Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 04:17:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 373562 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #570 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2011, 02:53:56 pm »

Lịch sử phục vụ chiến đấu

+ K-279: (số hiệu xưởng). Khởi công 30 tháng 3 năm 1970 ở Severodvinsk, tại xưởng số 402 (xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc); hạ thủy 20 tháng 12 năm 1971; gia nhập biên chế 27 tháng 12 năm 1972; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1982 – 1983 trực chiến ở biển Trắng dưới băng trong thời gian toàn bộ mùa đông; năm 1984 khi đang làm nhiệm vụ chiến đấu ở biển Baffin ở độ sâu 197 mét đã va phải tảng băng trôi, bị vỡ ở độ sâu 287 mét, nhưng bằng sức người của thủy thủ đoàn đã cấp cứu kịp thời và nhờ đó quay trở lại căn cứ; trải qua sửa chữa và một lần nữa gia nhập biên chế; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.

+ K-447: sau đó là “Kiclovodck”: (số hiệu xưởng 311). Khởi công 18 tháng 3 năm 1972 ở Severodvinsk, xưởng số 402; hạ thủy 31 tháng 12 năm 1972; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc.

+ K-450: (số hiệu xưởng 312). Khởi công 30 tháng 7 năm 1971 ở Severodvinsk, tại xưởng số 402; hạ thủy 15 tháng 4 năm 1973; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.

+ K-385: (số hiệu xưởng 324). Khởi công 20 tháng 10 năm 1971 tại Severodvinsk tại xưởng số 402; hạ thủy 18 tháng 6 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #571 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2011, 03:25:23 pm »

+ K-457: (số hiệu xưởng 325). Khởi công tại Severodvinsk, xưởng số 402 tháng 9 năm 1973; hạ thủy tháng 2 năm 1974; gia nhập biên chế tháng 10 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc.

+ K-465: (số hiệu xưởng 326). Khởi công 22 tháng 3 năm 1972 tại Severodvinsk ở xưởng số 402; hạ thủy mùng 2 tháng 12 năm 1973; gia nhập biên chế 30 tháng 9 năm 1974; gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân và giải thể.

+ K-336: (số hiệu xưởng 221). Khởi công mùng 6 tháng 3 năm 1974 ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy mùng 8 tháng 6 năm 1974; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân và giải thể.

+ K-417: (số hiệu xưởng 222). Khởi công mùng 9 tháng 5 năm 1974 ở xưởng số 199 ở Komsomol-na-Amur; hạ thủy mùng 6 tháng 5 năm 1975; gia nhập biên chế 20 tháng 12 năm 1975; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bị giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #572 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2011, 03:42:25 pm »

+ K-477: (số hiệu xưởng 223). Khởi công mùng 5 tháng 12 năm 1974 ở xưởng số 119 ở Komsomol-na-Amur”; hạ thủy 13 tháng 7 năm 1975; gia nhập biên chế 30 tháng 12 năm 1975; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.

+ K-460: (số hiệu xưởng 337). Khởi công mùng 5 tháng 6 năm 1972 ở Severodvinsk, tại xưởng số 402; hạ thủy mùng 7 tháng 2 năm 1974; gia nhập biên chế 20 tháng 9 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.

+ K-472: (số hiệu xưởng 338). Khởi công 10 tháng 8 năm 1972 ở Severodvinsk, xưởng số 402; hạ thủy 26 tháng 4 năm 1974; gia nhập biên chế 14 tháng 11 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.

+ K-475: (số hiệu xưởng 339). Khởi công 17 tháng 10 năm 1972 ở Severodvinsk, xưởng số 402; hạ thủy 25 tháng 6 năm 1974; gia nhập biên chế 23 tháng 12 năm 1974; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ K-497: (số hiệu xưởng 244). Khởi công 21 tháng 2 năm 1975 ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 29 thán 4 năm 1976; gia nhập biên chế 31 tháng 10 năm 1976; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #573 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2011, 04:42:48 pm »

+ K-171: (số hiệu xưởng 340). Khởi công 24 tháng 1 năm 1973 ở Severodvinsk, xưởng số 142; hạ thủy mùng 4 tháng 8 năm 1974; gia nhập biên chế 29 tháng 12 năm 1974; sau khi gia nhập biên chế được đưa tới Viễn Đông và năm 1976 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; những năm 1990 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và giải thể.

+ K-500: (số hiệu xưởng 225). Khởi công 25 tháng 7 năm 1975 ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 14 tháng 7 năm 1976; gia nhập biên chế 19 tháng 12 năm 1976; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương.

+ K-512: từ 28 tháng 10 năm 1988 đến 15 tháng 2 năm 1992 “70 năm Liên bang Đoàn thanh niên cộng sản Lenin”; hạ thủy 26 tháng 9 năm 1976; gia nhập biên chế tháng 12 năm 1976; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; trong những năm 90 bị loại khỏi biên chế chiến đấu của Hải quân và bị giải thể.

+ K-523: (số hiệu xưởng 227). Khởi công mùng 1 tháng 7 năm 1976 ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur; hạ thủy 26 tháng 9 năm 1976; gia nhập biên chế tháng 12 năm 1976; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; năm 1990 bị loại khỏi biên chế Hải quân và giải thể.

+ K-530: (số hiệu xưởng 228). Khởi công ở xưởng số 199 tại Komsomol-na-Amur năm 1976; hạ thủy 23 tháng 8 năm 1977l gia nhập biên chế 28 tháng 12 năm 1977; gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #574 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2011, 12:39:02 pm »

Các thông số kỹ - chiến thuật cơ bản

Lượng choán nước, tấn

+ trên mặt nước: 8900

+ dưới nước: 13 700

Các kích thước chính, mét

+ chiều dài lớn nhất (theo vạch mớn nước thiết kế): 139 (135)

+ chiều rộng nhất: 11,7

+ lượng mớn nước theo vạch mớn nước thiết kế: 8,4

Thiết bị năng lượng chính: nguyên tử

+ 2 lò phản ứng nước dạng VM-45, tổng công suất, mW: 180 sức ngựa

+ 2 thiết bị sản xuất hơi nước OK-700, 2 tổ hợp tuabin răng cưa GZTA-635

+ 2 tuabin hơi nước, tổng công suất, sức ngựa (kW): 40 000 (29 400)

+ 2 máy phát điện dizel DG-460, công suất, kW: 2x460

+ 2 động cơ điện tốc độ tuần tra, công suất, sức ngựa: 2x260

2 trục, 2 chân vịt 5 cánh

Tốc độ, hải lý

+ trên mặt nước: 16

+ dưới mặt nước: 26

Độ lặn sâu, mét

+ độ lặn sâu hiệu quả: 320

+ sộ lặn sâu giới hạn (tối đa): 550

Thời gian hoạt động: 70 ngày

Thủy thủy đoàn (số sỹ quan): 120 người (không rõ)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #575 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2011, 01:11:47 pm »

Trang bị vũ khí

Tên lửa chiến lược

+ thiết bị phóng cho tên lửa đạn đạo bắn từ tàu ngầm R-29/R-29D (SS-N-8/8 mod.2 “Sawfly”) thuộc tổ hợp D-9/D-9D: 12

Tên lửa phòng không

+ thiết bị phóng cho tổ hợp tên lửa phòng không trên tàu 9K310 “Igla-1”/9K38 (SA-14 “Gremlin”/SA-16 “Gimlet”)

Trang bị ngư lôi và ngư lôi – tên lửa

+ thiết bị ngư lôi 533mm: 4 (mũi)

+ các ngư lôi 533mm SET-65, SAET-60, 53-65KM: 12

+ thiết bị ngư lôi 400mm: 2 (mũi)

+ các ngư lôi 400mm SET-40: 4

Trang bị vô tuyến điện tử

Hệ thống điều kiểm soát thông tin chiến đấu: “Almaz-B”

Đài ra đa định vị phát hiện mục tiêu tổng hợp: MRK-50 “Kaskad” (Snoop Tray)

Hệ thống thủy âm: tổ hợp thủy âm MGK-100 “Kerch” (Shark Teeth; Mouser Roar)

Các khí tài chống tác chiến điện tử

+ “Zaliv-P”

+ “Zavesa-P” thiết bị tìm phương vô tuyến (Brick Pulp/Group; Park Lamp D/F)

Các khí tài áp chế thủy âm: 4x khí tài áp chế thủy âm MG-44

Tổ hợp đạo hàng

+ “Tobol-B”

+ Tổ hợp dẫn đường từ vũ trụ “Tsiklon-B”

+ đài “Saiga” (Code Eye)

+ đài INS

Tổ hợp thông tin liên lạc vô tuyến

+ “Molnia-L/LM1” (Pert Spring)

+ các ăng ten lai vòng và phao tiêu (SNCh)

+ đài thông tin liên lạc âm thanh dưới nước

Đài ra đa định vị hội thoại: “Nikhrom-M”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #576 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2011, 01:48:11 pm »

Đề án 667-BDR “Kalmar” – Lớp Delta-III


Biến thể

+ 667-BDR “Kalmar” (lớp Delta-III) – Đề án sản xuất hàng loạt trên cơ sở Đề án 667-BD với trang bị vũ khí tăng cường (năm 1976)

+ 667-BDRM “Delfin” (lớp Delat-IV) – Đề án được hiện đại hóa trên cơ sở Đề án 667-BDR với tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm mới.

Tháng 2 năm 1973, ở Phòng Thiết kế lắp ráp xe máy đã triển khai các công việc về chế tạo tên lửa đạn đạo nhiên liệu lỏng hai tầng mới R-29R, là sự phát triển tiếp sau của R-29. Điểm khác biệt cơ bản với các tên lửa đạn đạo của Hải quân trước đó là đầu đạn chính được tách ra, cho phép tăng số lượng mục tiêu lên nhiều lần và tiêu diệt chúng bằng một loạt tên lửa. Hệ thống dẫn đường quán tính hiện đại hơn với sự hiệu chỉnh hình sao hoàn toàn đảm bảo cho tên lửa mới tăng độ chính xác. Trong quá trình hiện đại hóa sau đó của tổ hợp, độ chính xác còn đường tăng cường hơn, thực thế so sánh được với độ chính xác của các cuộc tấn công hạt nhân bằng máy bay ném bom chiến lược. Điều này cho phép tấn công không chỉ các mục tiêu diện rộng không được bảo vệ mạnh mà còn các mục tiêu nhỏ có khả năng phòng ngự cao bằng tàu ngầm tên lửa, trong đó có các hầm phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa trên mặt đất, các trạm chỉ huy được phòng thủ, kho đạn dược…

Để bố trí các tên lửa mới, trong Phòng Thiết kế Trung ương Kỹ thuật Hải quân “Rubin” dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư S.N.Kovalev (giám sát viên chính từ Hải quân được giao cho Thuyền trưởng hạng 2 S.A.Novoselov) đã bắt đầu thiết kế tàu ngầm tên lửa tuần dương chiến lược Đề án 667-BDR (số hiệu “Kalmar”), đồng thời “Murena-M” phải được trang bị 16 hầm phóng tên lửa. Nhiệm vụ kỹ thuật cho tàu tên lửa mới được hình thành trong năm 1972. Tàu là sự phát triển tiếp theo của Đề án 667-B và 667-BD. Sự quan tâm lớn khi chế tạo tàu nguyên tử mới là tập trung vào hiện đại hóa hệ thống điều khiển bắn: trong sự khác biệt với Đề án 667-BD, toàn bộ tổ hợp tên lửa phải được bắn trong một loạt, tốc độ bắn giữa các tên lửa được giảm xuống.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #577 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2011, 01:49:03 pm »

Các bản vẽ tàu ngầm Đề án 667-BDR:





Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #578 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2011, 01:50:08 pm »

Hình vẽ:


« Sửa lần cuối: 28 Tháng Sáu, 2011, 02:36:48 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #579 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 01:23:30 pm »

Thân ngoài của tàu được chia thành 11 khoang không thấm nước. Trong đó, các khoang số 1, 2 và 11 là các khoang trú ẩn (các vách ngăn ngang của chúng được tính toán trên áp suất, tương ứng với độ lặn sâu giới hạn của tàu ngầm. Các biện pháp bổ sung được tiếp nhận nhằm tăng cường khả năng chữa cháy của tàu bằng cách tính toán lắp hệ thống dập lửa hóa học sử dụng Freon. Trong Đề án 677-BDR, các thiết bị đảm bảo cuộc sống của thủy thủ đoàn đã nhận được sự nâng cấp hơn. Đặc biệt trên thành tàu có nhà tắm nắng và phòng thể thao.

Thiết bị năng lượng chính của tàu gồm có 2 lò phản ứng nguyên tử BM-4S và 2 tuabin hơi nước OK-700A. Trên tàu ngầm được tiếp nhận chân vịt mới tiếng ồn thấp với sự tăng cường các tính năng thủy âm. Đồng thời có 2 máy phát điện tuabin TG-3000.

Tàu ngầm tuần dương nhận tổ hợp thủy âm mới “Rubikon” được thiết kế dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư S.M.Shelekhov, có khả năng hoạt động trong phạm vi hạ âm và có hệ thống phân loại mục tiêu tự động hóa. Tầm xa phát hiện tối đa trong chế độ tìm phương theo tiếng ồn khi có sự hỗ trợ thủy văn học là 200km.

Tổ hợp đạo hàng chính xác hơn “Tobol-M1” (trên các tàu ngầm được đóng sau – “Tobol-M2”) có thời gian bảo trì các tham số đạo hàng giữa hai quan trắc, được tăng lên 2 ngày, nâng cao khả năng ẩn nấp của tàu ngầm tuần dương. Trong thành phần tổ hợp có đài thủy âm dẫn đường “Shmel”, cho phép xác định vị trí của tàu theo hải đăng – máy đáp.

Trên thành tàu ngầm bố trí tổ hợp thông tin liên lạc “Molnia-M”, trong thành phần gồm có hệ thống thông tin liên lạc vũ trụ “Tsunami”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM