Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:45:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 329653 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #250 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 01:49:41 pm »

+ B-45, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-88, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-138 (số hiệu xưởng 807); khởi công 20 tháng 11 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 22 tháng 5 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 4 tháng 6 năm 1960; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 15 tháng 9 năm 1960 gia nhập biên chế; 29 tháng 9 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 30 tháng 8 năm 1964 đến 28 tháng 12 năm 1966 được nâng cấp và trang bị lại ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 6290-A; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 23 tháng 7 năm 1976 chuyển đến biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic và mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ biển Trắng đến Baltic theo hệ thống nước nội bộ; 1 tháng 6 – 8 tháng 8 năm 1977, 3 tháng 6 đến 3 tháng 8 năm 1978 và 3 tháng 8 đến 2 tháng 10 năm 1981 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Baltic; 12 tháng 10 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; năm 1994 đang ở cảng Liepai trong trạng thái nửa đắm khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Latvia, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ lấy kim loại.

+ B-29, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-61, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-167, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-167 (số hiệu xưởng 808); khởi công 20 tháng 5 năm 1959 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 23 tháng 10 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 27 tháng 8 năm 1960; 26 tháng 11 năm 1960 gia nhập biên chế; 16 tháng 12 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 30 tháng 1 đến 25 tháng 4 năm 1969 trải qua trung tu ở xưởng số 35 tại Murmansk; mùa hè – thu năm 1971 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo đường biển phía Bắc tới Viễn Đông từ vịnh nhỏAngel (thành phố Gadzhievo) tới vịnh Krasheninnikov (thành phố Vilyuchinsk); 27 tháng 10 năm 1971 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 12 năm 1976 trở thành phân lớp tàu ngầm – chuyển tiếp và trong giai đoạn từ 22 tháng 1 năm 1974 đến 20 tháng 12 năm 1976 đã trải qua các thí nghiệm cấp xưởng và cấp Nhà nước; 25 tháng 4 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1989 bị giải tán.

+ B-156, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-113, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-113, từ 30 tháng 5 năm 1978 là RZS-97, từ 28 tháng 4 năm 1992 là PZS-65 (số hiệu xưởng 809); khởi công 10 tháng 7 năm 1959 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 30 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1960; 30 tháng 11 năm 1960 gia nhập biên chế; 16 tháng 12 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; tháng 9 năm 1961 đã thực hiện thành công vụ bắn tên lửa đạn đạo cũng K-118 và K-107; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 28 tháng 2 đến 4 tháng 8 năm 1970 trải qua trung tu ở xưởng số 35 tại Murmansk; 28 tháng 12 năm 1973 trở thành phân lớp tàu ngầm – chuyển phát, nhưng kế hoạch trang bị lại theo Đề án 629-R không diễn ra; theo một số thông tin, tàu được trang bị lại thành tàu rải mìn Đề án 629-N; 10 tháng 2 năm 1978 chuyển sang Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương và đầu năm 1978 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ vịnh nhỏ Angel (Gadzhievo) tới Viễn Đông; 19 tháng 4 năm 1978 bị loại khỏi biên chế Hải quân và tổ chức lại ở xưởng khác; 28 tháng 4 năm 1992 tái tạo thành đài quan sát và neo đậu ở vịnh Sừng Vàng (thành phố Vladivostoc).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #251 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 02:17:50 pm »

+ B-149, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-118, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-118, từ 27 tháng 2 năm 1987 là RZS-439 (số hiệu xưởng 810); khởi công 22 tháng 10 năm 1959 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 13 tháng 1 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 29 tháng 9 năm 1960; 10 tháng 12 năm 1960 gia nhập biên chế; 28 thán 12 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; tháng 9 năm 1961 đã thực hiện thành công vụ bắn tên lửa đạn đạo từ K-113 và K-107; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa quay trở lại phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 30 tháng 10 năm 1968 đến 14 tháng 12 năm 1977 được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” theo Đề án 601 tại Severodvinsk; 21 tháng 6 năm 1968 bị loại khỏi biên chế chiến đấu Hải quân, tổ chức lại thành đài RZS-349 và tới thành phố Gremikha neo đậu; 1 tháng 6 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ, sau đó được kéo tới để tháo dỡ ở xưởng số 35 ở thành phố Rost (dưới Murmansk); 1 tháng 10 năm 1960 bị giải tán.

+ B-95, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-36, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-106 (số hiệu xưởng 811)l khởi công 18 tháng 3 năm 1960 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 14 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 9 tháng 5 năm 1961; 31 tháng 8 năm 1961 gia nhập biên chế; 4 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 9 tháng 10 năm 1965 đến 3 tháng 12 năm 1967 đã trải qua nâng cấp ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 629-A; mùa hè – thu năm 1968 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo đường nước phía bắc từ vịnh nhỏ Angel tới vịnh Taria; 12 tháng 9 năm 1968 đã gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình dương; 1 tháng 10 năm 1988 giải tán và 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế tàu Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; sau đó bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Vladivostoc tại vịnh cọn Trud trên tuần đảo Nga.

+ B-48, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-91, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-91 (số hiệu xưởng 812); 14 tháng 4 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn và 9 tháng 8 năm 1960 khởi công ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 5 năm 1961; 23 tháng 9 năm 1961 gia nhập biên chế; 4 tháng 10 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 15 tháng 9 năm 1965 đến 30 tháng 11 năm 1967 trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 629-A; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; mùa hè – thu năm 1968 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo đường biển phía Bắc từ vịnh Angel tới vịnh nhỏ Krasheninnikov; 12 tháng 9 năm 1968 chuyển đến biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1969 lần đầu tiên ở Hạm đội Thái Bình Dương lần đầu tiên đã thực hiện việc bắn tên lửa đạn đạo trong mọi tầm xa; giai đoạn từ 25 tháng 12 năm 1972 đến 7 tháng 10 năm 1975 đã trải qua đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; 12 tháng 10 năm 1986 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 bị giải tán.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #252 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 04:24:29 pm »

+ K-93, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-93 (số hiệu xưởng 813); ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 10 tháng 10 năm 1960 khởi công ở Xí nghiệp đóng tàu phương Bắc (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 18 tháng 7 năm 1961; 16 tháng 11 năm 1961 gia nhập biên chế; 27 tháng 11 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 16 tháng 12 năm 1969 đến 31 tháng 12 năm 1971 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại theo Đề án 629-A ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk; 23 tháng 7 năm 1976 chuyển đến biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân theo hệ thống nước nội bộ từ biển Trắng đến Baltic và 14 tháng 10 năm 1976 đã đến Liepai; 25 tháng 8 đến 24 tháng 10 năm 1979 và 15 tháng 4 đến 13 tháng 6 năm 1980 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biển Baltic; 14 tháng 3 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải tán và sau đó bị xẻ kim loại ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở Liepai.

+ K-110, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-110, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-110 (số hiệu xưởng 814); 30 tháng 7 năm 1960 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 1 tháng 12 năm 1960 khởi công ở Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (số 402) tại Severodvinsk; hạ thủy 25 tháng 8 năm 1961; 28 tháng 11 năm 1961 gia nhập biên chế; 9 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; giai đoạn từ 22 tháng 7 năm 1968 đến 21 tháng 10 năm 1973 đã trải qua nâng cấp và trung tu ở xưởng số 35 tại Murmansk (theo một số thông tin được trang bị lại thành tàu trinh sát); 9 tháng 2 năm 1979 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 15 tháng 8 năm 1979 giải tán và sau đó xẻ kim loại ở “Glavvtorchermeta” ở Murmansk (mũi đất Zelenưi ở vịnh Kolsk).

+ K-153, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-153 (số hiệu xưởng 815); 16 tháng 11 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 7 tháng 12 năm 1960 khởi công ở Xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (số 402) tại thành phố Severodvinsk; hạ thủy 27 tháng 9 năm 1961; 15 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế; 26 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1963 thực hiện nhiệm vụ trực chiến dài ngày gần bờ biển nước Mỹ; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; năm 1974-1975 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và và đưa lên bệ nổi để thí nghiệm; năm 1975-1978 trải qua nâng cấp ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc tại Severodvinsk theo Đề án 619; mùa thu năm 1978 di chuyển theo hệ thống nước nội bộ từ biển Trắng tới biển Azov và 13 tháng 11 năm 1978 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Biển Đen; trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 9 năm 1979 đã thực hiện 7 lần phóng tên lửa đạn đạo R-39 và các tên lửa mô hình; đến năm 1978 đảm bảo thí nghiệm kỹ thuật mới; 1 tháng 9 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 8 năm 1991 giải tán và sau đó tháo dỡ ở Sevastopol ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở cảng Inkerman.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #253 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 05:15:17 pm »

+ K-142, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-142 (số hiệu xưởng 816); 10 tháng 9 năm 1960 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm tuần dương và 20 tháng 1 năm 1961 khởi công ở xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc (số 402) tại Severodvinsk theo Đề án 629-B.; hạ thủy 17 tháng 9 năm 1961; 29 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế; 10 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc trong vai trò tàu thí nghiệm chiến đấu; từ 24 tháng 2 năm 1962 đã thực hiện 27 lần phóng tên lửa đạn đạo R-21, sau đó, 15 tháng 5 năm 1963, tổ hợp tên lửa D-4 được tiếp nhận vào trang bị; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 30 tháng 12 năm 1966 đến 8 tháng 9 năm 1967 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng “Zvedochka” tại Severodvinsk theo Đề án 629-A; 30 tháng 1 năm 1968 gia nhaaoj biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 1 tháng 3 đến 14 tháng 5 năm 1969 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở Tây Đại Tây Dương; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội theo hệ thống nước nội bộ từ biển Trắng tới Baltic và 25 tháng 9 năm 1976 đã tới nơi; 14 tháng 10 năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 8 tháng 7 và 10 tháng 9 năm 1977, 3 tháng 11 và 23 tháng 12 năm 1978, 16 tháng 6 đến 13 tháng 8 năm 1979, 16 tháng 7 đến 1 tháng 9 năm 1980, 13 tháng 5 đến 10 tháng 7 năm 1981 và 1 tháng 7 đến 29 tháng 8 năm 1982 đã làm nhiệm vụ trực chiến và làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu sau đó tại biển Baltic; 19 tháng 4 năm 1990 bị giải tán; năm 1994 ở trạng thái nửa đắm khi quân Nga rút khỏi Latvia ở Liepai, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ.

+ B-93, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-126, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-126 (số hiệu xưởng 131); khởi công 5 tháng 10 năm 1957 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 16 tháng 8 năm 1958; 31 tháng 12 năm 1959 gia nhập biên chế; 2 tháng 2 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 17 tháng 7 năm 1967 đến 25 tháng 1 năm 1969 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 8 tháng 6 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 bị giải tán.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #254 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2012, 05:50:52 pm »


+ B-103, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-129 (số hiệu xưởng 132); khởi công 15 tháng 3 năm 1958 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 2 tháng 8 năm 1958 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 6 tháng 5 năm 1959; 31 tháng 12 năm 1959 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 4 tháng 3 năm 1964 đến 10 tháng 4 năm 1967 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 24 tháng 2 năm 1968 ra khơi phục vụ chiến đấu ở khu vực quần đảo Hawai; 8 tháng 3 năm 1968 bị đắm ở Thái Bình Dương ở độ sâu gần 5000 mét và theo nguyên nhân không rõ ràng (có thể do va chạm với tàu ngầm Mỹ “Swordfish”), 97 người hy sinh; tháng 8 năm 1974, tàu được phát hiện và trục vớt từng phần bởi tàu Mỹ “Glomar Explorer”, được đóng đặc biệt để cho mục tiêu này (chiến dịch “Jeniffer”.

+ B-109, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-316, từ 3 tháng 8 năm 1977 là BS-136 (số hiệu xưởng 133); khởi công ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên Cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 27 tháng 3 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 10 tháng 9 năm 1959; 12 tháng 10 năm 1960 gia nhập biên chế; 16 tháng 8 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 16 tháng 6 năm 1990 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 13 tháng 1 năm 1968 đến 20 tháng 12 năm 1966 đã trải qua nâng cấp ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc (theo một số thông tin được trang bị lại thành tàu trinh sát); 22 tháng 6 năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1980 bị giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #255 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2012, 11:21:29 am »


+ B-113, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-139, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-139 (số hiệu xưởng 134); khởi công 29 tháng 11 năm 1958 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 8 tháng 7 năm 1959 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 12 tháng 5 năm 1960; 12 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế; 22 tháng 12 năm 1960 gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 29 tháng 1 năm 1964 đến 4 tháng 2 năm 1965 trải qua trung tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; giai đoạn từ 14 tháng 11 năm 1968 đến 28 tháng 1 năm 1970 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông theo Đề án 629-A tại Vladivostoc; giai đoạn từ 28 tháng 11 năm 1977 đến 10 tháng 2 năm 1978 trải qua trung tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc, còn từ 23 tháng 1 năm 1984 đến 12 tháng 2 năm 1988 – đại tu ở đó; 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải tán.

+ B-46, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-75, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-575 (số hiệu xưởng 135); khởi công 11 tháng 4 năm 1959 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 26 tháng 10 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm loại lớn; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; hạ thủy 7 tháng 5 năm 1960; 16 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế; 30 tháng 12 năm 1961 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ 3 tháng 1 năm 1970 đến 23 tháng 6 năm 1971 trải qua nâng cấp và trang bị lại theo Đề án 629-A tại xưởng phía Đông ở Vladivostoc; 3 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải tán và neo đậu ở Vladivostoc, nhanh chóng sau đó bị chìm ở khu vực nước nông do sự hư hỏng của trang thiết bị trên tàu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #256 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2012, 06:15:57 pm »


+ B-51, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-99, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-99 (số hiệu xưởng 136); khởi công 31 tháng 10 năm 1959 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 13 tháng 2 năm 1960 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; hạ thủy 20 tháng 8 năm 1961; 27 tháng 1 năm 1962 gia nhập biên chế; 13 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; trong giai đoạn từ 20 tháng 3 năm 1965 đến 13 tháng 1 năm 1968 trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 6 tháng 10 năm 1972 đến 29 tháng 7 năm 1974 trải qua đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; trong giai đoạn từ 6 tháng 10 năm 1972 đến 29 tháng 7 năm 1974 trải qua đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc; 1 tháng 11 năm 1987 bị loại khỏi biên chế chiến đấu, bỏa quản ở vịnh Koniushkov trong trạng thái neo đậu; 2 tháng 2 năm 1988 mang đi đại tu ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc, nhưng 19 tháng 4 năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1990 giải thể.

+ K-163, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-163 (số hiệu xưởng 137); khởi công 26 tháng 11 năm 1960 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; 25 tháng 2 năm 1961 ghi tên vào danh sách các tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 7 tháng 7 năm 1962; 19 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế; 30 tháng 12 năm 1962 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 20 tháng 5 năm 1961 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; 7 tháng 3 đến 31 tháng 8 năm 1967 trải qua trung tu ở xưởng “Zvezda” tại cảng Đá Lớn; trong giai đoạn từ 27 tháng 3 năm 1971 đến 23 tháng 6 năm 1973 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở xưởng phía Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-A; 16 tháng 9 năm 1987 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho đơn vị khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1 1987 giải tán/

+ Thân tàu thứ 24 (số hiệu xưởng 138); đóng ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199) tại Komsomol-na-Amur; bán cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và gia nhập biên chế quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

+ Thân tàu số 25 (số hiệu xưởng 139); đóng ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin (số 199); bán cho Trung Quốc và gia nhập quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #257 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2012, 06:24:21 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật chính

Đề án 629

Lượng choán nước

+ nổi: 2794

+ ngầm: 3600

Các kích thước chính

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 98,4 (-)

+ chiều rộng nhất: 8,4

+ vạch mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 7,85

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 3 động cơ diesel kiểu 37-D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 6000 (4410)

+ động cơ chân vịt bánh lại PG-101, công suất, sức ngựa (kW):  2700 (1985)

+ 2 động cơ điện bánh lái PG-102, tổng công suất, kW: 2700 (1985)

+ động cơ điện dự trữ PG-104, công suất, kW: 140 (103)

3 trục, 3 bánh lái chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 15,5

+ nổi với động cơ dự bị: 8

+ ngầm (dưới mép nước): 8

+ ngầm hoàn toàn: 12,5

+ ngầm với động cơ dự bị: 2

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ vị trí nổi: 23 500 (8 ); 5500 (15)

+ dưới mép nước: 10 600 (7)

+ dưới vị trí ngầm: 300 (2)

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 200

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 70

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 80 (10…12)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #258 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2012, 06:37:38 pm »

Trang bị vũ khí

Thiết bị phóng tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-13 (SS-N-4 “Sark”) thuộc tổ hợp D-2: 3 (Đề án 629-A: không có)

Thiết bị phóng tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-21 (SS-N-5 “Serb”) thuộc tổ hợp D-4: không có (Đề án 629-A: 3)

Ngư lôi

+ các thiết bị ngư lôi mũi 533mm: 4

+ các thiết bị ngư lôi mạn tàu 533mm: 2

Cơ số đạn ngư lôi 533mm: 6

Trang bị vô tuyến điện

Hệ thống kiểm soát thông tin chiến đấu: không có

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: “Flag” (Snoop Plate)

Đài thủy âm

+ tổ hợp thủy âm “Arktika-M”

+ Đài tìm phương theo tiếng ồn (ShPS) MG-10

+ “Sbyaga”, “Svet-M”, trên Đề án 629-A

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+”VAN” (Stop Light)

+ “Nakat” (Park Lamp D/F) trinh sát vô tuyến

Tổ hợp đạo hàng

+ “Pluton-629” trên Đề án 629

+ “Sigma-629-A” trên Đề án 629-A

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ PR-1

+ ăng ten phao tiêu lai “Paravan”

+ các đài vô tuyến cao tần và siêu cao tần

Đài ra đa định vị hội thoại nói: -
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #259 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2012, 06:40:38 pm »

Đề án 629-A

Lượng choán nước

+ nổi: 2820

+ ngầm: 3625

Các kích thước chính

+ chiều dài nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 98,9 (-)

+ chiều rộng nhất: 8,2

+ vạch mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,5

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 3 động cơ diesel kiểu 37-D, tổng công suất, sức ngựa (kW): 6000 (4410)

+ động cơ chân vịt bánh lại PG-101, công suất, sức ngựa (kW):  2700 (1985)

+ 2 động cơ điện bánh lái PG-102, tổng công suất, kW: 2700 (1985)

+ động cơ điện dự trữ PG-104, công suất, kW: 140 (103)

3 trục, 3 bánh lái chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ nổi hoàn toàn: 14,9

+ nổi với động cơ dự bị: 8

+ ngầm (dưới mép nước): 7,9

+ ngầm hoàn toàn: 11,9

+ ngầm với động cơ dự bị: 2

Tầm bơi xa, dặm (tốc độ, hải lý)

+ vị trí nổi: 23 500 (Cool; 5500 (15)

+ dưới mép nước: 10 600 (7)

+ dưới vị trí ngầm: 300 (2)

Độ lặn sâu, mét

+ làm việc hiệu quả: 200

+ giới hạn: 300

Thời gian hoạt động: 70

Thủy thủ đoàn (sỹ quan): 80 (10…12)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM