiết kế tàu được phê chuẩn 14 tháng 6 nawm1947. nhiện vụ kỹ - chiến thuật trong giới hạn nào đó là kết quả thiết kế tàu chỉ huy đề án 48, đã được bắt đầu nhưng chưa đóng xong và chuyển sang đề án 40. Sự thiết kế tàu mới được giao cho tập thể Phòng thiết kế trung ương 53. Tổng công trình sư là V.A.Nikitin – không phóng đại – là nhà đống tàu Liên Xô xuất sắc, đã mang đến những cống hiến lớn trong ngành đóng tàu Liên Xô.  Nhóm giám sát viên từ Hải quân do kỹ sư – thuyền trưởng cấp 2 M.A.Yanchevski đứng đầu. Thiết kế sơ bộ mất thời gian 1 năm và 19 tháng 8 năm 1948 kết quả của nó đã được phê chuẩn bằng mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Thêm 4 năm nữa – 28 tháng 9 năm 1949 – đề án kỹ thuật được phê duyệt và đồng thời với quyết định được tiếp nhận trong mục tiêu thiết kế dòng tàu khu trục mới với những giải pháp kỹ thuật tiềm năng sẽ bắt đầu đống một tàu đầu tiên và sau đó – đóng loạt.

Tháng 12 năm 1949, xưởng đóng tàu mang tên Zhdanov (hiện nay là “xưởng phương Bắc) đã bắt đầu đóng tàu, tuy nhiên, việc khởi công chính thức chỉ thực hiện vào 5 tháng 7 năm 1950. Tàu khu trục nhận tên gọi “Neustrashimưi”. Tháng 12 cùng năm đã bắt đầu chuẩn bị việc đóng loạt đã được xác nhận và trên 2 xưởng đóng tàu khác nhau. Việc hạ thủy tàu được thực hiện 29 tháng 1 năm 1951, còn sau đó 1 năm (26 tháng 9 năm 1952), khi chưa kết thúc thí nghiệm neo đậu, tàu khu trục được đưa tới các thí nghiệm vận động cấp xưởng.

Trong kế hoạch kỹ thuật, tàu khu trục là giai đoạn mới về chất trong sự phát triển các tàu không chỉ trong lớp mà còn ngành đóng tàu chiến nổi nội địa nói chung. Tương ứng với đề án, tàu đầu tiên đã được đóng bằng boong trơn với chiều cao mạn tàu trung bình. Ngoài một thượng tầng mũi, vỏ bọc nồi hơi trên boong trên  và không tính vũ khí – các thượng tầng khác không có. Trên thân tàu hầu như không có cửa mạn, và nói chung tàu đáp ứng được khả năng cap nhất các yêu cầu chống vũ khí hạt nhân. Trạm chỉ huy chính, vách ngăn, đài chỉ huy truyền động, vỏ buồng máy – nồi hơi, tháo pháo chính, pháo phòng không tự đồng và trạm dẫn bắn ổn định cho pháp được bọc thép dày 8-10 đến 20mm.

Một cách cơ bản, sự khác biệt so với các đề án trước là thiết bị năng lượng chính. Thiết bị năng lượng chính 2 trục được bố trí trong 2 khoang tự hành độc lập. Trong mỗi khoang, hình thành tuyến bố trí tổ hợp tuabin răng cưa chính kiểu TV-8 công suất thiết kế 33 000 sức ngựa và 2 nồi hơi nước với toàn bộ máy móc phục vụ. Các nồi hơi tự động hóa KV-41 có sự thổi hơi được tăng cường một cách trực tiếp tới buồng đốt và sản xuất hơi nước có tham số được tăng cường với áp suất 64kg/cm2. Thiết bị năng lượng chính có khả năng khởi động không cần sự đốt nóng sơ bộ, có khả năng cơ động tốt hơn, giảm số lượng vòng quay trục chân vịt, giảm khối lượng và kích thước (nhẹ hơn đề án 30-bis 100 tấn). Ngoài ra, trong tốc độ tuần tra, sự tiêu thụ nhiên liệu được chỉ ra ít hơn 20% so vơi tàu khu trục đề án 30-bis. Hệ thống năng lượng điện lần đầu tiên trên tàu khu trục được sử dụng dòng điện xoay chiều 3 pha 220V và 50Hz.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #594 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 01:19:11 am »

Trong vai trò pháo chính, trên tàu lắp 2 thiết bị pháo 130mm 2 nòng đa năng trên tháp pháo. Mỗi tháp pháo được bố trí một máy đo xa ra đa định vị riêng “Shtag-B”. Các tháp pháo có sự điều khiển tại chỗ và từ xa. Pháo có chiều dài gấp 58 lần cỡ nòng được lắp trên bệ chung và không cho phép dẫn bắn riêng theo góc tầm. Đương nhiên theo sự so sánh với tháp pháo được đóng kín hoàn toàn ở đề án 30-bis thì đây là bước lùi. Nguyên nhân này gồm sư tăng cường sự cân bằng tháp pháo của pháo đa năng và không thể trong kích thước bị giới hạn đảm bảo cho sự đóng kín tháp pháo hoàn toàn. Sự cân bằng tương tuwjddax chỉ ra không có triển vọng và không nhận được sự phát triển. Các thông số bắn được xử lý bằng đài ra đa định vị “Yakor-M” với đài dẫn bắn ổn định (SPN) SPN-500 và máy đo xa ZDMS-4, các thông tin được xử lý bằng khí tài điều khiển bắn (PUS) “Zenit-41”. Pháo phòng không bao gồm 4 pháo nòng đôi ổn định 45mm SM-16 và 2 pháo tự động 4 nòng 25mm 4M-120. Các pháo tự động SM-16 được điều khiển hoặc tại chỗ, hoặc từ khí tài điều khiển bắn, nhận các thông tin từ đài ra đa định vị “Fut-B”. Các pháo tự động 4M-120 chỉ được tiều khiển bằng tay. Vũ khí ngư lôi được giới thiệu là 2 thiết bị 5 ống phóng 533mm, nó hoàn toàn cùng loại với các thiết bị được lắp trên các tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68-bis. Trên các rảnh rải mìn ở boong trên có thể bố trí 48 mìn KB hoặc 48 mìn phòng thủ GMZ. Ngoài ra, có 6 thiết bị phóng bom BMB-2 (mỗi bên thành bố trí 3). Trang bị kỹ thuật vô tuyến nhiệm vụ tổng hợp gồm đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu trên không “Fut-N”, mục tiêu nổi “Rif” và đài thủy âm định vị “Pegas”.

Tuy nhiên, không thể gọi tàu là thiết kế thành công hoàn toàn. Trong di chuyển lùi, tàu không có bánh lái, để đi lùi, tàu thực hiện di chuyển vòng (dạng com pa), nhưng không thực hiện từ tay lái. Sự bố trí theo thành tàu các pháo 45mm không cho phép chúng được sử dụng chung trong các đại đội pháo ở mũi cũng như mạn tàu. Ngoài ra, chính các pháo tự động SM-16 không được sản xuất hàng loạt, còn dòng ra đa định vị “Fut-B” đã chứng tỏ không tin cậy. Đáng chú ý, trong quá trình khai thác sử dụng sau đó, các thiết bị pháo phòng không SM-16 được thay bằng thiết bị pháo 4 nòng 45mm SM-20-ZiF, các súng 25mm được tháo, các thiết bị phóng bom được thay bằng 2 RBU-2500, còn phiên bản thí nghiệm đài “Fut-B” được thay bằng dòng đã bị loại bỏ. Quà tặng lớn nhất trên chiếc tàu khiếm khuyết là tốc độ tối đa và tầm bơi xa. Theo nhiệm vụ kỹ - chiến thuật, tốc độ tối đa được xác định là 36 hải lý, còn nhận được – 33,5. Tầm bơi xa theo thông số di chuyển kỹ thuật – tuần tra (ở tốc độ 14 hải lý) là 5500 dặm, còn trong thực tế nhận được (đạt được với sự nỗ lực) là 5120 dặm. Sự phân tích các nguyên nhân được chỉ ra ở bề ngoài. Trong biên bản tiếp nhận theo nguyên nhân này có các điểm đáng chú ý: “… đây là việc xảy ra do công suất thiết kế không đủ của thiết bị cơ khí và các lỗi trong phương pháp tính toán tốc độ tàu, được tiếp nhận bởi Viện nghiên cứu khoa học Trung ương số 45” (hiện nay là Viện nghiên cứu khoa học trung ương mang tên viện sĩ A.N.Krưlov). Liên quan đến việc này,  người ta đã xác định “Heustrashimưi” là tàu lớn không cần thiết (thừa) mặc dù có nguồn dự trữ nâng cấp đáng kể. Thêm vào đó, quan điểm này trở thành trở thành phổ biến (chủ yếu) nhất, thậm chí trong thời gian dài trước khí bắt đầu các thí nghiệm, vì thế tháng 6 năm 1951, bằng Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng, dòng đề án 41 đã bị dừng lại, còn thiết kế các thân tàu của dòng tàu khu trục đã được khởi công bị tháo dỡ.

Các sự kiện sau đó đã chỉ ra rằng sự không thuận lợi với tốc độ của tàu đề án 41 liên quan với những nguyên nhân sâu hơn. Tiếng sấm đã nổ ra khi trong các thí nghiệm vận động được thực hiện trên tàu khu trục đầu tiên “Spokoinưi” đề án 56, được thiết kế như sự “nâng cấp” của đề án 41. Khi lượng choán nước giảm hơn 400 tấn, trong công suất lớn đáng kể của thiết bị năng lượng chính (10 000 sức ngựa), “Spokoinưi” chỉ có thể đạt tốc độ lớn hơn 1 hải lý so với “Neustrashimưi”. Ủy ban điều tra đặc biệt đã được thành lập, trong đó có sự tham gia của người có uy tín trong lĩnh vực lý thuyết tàu – giáo sư kỹ sư – Chuẩn đô đốc V.G.Vlasov, đã xác định rằng toàn bộ tổ hợp “mạn – chân vịt – bánh lái” được thiết kế không đúng như trên đề án 41, cũng như trên đề án 56. Sự làm sai lệch dòng thủy động lực không cho phép chân vịt đạt lực đẩy cần thiết, và là nguyên nhân chính dẫn đến tốc độ không đạt yêu cầu. Trên “Spakoinưi” đã diễn ra sự cắt phần cuối mạn tàu “không đúng” và thay “đúng” mới. Tuy nhiên, trên “Neustrashimưi” việc làm này không được thực hiện, bởi vì tàu không được đưa vào sản xuất hàng loạt.

Từ quan điểm cái nhìn ngày nay, sự chuyển giao từ đề án 41 đến đề án 56 là không phải sự thật. Số lượng lớn các nhược điểm của nó có thể được khắc phục thậm chí trên tàu “sống”, chưa nói về sự hiệu chỉnh đề án trong loạt tàu. Đặc biệt chất lượng có giá trị của đề án 41 theo so sánh với tàu đề án 56 sau đó là sức sống lớn, thời gian hoạt động, tầm bơi xa, trữ lượng nâng cấp. Sự thiếu sót yếu tố sau cùng trên đề án 56 đặc biệt nhận thấy (cảm nhận) được một cách cấp thiết (dữ dội) khi nâng cấp tàu theo đề án 56-K “Bravưi”, khi yêu cầu lắp tải trọng rắn và hàng loạt các sự tinh vi khác khi thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ kỹ - chiến thuật. Tuy nhiên đề án 56 đã được thông qua đóng hàng loạt.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #595 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 01:37:43 am »

Chương trình đóng tàu


Tháng 12 năm 1949, xưởng số 1 mang tên Zhdanov (hiện nay là xưởng phương Bắc) đã bắt đầu đóng tàu, tuy nhiên việc khởi công chính thức chỉ diễn ra mùng 5 tháng 7 năm 1950. Tháng 12 cùng năm bắt đầu đóng loạt đã được lên kế hoạch và trên các xưởng đóng tàu khác. Việc hạ thủy tàu được thực hiện 29 tháng 1 năm 1951, còn sau đó 1 năm (26 thagns 9 năm 1952) khi chưa kết thúc các thí nghiệm neo đậu, tàu khu trục đã được đưa vào các thí nghiệm vận động cấp xưởng. Tàu chỉ chính thức gia nhập biên chế 31 tháng 1 năm 1955, còn cuối cùng được tiếp nhận bởi ngành công nghiệp ngày 27 tháng 12 năm 1957.

Liên quan với đó, việc đóng loạt không được thực hiện do tình trạng kể trên, năm 1951, thiết kế thân tàu đã được khởi công trong loạt tàu khu trục bị tháo dỡ.

Tình hình đến năm 2007

Tàu duy nhất trong đề án – “Neustrashimưi” – gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 26 tháng 7 năm 1955. Trong cùng nă, sau khi tổ chức lại Hải quân, 24 tháng 1 đã chuyển tới Hạm đội Baltic. Ngày 25 thagns 1 năm 1974, tàu khu trục bị loại khỏi biên chế Hải quân, niêm cất và đưa đến neo đậu ở Kronshtatd, sau đó đưa đi tháo dỡ lấy kim loại.

Tóm tắt lịch sử phục vụ

+ “Neustrashimưi” (số hiệu xưởng 614); ghi tên vào danh sách Hải quân 15 tháng 3 năm 1950; khởi công 5 tháng 7 năm 1950 ở xưởng số 190; hạ thủy 29 tháng 1 năm 1951; gia nhập biên chế 31 tháng 1 năm 1955 (được tiếp nhận bởi ngành công nghiệp 27 tháng 12 năm 1957); gia nhập biên chế đơn vị Hải quân số 4 26 tháng 7 năm 1955; 24 tháng 12 năm 1955 chuyển tới Hạm đội Baltic; từ 21 tháng 5 năm 1963 đến 23 tháng 12 năm 1963 và từ 10 tháng 10 năm 1967 đến 6 tháng 1 năm 1969 đã trải qua đại tu ở Liepai; 25 tháng 1 năm 1974 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân; niêm cất và đưa đi neo đậu ở Kronshtadt; 22 tháng 2 năm 1974 tháo vũ khí và loại khỏi biên chế Hải quân; giải thể 12 tháng 3 năm 1974; năm 1974-75 tháp dỡ lấy kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” tại Leningrad.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #596 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 02:28:05 pm »


Sơ đồ bản vẽ thiết kế tàu khu trục “Neustrashimưi” (đề án 41)

A – nhìn từ bên (thành tàu); B – mặt cắt ngang; V(C) – nhìn từ trên xuống

1. Các thiết bị phóng bom;

2. Thiết bị pháo 45mm;

3. Thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-41;

4. Thiết bị pháo 25mm;

5. Trạm “RAS-U”;

6. Tấm chắn – bảo vệ K-1;

7. Xuồng máy chỉ huy;

8. Thuyền 6 mái chèo;

9. Thiết bị phóng bom phản lực 4 ống;

10. Buồng thủy thủ;

11. Buồng di chuyển (chuyển tiếp)

12. Thiết bị pháo 130mm;

13. Trạm;

14. Đài ra đa định vị nhận dạng;

15. Đài ra đa định vị phát hiện máy bay;

16. Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu nổi;

17. Trạm dẫn bắn ổn định;

18. Đài ra đa định vị cung cấp số liệu bắn cho pháo 130mm;

19. Đài ra đa định vụ cung cấp số liệu bắn ngư lôi;

20. Đài chỉ huy của trạm chỉ huy chính;

21. Trạm phân phối mục tiêu;

22. Buồng cho chỉ huy tàu và buồng hoa tiêu;

23. Buồng truyền động;

24. Buồng sỹ quan chỉ huy;

25. Khoang tời;

26. Khoang mũi;

27. Thùng dây xích;

28. Buồng (….);

29. Trạm đài thủy âm định vị;

30. Các thùng nhiên liệu;

31. Kho đạn pháo 130mm;

32. Buồng máy bơm;

33. Kho đạn bom chìm;

34. Buồng hành trình kế và máy đo độ sâu bằng tiếng (tính hiệu) dội;

35. Trạm la bàn;

36. Kho đạn pháo 45mm;

37. Trạm ngư lôi trung tâm;

38. Trạm pháo trung tâm;

39. Buồng máy – nồi hơi thứ nhất;

40. Nồi hơi nước tự động hóa;

41. Máy phát điện tuabin 1 chiều;

42. Trạm phát điện số 1;

43. Hầm đạn pháo 25mm;

44. Buồng máy – nồi hơi số 2;

45. Tổ hợp tuabin răng cưa số 1;

46. Trạm phát điện số 2;

47. Buồng tay lái;

48. Thiết bị xả khói;

49. Khoang chứa các máy rải bom.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Mười, 2012, 02:38:36 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #597 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 02:37:05 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Lượng choán nước, tấn

+ tiêu chuẩn: 3010

+ hoàn toàn: 3830

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài nhất (theo lượng mớn nước thiết kế): 133,83 (-)

+ chiều dài nhất (theo lượng mớn nước thiết kế): 13,57 (-)

+ lượng choán nước lớn nhất (trung bình): 4,42

Thiết bị năng lượng chính: tuabin nồi hơi

+ 4 nồi hơi hơi nước KV-41, 2 tổ hợp tuabin răng cưa chính TV-8, tổng công suất, sức ngựa (kW): 64 200 (47 187)

+ các máy phát điện tuabin, công suất (kW): 2x-

+ các máy phát điện diesel, công suất (kW): 2x-

2 trục; 2 bánh lái chân vịt

Tốc độ, hải lý

+ tối đa: 33,55

+ tuần tra: 17,9

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý): 5210 (14)

Thời gian hoạt động, ngày: -

Thủy thủ đoàn, người (sỹ quan): 305 (-).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #598 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2012, 02:47:00 pm »

Vũ khí

Pháo

+ thiết bị pháo 130mm SM-2-1: 2x2

+ thiết bị pháo 45mm SM-16: 4x2

Sau đó thay bằng pháo 45mm SM-20-ZiF: 4x4

+ pháo 25mm 4M-120 (sau đó được tháo): 2x4

Ngư lôi

+ thiết bị ngư lôi 533mm PTA-53-41: 2x5

Chống ngầm

+ BMB-2: 6x1

Sau đó thay bằng RBU-2500 “Smerch”: 2x16

+ máy rải bom: 2

+ bom chìm RGB/BPS/GB/BB (RGB-25): 105 (128)

Mìn

+ các mìn KB “Krab”/mìn phòng thủ GMZ: 48/48

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu

+ “Planshet-41”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tầm thấp

+ 1x”Rif-1”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp

+ 1x”Fut-N” (Knife Rest)

Đài ra đa định vị đạo hàng

+ 1x”Neptun”

Đài thủy âm định vị

+ “Pegas”

Các khí tài tác chiến điện tử: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực

+ 1x”Yakor-M” cho pháo 130mm

+ 2x”Fut-B” (Hawk Screech) cho pháo chính và pháo phòng không

Các trạm chỉ huy – đo xa

+ 1xSPN-500

Các khí tài thông tin liên lạc: tổ hợp các khí tài

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -.

(Hết phần 2)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM