Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:51:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 372910 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #370 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 01:23:16 pm »

Các la bàn từ được lắp trên hộp la bàn cao (la bàn chính), trên hộp la bàn thấp (la bàn hành trình) trên tấm đặt trên bàn (là bàn tay). Năm 1941, để chống lại các loại mìn từ trường, trên các tàu đã lắp các cuộn dây khử từ, các thiết bị điều hòa đặc biệt được chế tạo đề bù lại hoạt động của la bàn từ.

Trong thiết bị liên lạc đài phát vô tuyến tầm xa và tầm gần, sử dụng “Shtorm-M”, “Bukhta”, “Briz”, còn máy thu – “Metel” (2 đài), 45-PK-1, “Vikhr” và “Dozor” (2 đài). Máy phát chính “Shtorm-M” bảo đảm tầm xa thông tin liên lạc với bước song không dài – 600 dặm, còn bước sóng ngắn – 3000. Để xử lý thông tin, sử dụng máy thu – phát vô tuyến “Reid”; trong trường hợp thực hiện chiến dịch đổ bộ - đài vô tuyến 6-PK và thiết vị điện thoại dã chiến kiểu UNA-F-31 và cáp dã chiến. Từ các thiết bị thủy âm, việc thông tin liên lạc và quan sát có máy đo tiếng ồn và các khí tài liên lạc dưới nước kiểu “Artur”. Trên “Kharcov”, trong thời gian chiến tranh lắp máy tìm phương vô tuyến RB-38. Trong nhiệm vụ thông tin liên lạc đặc biệt, sử dụng thiết bị ASS-S.

Đến gần cuối chiến tranh, trên tàu chỉ huy “Leningrad” đã lắp đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu 291 và SF. Những đài đầu tiên có thể phát hiện mục tiêu trên không ở độ cao 3000 mét và tầm xa 41km, còn các tàu nổ (khu trục, tuần dương) – tầm xa 13 – 16km.

Dành cho việc liên lạc và quan sát bằng mắt thường hoặc đèn tín hiệu: các đèn pha 90cm của hãng “Galileo”, đèn tín hiệu 45cm, đèn hệ thống Semenov, đèn ắc quy “Rater”, ống nhòm, ống ngắm lập thể, súng ngắn Verri, các cờ tính hiệu, pháo sáng.

Các thiết bị cần cẩu nâng hạ: cần trục dành cho xuồng máy (tải trọng 1000kg), cho các xuồng (1800 – 2000kg), cho xuồng 6 mái chèo, xà tấm chắn tải trọng 400kg, xà tháo lắp để vận chuyển đầu đạn ngư lôi tải trọng 300kg, mũi tên gần cột buồm chính để nâng và hạ máy bay tải trọng 1500kg (“Leningrad”) và 2700kg (“Kharcov”) với tốc độ nâng 1,5 – 9 mét/phút.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #371 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:25:45 pm »

Thông tin lịch sử

Đến cuối những năm 1930, ở nước ngoài đã hình thành phân lớp trung gian của các tàu pháo – ngư lôi tốc độ nhanh và không bọc thép – tàu chỉ huy. Tàu có vai trò áp chế các tàu khu trục phóng lôi của địch, bảo đảm khả năng bảo vệ các tàu khác khỏi ngư lôi của địch, dẫn dắt các tàu khu trục trong đội khi tấn công. Ngoài ra, những tàu này có thể tiếp nhận tham gia trinh sát chiến thuật và rải mìn, đồng thời sử dụng vũ khí ngư lôi.

Việc chế tạo các tàu chỉ huy đầu tiên ở Liên Xô bắt đầu vào năm 1925. Tháng 3 năm đó, Cục Tham mưu Hải quân công nông đỏ (?) đã đặt ra yêu cầu và thành phần của tàu khu trục mới cỡ lớn – “tàu phóng lôi”: lượng choán nước gần 4000 tấn, 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng đường kính 533 (hoặc 584)mm, 4 pháo 180mm, 2 pháo 102 hoặc 127mm, 100 mìn (thủy lôi), 20 bom chìm và 3 đèn pha. Tốc độ tối đa: 40 hải lý, tầm bơi xa với tốc độ hành trình 26 hải lý – 3000 dặm. Lượng mớn nước – dưới 4,88 mét. Dự kiến có sự xuất hiện đồng thời của các thiết bị nâng và hạ thủy phi cơ dạng “tiêm kích”, thậm chí là máy phóng. Kế hoạch ban đầu dự kiến đóng 8 – 12 tàu loại này.

Mặc dù đã được phê duyệt ngày 26 tháng 11 năm 1926 về “Chương trình đóng tàu cho lực lượng Hải quân Hồng quân công nông từ năm 1926 – 1932” đầu tiên của Liên Xô, các tàu cỡ lớn mới trong giai đoạn đầu tiên không được lên kế hoạch, việc thiết kế sơ bộ của các phiên bản tàu tương lai không dừng lại. Tháng 5 năm 1928, văn bản mới được phê duyệt và tháng 9, thiết kế sơ bộ tàu khu trục phóng lôi mới với tốc độ 40 hải lý, lượng choán nước 2100 tấn, trang bị 5 pháo 130mm và 4 pháo 37mm, 4 súng máy phòng không và 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng đã được đề xuất. Thiết kế không nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo Hải quân, nhưng trên đó đã nhận thấy rõ rang các yếu tố kỹ - chiến thuật của dòng tàu chỉ huy tương lai lớp “Leningrad”. Mùng 1 tháng 11, đã văn bản giai đoạn sau đã được phê duyệt, còn tháng 3 năm 1929, dưới sự chỉ đạo của giáo viên Học viện hải quân – nhà đóng tàu nổi tiếng Yu.A.Shomanskyi đã bắt đầu thiết kế sơ bộ tàu chỉ huy.

Năm 1929, Hội đồng quân sự cách mạng Liên Xô đã tiếp nhận quyết định về việc bắt đầu đóng 3 tàu khu trục cho Hạm đội Biển Đen, sau đó là 3 tàu cho Hạm đội Baltic. Tháng 2 năm 1930, lãnh đạo Hải quân công nông đỏ đã tán thành phiên bản thiết kế sơ bộ đầu tiên của tàu khu trục – “tàu phóng lôi” – sau khi qua thiết kế đã nhận số 1. Theo thiết kế, tàu không bọc thép tốc độ cao với lượng choán nước 2250 tấn và tốc độ tối đa hơn 40,5 hải lý phải có hiệu quả hỏa lực pháo mạnh (5 pháo 130mm, 2 pháo phòng không 76mm tầm xa, 4 pháo phòng không 37mm và 2 súng máy 12,7mm cận chiến), đồng thời 2 thiết bị ngư lôi 4 ống phóng 533mm, 20 bom chìm và 80 mìn chướng ngại vật mẫu năm 1926.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #372 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 06:35:44 pm »

Ngày 22 tháng 2 năm 1932, Ủy ban Lao động và Quốc phòng đã tiếp nhận mệnh lệnh “Về việc xây dựng lực lượng Hải quân của Hồng quân năm 192”, trong đó, ra lệnh khởi công ba tàu khu trục phóng lôi Thiết kế 1 với tốc độ tiếp nhận chúng vào biên chế vào cuối năm 1933. Hai trong số chúng, nhận tên gọi “Moskva” và “Kharco”, được khởi công vào tháng 10 ở xưởng mang tên A. Marti ở Nikolaev, còn một tàu – “Leningrad” – tháng 11 ở xưởng đóng tàu phía Bắc thuộc Leningrad. Sau đó, tiếp nhận quyết định khởi công them 7 tàu nữa: 3 cho biển Đen, cho Baltic và Viễn Đông – mỗi nơi 2 tàu.

Trong thời gian đóng các tàu đã chuyển chúng sang lớp tàu mới – tàu chỉ huy. Việc chuyển loại các tàu sang cấp độ mới là một sự gượng gạo, bởi vì theo các yếu tố kỹ - chiến thuật, chúng tương đương với những tàu khu trục mới nhất của nước ngoài. Cũng trong thời gian này, theo so sánh với “tàu mới” (với toàn bộ vẫn còn trong biên chế), các tàu chỉ huy mới của Hải quân Liên Xô đang sản xuất gây ấn tượng mạnh mẽ hơn về mọi mặt so với các tàu cùng lớp.

Thiết kế tổng thể của tàu chỉ huy tương lai được thực hiện từ tháng 9 năm 1930 ở phòng thiết kế dưới sự chỉ đạo của V.A.Nikitin. Người chịu trách nhiệm thực hiện các công việc thiết kế là P.O.Trakhtenberg; thiết bị máy – nồi hơi do phòng cơ khí dưới sự chỉ đạo của A.V.Speranskyi thiết kế. Việc giám sát thiết kế từ phía Hải quân được giao cho nhân viên nghiệm thu cao cấp về thuộc bộ phận đóng tàu A.E.Tsukshvert.

Thân tàu chỉ huy khác nhau ở các đường viên sắc và đều, sống mũi thẳng có độ nghiêng 15 độ theo chiều dọc. Tỷ lệ chiều dài và rộng (10,9), vượt quá giá trị được tiếp nhận dành cho “tàu mới”.

Bản vẽ lý thuyết được tối ưu hóa theo các kết quả thí nghiệm của hàng chục mẫu ở khu vực thí nghiệm. Kết quả từ yêu cầu đạt được tốc độ như nhiệm vụ được giao được tiếp nhận bằng việc chế tạo khẩn cấp mạn tàu. Do đó trục chân vịt được đưa ra ngoài qua phần dô của ống bao trục (gọi là “quần dài”) và không có giá đỡ truyền thống. Quyết định này, cũng như sự lựa chọn đường viền thân, xét về tổng thể khi đó, có vẻ như thành công.

Do sự gián đoạn lâu dài trong thiết kế tàu nổi lớn, các công trình sư của các tàu chỉ huy, để thận trọng, đã khởi công trữ lượng lớn theo tải trọng khối lượng để đảm bảo trong khi đóng sẽ không vượt quá lượng choán nước theo thiết kế.

Để đạt tốc độ cao, yêu cầu chế tạo thiết bị động cơ mạnh, tin cậy với các chỉ số riêng về khối lượng và kích thước thấp.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #373 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 07:16:27 pm »

Về phiên bản cuối cùng được tiếp nhận với việc lắp ống khói hơi nước ba buồng với ba nồi hơi tuabin ống nước chính dạng hình tam giác với sản lượng theo mỗi nồi 135 tấn/giờ và tổng công suất 66 000 sức ngựa. Để tăng tính sống còn cho các tàu khu trục, dự kiến bố trí theo hang dọc thiết bị năng lượng chính trong 5 buồng ở bộ phận giữa thân tàu. Các nồi hơi chính được thiết kế dưới sự chỉ đạo của E.E.Papkovich, giám sát thiết kế tổ hợp tuabin răng cưa chính – B.S.Frumkin.

Sau đó, thực tế đã chỉ ra rằng, việc tiếp nhận áp suất hơi nước quá nhiệt 21-27kg/cm2 trên các tàu chỉ huy đã dẫn tới việc gia tăng quá mạnh sự ăn mòn ô xy của nồi hơi và cánh quạt tuabin, làm trầm trọng hơn vấn đề khai thách sử dụng các nồi hơi (đặc biệt là thiết bị quá nhiệt hơi nước) trong thời gian không hoạt động kéo dài. Ngoài ra, do việc xử lý không hoàn toàn thiết kế và quá trình đốt nóng đã xảy ra việc hạn chế tải lượng nhiên liệu của nồi hơi. Việc này dẫn đến sự lưu thông nước không bền vững trong khi tăng cường hoàn toàn các nồi hơi bao gồm 28 máy phun để đạt được tốc độ tối đa nhanh nhất, có thể dân đến việc quá tải và hỏng các ống của nồi hơi.

Việc chế tạo pháo chính là vấn đề quan trọng. Đơn đặt thiết kế mẫu thí nghiệm pháo 130mm với chiều dài nòng gấp 45 lần cỡ nòng, nhận tên gọi B-13 được giao cho xưởng “Bolshevik” mùng 8 tháng 12 năm 1930. Ngày 19 tháng 5 năm 1932, phía Hải quân đã đưa ra them các yêu cầu kỹ - chiến thuật bổ sung, tương đương với chiều dài nòng tăng gấp 50 lần cỡ nòng, khóa nòng dạng nêm được thay thế bằng pit tong và nạp đạn đằng sau.

Các thí nghiệm cấp xưởng đầu tiên của mẫu thí nghiệm B-13 trong tình trạng chưa đủ hoàn toàn tổ hợp được tiến hành vào tháng 4 – 5 năm 1943, trong đó, có sự vội vàng theo chương trình được rút gọn. Trong quá trình thí nghiệm, xuất hiện hàng loạt các nhược điểm: máy đẩy không được hoàn chỉn, tốc độ bắn thấp (10 viên/phút), tuổi thọ thấp (150 – 200 viên), thiết bị tự động phức tạp và thường xuyên bị hỏng. Pháo được trả về xưởng. Thậm chí, trong các thí nghiệm được lặp lại trong tháng 4 năm 1935, pháo vẫn còn ở trong tình trạng không hoàn thiện: không có lá chắn, hệ thống phun thông dụng (tản khói)…. Ngoài ra, pháo nặng hơn ở đầu nòng, không cân bằng khi lắp trên khung. Trong khi bắn, xuất hiện vấn đề rằng máy đẩy không hoạt động (không phản ứng) theo các yêu cầu kỹ thuật, vì hoạt động của nó phụ thuộc vào chiều dài nòng pháo.

Bộ Tư lệnh Hải quân đã đốc thúc việc đưa các tàu khu trục vào biên chế, vì vậy, mặc dù trên mình vẫn còn nhiều nhược điểm, thiết bị phẫn được tiếp nhận vào trang bị và năm 1935 đã được đưa vào sản xuất hàng loạt. Trong số 12 hệ thống pháo B-13 đầu tiên, dù chưa hoàn thiện nhưng vẫn được xưởng “Bolshevik” chuyển giao cho Hải quân trong cùng năm, 5 thiết bị được hạ thủy cùng tàu đầu tiên – “Leningrad”. Chúng được tiếp tục hoàn thiện một cách trực tiếp trên tàu, cho đến mà hè năm 1936.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #374 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 12:54:09 pm »

Tuy nhiên sau đó, các pháo B-13 được chuyển giao cho Hải quân có vẻ như là “kẻ phá hoại”, hàng loạt các lỗi thiết kế đã được loại bỏ. Kết quả là việc gia nhập biên chế của hệ thống có hiệu quả trung bình này bị dừng lại trong 4 năm, dẫn đến sự chậm trễ trong việc gia nhập biên chế của dòng tàu chỉ huy đầu tiên đến năm 1938.

B-13 đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hệ thống pháo hạm của thời kỳ đó chỉ sau khi được hoàn thiện lại một cách nghiêm túc. Bấy giờ, trong các kích thước và khối lượng nhỏ, pháo đảm bảo sơ tốc đầu nòng của đạn cao, tầm xa (đối với cỡ nòng, nòng và đạn pháo) và độ chính xác tối đa, tốc độ bắn tốt, độ trơn của nòng pháo và tuổi thọ cao, còn việc đơn giản hóa đáng kể thiết kế làm tăng độ tin cậy của vũ khí. Giải pháp thành công (tiếp nhận rãnh xoắn sâu, các chất giảm nhạy…) cho phép tăng cường tuổi thọ nòng pháp lên 1000 viên.

Trang bị phòng không trên các tàu chỉ huy được thiết kế ở xưởng lắp ráp xe máy số 8 mang tên M.I.Kalinin. Tháng 9 năm 1932, Cục Kỹ thuật Hải quân đã duyệt nhiệm vụ thiết kế pháo phòng không 76mm lắp trên tàu. Dựa trên cơ sở lấy pháo phòng không bán tự động 3-K trên gầm bánh hơi dành cho Phòng không Lục quân, được sản xuất theo sự tiếp nhận công nghệ trong năm 1930 từ hãng “Reinmetall” (Đức). Xưởng “Bolshevik” đã thiết kế và lắp bệ, trên đó lắp bộ phận quay của pháo 3-K. Tháng 3 năm 1934 đã tiến hành thí nghiệm pháo lắp trên tàu và đã không thành công: việc bắn theo góc tầm trong các điều kiện rung lắc là không thể.

Sau khi hoàn thiện ở xưởng số 8, việc sản xuất hàng loạt loại pháo này được bắt đầu và nhận tên gọi 34-K.

Việc chế tạo mẫu thí nghiệm chỉ hoàn thành vào đâu năm 1936. Từ mùng 5 đến 25 tháng 3, đã diễn ra các thí nghiệm trên trường bắn, còn tháng 6 – trên tàu. Thiết bị 34-K được tiếp nhận vào trang bị, nhưng đến thời điểm đó, nó không đáp ứng được các yêu cầu cao hơn, đặc biệt là tốc độ bắn (do nạp đạn bằng tay). Cũng có thể nói như vậy về pháo bán tự động 45mm 21-K. Pháo tự động hiện đại hơn có thể giải quyết vấn đề, nhưng chúng chỉ xuất hiện trên các tàu chỉ huy sau khi được nâng cấp trong quá trình chiến tranh.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #375 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 01:19:34 pm »

Thêm một vấn đề quan trọng nữa là việc chế tạo các khí tài điều khiển bắn. Do thiếu cơ sở sản xuất khí tài điều khiển bắn hiện đại trong nước đã dẫn đến việc đặt mua các thiết bị này từ hãng “Galileo” (Italia) trong năm 1931 cho các tàu lớp “Leningrad”. Năm 1933, 3 tổ hợp khí tài đã được giao cho Liên Xô. Yếu tố cơ bản của hệ thống Italia là chế độ bắn tự động tập trung hoặc gọi theo người Ý là “trung tâm”, cho phép xác định các tham số di chuyển của mục tiêu.

Cùng với đó là máy đo xa, được sản xuất ở hãng “Galileo”, có những lỗi nghiêm trọng: bệ nhỏ, kích thước lớn, số lượng các hệ thống tự động nhiều, tăng sự phức tạp và chất lượng không cao. Mặc dù các khí tài điều khiển bắn này được đặt hàng cho các tàu chỉ huy, tuy nhiên, theo kích thước và độ phức tạp, chúng đã nhanh chóng được lắp cho các tàu tuần dương vì vậy, chúng cần được hoàn thiện lại.

Hệ thống “trung tâm” đặt mua từ Ý đã phục vụ cho mục đích chính là thiết kế và chế tạo hệ thống bắn tự động kích thước nhỏ nội địa “Molnia” bởi các chuyên gia xưởng “Elektropribor” (“Leningrad”). Sự hạn chế về kích thước và trọng lượng đã buộc các công trình sư phải bắt tay vào việc đơn giản hóa và rút ngắn số lượng thao tác thực hiện. Cơ sở của hệ thống – thiết bị tự động TsAS-2 được thiết kế năm 1936. Ngoài điều khiển hỏa lực pháo chính, nó có hệ thống điều chỉnh góc ngắm ngư lôi, được tiếp nhận trong vai trò thiết bị tự động bắn ngư lôi. Cùng với việc thiết kế hệ thống tự động là việc chế tạo hệ thống các khí tài để dẫn bắn hỏa lực trong các điều kiện tầm nhìn tồi. Những công việc này do M.A.Zarnitekyi (pháo chính) và S.F.Farmakovskyi (vũ khí phòng không) lãnh đạo.

Việc chế tạo hệ thống tự động nội địa đã muộn và nó chỉ được lắp trên các tàu chỉ huy dòng thứ hai. Tàu đầu tiên “Leningrad” đã được lắp hoàn chỉnh khí tài điều khiển hỏa lực trên cơ sở hệ thống “Galileo”, trong đó bao gồm pháo chính “trung tâm”, pháo hỗ trợ “trung tâm”, dẫn bắn mục tiêu góc tầm, trạm đo xa – chỉ huy (KDP) và buồng máy đo xa mạn tàu.

KDP-4 (trạm đo xa – chỉ huy) cho các tàu chỉ huy được thiết kế ở Phòng thiết kế thuộc xưởng “Bolshevik”. Nó được giới thiệu là trang bị bọc thép có khả năng quay, trong đó bố trí thiết bị máy ngắm dẫn bắn trung tâm BMTs-2, 2 máy đo xa lập thể quang học 4 mét DM-4 và các khí tài khác. Do trong khí tài điều khiển bắn không có trực kế con quay, sự ổn định quỹ đạo bay của viên đạn được thực hiện bằng tay từ trạm đo xa – chỉ huy theo đường trục của trục dọc thiết bị pháo. 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #376 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 02:51:40 pm »

Thiết bị ngư lôi 4 ống phóng N-7 đặc biệt dành cho các tàu chỉ huy lớp “Leningrad”, được thiết kế ở Phòng Thiết kế thuộc xưởng mang tên Karl Mark (trước đây là Lessner) trên cơ sở thiết kế thiết bị dẫn bắn ngư lôi 3 ống phóng cho tàu khu trục lớp “Novik” được tiếp nhận vào trang bị năm 1913.

Tới thời điểm đóng nốt các tàu chỉ huy, trong các khí tài điều khiển bắn ngư lôi chỉ có hệ thống Geisler kiểu GAK-1 và GAK-2 do xưởng “Elektropribor” (“Leningrad”) chế tạo. Các hệ thống này không đáp ứng được yêu cầu hiện đại. Năm 1934, Viện mìn (thủy lôi) – ngư lôi cùng với xưởng “Elektropribor” đã bắt đầu thiết kế hệ thống các khí tài điều khiển bắn ngư lôi, và chỉ được tiếp nhận vào trang bị năm 1937 dưới mã số “Mina” thứ tự số 1. Vì thế, trên các tàu chỉ huy lớp “Leningrad” đã tiến hành lắp các khí tài điều khiển bắn ngư lôi của hệ thống “Galileo” (Italia). Trong hệ thống, dự kiến có chuỗi bắn ngư lôi – bảo đảm việc phóng ngư lôi theo loạt với tốc độ giữa các lần bắn được thay đổi bằng khí tài chuyên dụng (bộ xung) trong giới hạn 0,5 – 3 giây.

Việc tăng cường trang bị vũ khí hàng không khi đó cũng được tính đến, các công trình sư ban đầu đự định trang bị cho các tàu khu trục loại thủy phi cơ với cánh gập – được thả xuống nước theo phương pháp bắn. Loại máy bay được xác định: hai phiên bản – Ju-20 hoặc SPL (máy bay dành cho tàu ngầm lớp “K”). Việc trang bị thủy phi cơ trên các tàu khu trục đã bị loại bỏ trong quá trình đóng tàu, nhưng các thiết bị để lắp máy bay và máy bắn để nâng và hạ máy bay xuống nước vẫn được giữ lại.

Mệnh lệnh về khởi công các tàu thuộc thiết kế số 1 chưa được phê duyệt được ký ngày mùng 1 tháng 12 năm 1930, tuy nhiên, các mẫu vũ khí mới cho chúng còn chưa được chế tạo, và việc khởi công tàu chỉ huy bị hoãn lại, Thiết kế cuối cùng của tàu khu trục chỉ được duyệt trong tháng 5, bản vẽ lý thuyết – tháng 11 năm 1932.

Các xưởng đóng tàu trong thời gian này có sự chuẩn bị tốt nhất được lựa chọn để đóng tàu: xưởng số 190 mang tên Zhdanov ở Baltic và xưởng 198 mang tên Marti ở biển Đen. Đồng thời thu hút tập thể các xưởng đóng tàu: Leningradskyi Izhorskyi (thép, vật phẩmcán), “Bolshevik” (pháo), xưởng kim loại Leningrad mang tên I.V.Stalin (thiết bị lắp pháo), các xưởng Baltic và Kharcov (tuabin).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #377 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 06:15:50 pm »

Việc khởi công các tàu chỉ huy “Moskva” và “Kharcov” được tiến hành ngày 29 tháng 10 năm 1932 ở Nikolaev. “Lenigrad” – mùng 5 tháng 11 cùng năm ở xưởng đóng tàu Bắc. Việc đóng tàu ở Baltic diễn ra nhanh hơn so với biển Đen và “Leningrad” trở thành tàu đầu tiên của lớp.

“Leningrad” (số xưởng đóng tàu S-450) được hạ thủy ngày 17 tháng 11 năm 1933, nhưng đã bị sự cố. Thực tế đến thời điểm đó, tàu chỉ có thân, thiết bị năng lượng và các hệ thống, máy moc riêng. Trang bị, hệ thống điều khiển hỏa lực pháo còn chưa được thiết kế hoặc đang thí nghiệm. Kết quả là tàu được đưa vào đóng tiếp trong trạng thái nổi tới năm 1938.

Sự thật, các thí nghiệm của tàu khu trục được bắt đầu sớm hơn, vào mùa thu năm 1936. Sauk hi lắp thiết bị và hệ thống gần thành xưởng, các thí nghiệp bơi và cấp xưởng của “Leningrad” được trình lên Ủy ban Nhà nước. Trong các thí nghiệp chuyển động đầu tiên, trong khi công suất lên 61 000 sức ngựa, trong lượng choán nước tiêu chuẩn, tàu dễ dàng lên tốc độ 40 hải lý. Tuy nhiên, khi ở tốc độ này, đã xuất hiện sự biến dạng trên mạn tàu 1,5 mét. Khi tăng cường sản lượng nồi hơi và tốc độ lên 42 hải lý, nhưng các vết biến dạng tăng lên 2 mét. Để cân bằng tàu khi di chuyển, ở thùng nhiên liệu mũi tàu có gần 35 tấn nước biển. Sau đó, các vết biến dạng giam đi, con tốc độ tàu tăng lên 0,5 hải lý. Việc khắc phục đã thành công và trong các thí nghiệm sau, với lượng choán nước 2225 tấn, công suất 67 250 sức ngựa, “Leningrad” đã đạt tốc độ 43 hải lý. Trong sự tăng cường sản lượng nồi hơi, công suất động cơ có thể tăng thêm 4 – 5 000 sức ngựa.

Cùng với đó, là việc xuất hiện trong chế độ di chuyển với vận tốc tối đa, mạn tàu bị chìm dưới dưới thấp hơn boong (khi độ biến dạng ở mạn tàu là 1,5 mét), còn mũi tàu bị vênh lên một cách nguy hiểm, tạo thành tình huống khẩn cấp và không cho phép các hệ thống vũ khí hoạt động hiệu quả. Trong chế độ tốc độ trung bình, bánh lái tàu rất khó điều khiển và tốc độ thấp, gần như không vận hành được.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #378 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 06:37:15 pm »

Sau khi lắp pháo chính đã có các cuộc bắn kiểm tra trên một thành. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng thân tàu rất yếu, trong đó, nghiêm trọng hơn cả là khả năng không thể hoạt động của toàn bộ pháo một cách đồng thời. Ứng lực nguy hiểm, xuất hiện trong khu vực nối tiếp của boong mũi với thân tàu, đã tạo thành sự nguy hiểm gãy, vỡ tàu làm đôi trong trước hợp động năng của ứng lực gia tăng ví dụ như nổ mìn, trúng đạn hoặc thậm chí là bão lớn. Cần thiết phải gia cố thân tàu. Ngoài ra, độ ổn định của tàu cũng bị chỉ trích, còn khả năng nổi phụ thấp dẫn đến bất kỳ thiệt hại nào ở phần thân dưới nước cũng dẫn đến tai họa.

Tốc độ cao được xem là một sư ngạc nhiên. Khi đó, sau chu kỳ thí nghiệm đầu tiên, tàu khu trục đã được đưa lên ụ, thì phát hiện rằng tất cả 3 chân vịt đều bị biến dạng một cách nguy hiểm. Mép các cánh chân vịt bị ăn mòn bởi các rãnh rộng 15mm và sâu 20 – 25mm. Các chuyên gia Liên Xô lần đầu tiên đụng phải sự xuất hiện của hiện tượng này.

Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng khi tăng tốc độ vượt rào cản tốc độ 36 hải lý, thiết kế của chân vịt bị phá vỡ. Khi phân tích hiện tượng này, các chuyên gia thủy lực đã đi đến kết luận rằng sự phá hủy các chân vịt có thể do kết quả của sự thay đổi khả năng cố định các trục và hình dạng cấu thành mạn tàu.

Chủ nhiệm Ủy ban tiếp nhận Nhà nước – Tư lệnh hạng 1 A.I.Vekman trong báo cáo của mình về tàu chỉ huy “Leningrad” đã cho biết khả năng chiến đấu và chất lượng khai thác sử dụng tốt của tàu. Cùng với đó, trong tài liệ cũng chỉ ra một số lỗi thiết kế, xuất hiện trong các thí nghiệm. Đặc biệt đáng chú ý là việc không có giáp che phủ đài chỉ huy khỏi hỏa lực đường không, hỏa lực phòng không không đủ mạnh và không có khả năng bắn pháo phòng không trên một bên thành, dẫn đến việc suy giảm hiệu quả phòng không tầm thấp một cách rõ ràng.

Sau khi chính thức được bàn giao cho Hải quân vào mùng 5 tháng 12 năm 1936, đến tháng 7 năm 1938, tàu lại được đưa vào xưởng để đóng nốt – khắc phục những số lượng sự biến dạng đáng kể, được phát hiển ra trong những cuộc hành quân đầu tiên trên biển.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #379 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2011, 07:39:13 pm »

Trong khi “Leningrad” đang nằm trên ụ xưởng tàu biển Kronshtadt, nhóm các cộng tác viên thuộc Viện Vật lý – kỹ thuật Leningrad đã tận dụng trường hợp này, vào tháng 6 năm 1937 đã tiến hành hàng loạt các thí nghiệm về đo từ trường của thân tàu lớn như tàu chỉ huy. Các kết quả của thí nghiệm này được thực hiện lần đầu tiên trên thế giới đã có kết quả rất tích cực. Ngày 17 tháng 2 năm 1938, theo mệnh lệnh của Dân ủy Hải quân, Ủy ban về thực hiện các thí nghiệm thiết bị đặc biệt để chống loại các loại mìn không tiếp xúc và ngư lôi được thành lập ở Viện Vật lý – kỹ thuật Leningrad. Theo các số liệu đo được trên “Leningrad”, đồng thời thiết kế hệ thống thuộc Viện Vật lý kỹ thuật cũng được phát triển, thực hiện nhiệm vụ khử từ cho tàu. Nhược điểm thiết kế được Hội đồng Khoa học kỹ thuật Hải quân chỉ ra rằng hệ thống không dự kiến đến khả năng bù trừ sự thay đổi môi trường từ quanh tàu, còn cuộn khử từ được bảo vệ bằng vỏ kim loại được đắt ngoài thân tàu. Việc khắc phục những nhược điểm được chỉ ra diễn ra sau đó, trong những năm 40.

Các tàu chỉ huy của biển Đen được hạ thủy trong năm 1934: “Kharcov” (số xưởng S-224) – mùng 9 tháng 9, còn “Moskva” (S223) – 30 tháng 10. Thời gian dài, chúng được đưa vào đóng nốt trong xưởng Nikolaev, sau đó với sự xác định công việc khó khăn, được kéo từ Nikolaev tới Bug và bằng đường biển tới Sevastopol – trên cơ sở bàn giao của xưởng số 201.

Các tàu chỉ huy của Hạm đội Biển Đen bắt đầu các thí nghiệm gần như đồng thời với “Leningrad” ở Baltic, nhưng chúng đã bị trì hoãn tới tháng 8 – 11 năm 1938. “Moskva” với lượng choán nước 2330 tấn trong thời gian thí nghiệm trên biển Đen vào tháng 4 năm 1938 đã đạt tốc độ kỷ lục 43,57 hải lý khi sóng biển cấp 3. Trong khi đó, công suất động cơ – 77 725 sức ngựa. Trong thời gian các thí nghiệm đã đo được lưu lượng nước ngưng tiêu tốn, cho phép xác định hệ số hiệu quả hoạt động của thiết bị tuabin răng cưa – 78%. Hệ số hoạt động hiệu quả cao trên tốc độ tối đa được giải thích bằng yêu cầu tăng tính tiết kiệm trên tốc độ thấp kể cả khi không di chuyển và xuất hiện khả năng làm đơn giản hóa thiết kế tuabin.

Tàu chỉ huy sau – “Minsk” được khởi công mùng 5 tháng 10 năm 1934 (số hiệu S-471) theo thiết kế số 1 ở xưởng số 190 sau khi “Leningrad” được hạ thủy, nhưng được hoàn thành dựa trên thiết kế mới số 38.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM