Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:44:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 372708 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
longtrec
Trung tá
*
Bài viết: 1941



« Trả lời #220 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 06:13:19 pm »

Kính chào các Quí vị và các bạn! Ta đang ở phần những khu trục , tuần dương được đóng trước chiến tranh và tham gia cuộc chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Cho nên thông tin không mới và có phần hơi khô rất mong quí vị và các bạn theo dõi. Tôi muốn trình bầy một cách đầy đủ, logic quá trình phát triển của HQ Nga-LX-Nga. Sắp tới là phần tầu ngầm đầy lý thú, tôi mong Quí vị và các bạn tiếp tục ủng hộ topic!


TUẦN DƯƠNG 'MAXIM GORKY" THUỘC ĐỀ ÁN 26/Kрейсерa пр. 26 "Максим Горький".


Tuần dương "Maxim Gorky" được khởi đóng ngày 20/12/1936 tại nhà máy mang tên : "Ordzhonikidze" thuộc tỉnh Leningrag(số 270).
 Tuần dương "Maxim Gorky" được hạ thủy 30/4/1938 và được đưa vào khai thác 25/10/1940.

Ngày 23/6/1941 trong 1 vụ nổ tại vịnh Phần Lan, phần mũi  của tuần dương "Maxim Gorky" bị phá hủy, nhưng tuần dương vẫn cố chạy về căn cứ.
 Tại Kronshtadt tuần dương được phục hồi ngay trong năm 1941, ngay sau khi được sửa chữa xong , tuần dương "Maxim Gorky" đã tham gia ngay vào việc phòng thủ leningrag. Leningrag lúc này đang bị quân Đức vây chặt, tình cảnh  rất khó khăn, việc tiếp tế lương thực đạn dược và chuyển thương binh ra ngoài không dễ thực hiện.
 Trong thời gian này , tuần dương "Maxim Gorky" như là 1 căn cứ pháo binh nổi của Hồng quân LX vừa là cầu nối liên lạc giữa leningrag với bên ngoài.
  Đầu năm 1944 Hồng quân Liên Xô mở nhiều mặt trận phản công, tháng 1/1944 tuần dương "Maxim Gorky" tham gia pháo kích vào các vị trí đóng quân của Đức Phát Xít tại Leningrag.

Ngày 22/3/1944 tuần dương "Maxim Gorky" vinh dự được nhận huân chương "Cờ đỏ".
 Kết thúc chiến tranh, hạm đội Baltic mở rộng và tách làm hai, ngày 25/2/1946 tuần dương "Maxim Gorky" được biên chế cho cho hạm đội nam Baltic. Tháng 10/1946 tuần dương "Maxim Gorky" trở thành soái hạm chỉ huy 5 khu trục trong đợt tập huấn nâng cao sức chiến đấu của hạm đội nam Baltic. Kết thúc khóa huấn luyện, ngày 7/11/1947 tuần dương tới Leningrag tham gia duyệt binh.

Tháng 12/1950 dưới sự chỉ huy của hạm trưởng, trung tá hải quân P.M Gonchar, tuần dương "Maxim Gorky" tham gia đề án thử nghiệm trục thăng Hải quân. Đây là đề án thử nghiệm cấp Quốc gia, lần đầu tiên Liên Xô tiến hành thử nghiệm trục thăng K-10.

Mùa hè năm 1953 , tuần dương "Maxim Gorky" trở lại căn cứ Kronshtadt để mùa xuân tới tiến hành đại tu nâng cấp. Tháng 7/1954 tuần dương "Maxim Gorky" dẫn đầu đoàn tầu chiến của Kronshtadt tham dự duyệt binh trên sông Neva. Đây là lần vinh dự cuối cùng của tuần dương "Maxim Gorky", sau đó tuần dương phải quay về nhà máy 194 để tiếp tục đại tu.

Ngày 17/2/1956 tuần dương "Maxim Gorky" bị loại khỏi danh sách tầu trực chiến của "Hải đoàn đỏ" hạm đội Baltic , chuyển thành tầu thử nghiệm.

ngày 18/4/1958 tuần dương "Maxim Gorky" bị loại khỏi danh sách tầu Hải quân Liên Xô.


Thông số kỹ thuật

-Lượng choán nước : 8177t (chuẩn) , 9728t (Đầy đủ).
-Kích cỡ : 191,38m x 17,72m x 7,49m.

Vũ khí (1944) :

- 3 x 3 x 180mm/57.
- 6 x 100mm/58 B-34.
- 15 x 37mm/ 70K.
- 2 x 4 x 12,7mm Vichker, 6 súng máy DSHK.
- Ngư lôi : 2 x 3 x 530mm.
- 164/100 mìn phong tỏa.
- 2 máy phóng bom chìm BMB-1.

Bọc thép :

Tuần dương "Maxim Gorky" được bọc thép , đai : 70mm, sàn tầu : 50mm, xà dầm :70mm, mui tầu : 150/100, tháp chính : 70/ 50mm.

-Động cơ: Tuốc bin hơi nước , 2 trục chân vịt 129,750 mã lực.
-Tốc độ 36,1 hải lý/h.
-Tầm hoạt động 4220 dặm.
-Thủy thủ đoàn: 898
 (1944) : 57 sỹ quan 906 thủy thủ.

Một số hình ảnh tuần dương "Maxim Gorky":




Tuần dương "Maxim Gorky" năm 1941.



Tuần dương "Maxim Gorky" trong ngày sảy ra vụ nổ 23/6/1941.



Tuần dương "Maxim Gorky" tháng 7 năm 1941.



Tuần dương "Maxim Gorky" 1945.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười, 2010, 06:31:04 pm gửi bởi longtrec » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #221 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2011, 09:42:37 pm »

Thiết kế số 7 – tàu khu trục phóng lôi

Tàu khu trục "Gromkiy" ("Hiển hách", "Vang dội")

Theo kiến trúc, tàu khu trục được giới thiệu là tàu hai boong với boong mũi, sống đuôi ngắn và có tỷ lệ đáng kể giữa độ dài và chiều rộng. Boong trên kéo theo toàn bộ chiều dài của tàu, còn boong dưới – chỉ trên các đầu mút của thân, sau các giới hạn của buồng máy và nồi hơi.

Thân tàu

Thân tàu khu trục tan đinh được thiết kế từ thép hiệu 20G và 30G, có độ cứng cao, nhưng đồng thời có độ giòn lớn. Trong thiết kế đã tiếp nhận hệ thống bộ khung hỗn hợp – cơ sở: bộ khung dọc, trên các dầu mút – bộ khung ngang. Vị trí chuyển tiếp từ bộ khung này tới bộ khung khác – các khung sườn số 44 và 173.

Thân tàu được phân chia bằng các vách ngang trên 15 khoang chống thấm nước. Tương ứng với tính toán tàu phải được bảo đảm khả năng sống còn và chắc chắn khi đồng thời hai trong số các khoang bị đắm. Trong thực tế đã chứng minh, yêu cầu thiết kế của “số 7” được bảo đảm một cách tuyệt đối: thậm chí trong trường hợp nặng nề nhất của tàu khu trục vẫn duy trì 60% khả năng sống sót. Khi chìm ba khoang liền kề nhau, sự sống của tàu không được bảo đảm một cách thường xuyên.

Độ dày của lớp vỏ bọc thân tàu – 5 – 9mm (vành đai dải mép mạn tàu – 10mm), lớp gỗ lát boong tàu – 3-10mm, các vách ngăn chống thấm – 3-4mm. Sống dọc tàu được chế tạo từ các tấm thép dày 8mm, sống dọc đáy tàu – 5-6mm. Trong thiết kế chính là phươn pháp tán đinh, nhưng tiếp nhận sự hàn điện một cách hạn chế.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #222 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2011, 11:08:27 pm »

Trang bị

Trang bị pháo gồm có 4 pháo 130mm B-13-2s, 2 pháo phòng không 76mm 34-K, 4 pháo phòng không tự động 37mm 70-K, 2 súng 12,7mm DShK và súng máy 12,7mm nòng đôi “Colt – Browning”.

Pháo B-13 được bố trí trên trong thiết bị trên boong với lá chắn bằng thép chống đạn dày 13mm. Chiều dài nòng súng – gấp 50 lần cỡ nòng, khối lượng 12,8 tấn, góc bắn tầm từ -5 đến 45 độ. Khối lượng đạn (nổ - nổ mảnh, bán xuyên giáp và đạn nổ từ xa) – 33,5kg, sơ tốc đầu nòng – 870m/s, tầm bắn tối đa – 139 dặm (27,5km). Trong cơ số đạn đồng thời có đạn chìm (lặn) khối lượng 33,14kg và đạn vạch sáng khối lượng 34,5kg. Việc bắn các loại đạn này được thực hiện với sự hỗ trợ của liều phóng giảm tầm trên tầm xa tương ứng 17 và 58 dặm. Khả năng chịu đựng của nòng pháp ban đầu với 150 – 200 viên, sau đó đã được nâng cấp lên 1100 viên. Bộ phận lắc được trang bị bằng thiết bị thổi kênh nòng pháo. Liều phóng – tách rời, khóa nòng – pít tông với nắp bịt dẻo. Cơ số đạn: 150 viên gần nòng pháo (175 viên trên giá tải) bố trí trên bốn hầm chứa. Việc tiếp đạn được thực hiện bằng hai máy nâng (một nâng đạn, một nâng liều phóng) trên mỗi pháo; trong trường hợp gặp sự cố, việc tiếp đạn thực hiện bằng tay. Đạn nạp bằng tay, tốc độ phụ thuộc vào góc tầm và dao động trong giới hạn 6 – 10 viên/phút. Các góc bắn của cặp pháo trên mũi tàu – từ 0 đến 14 độ; trên hai thành, đuôi – từ 14 đến 18 độ.

Hệ thống điều khiển hỏa lực – PUS “Mina”. Yếu tố cơ bản – hệ thống bắn tự động tập trung TsAS-2. Hệ thống tự động được bố trí trong buồng chiến đấu dưới thượng tầng mũi tàu và cho phép xác định một cách liên tục các góc dẫn bắn tầm – hướng của pháo một cách đầy đủ trong sự quan sát mục tiêu thường xuyên hoặc “tự động”. Thông tin về mục tiêu được đưa tới hệ thống PSU từ 4 máy đo xa B-12-4, bố trí trong đài chỉ huy – đo xa.

Các khí tài phòng không của “Số 7” tới thời điểm tiếp nhận vào biên chế gồm có 2 pháo 76mm 34-K, 2 pháo bán tự động 45mm 21-K và 2 súng 12,7mm DShK hoặc DK. Các khí tài hàng hàng điều khiển hỏa lực phòng không – không có.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #223 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 02:38:49 pm »

Trong thời kỳ đầu chiến tranh, “Số 7” được trang bị các pháo phòng không tự động 37mm 70-K hiệu quả hơn. Trên các tàu khu trục “Số 7” bắt đầu được lắp bổ sung thêm các pháo 45mm – một trên đỉnh phía sau ống khói và một trên thượng tầng (boong lái trên). Sau đó (trên “Gremyasiy” – “Tiếng sấm”, “Grozny” – “Khủng khiếp”, “Sokryshitelny” – “Nghiền nát” vào tháng 6 năm 1942) chúng được thay thế bằng các pháo 45mm gần mặt cắt của boong mũi. Tới năm 1943, toàn bộ các tàu khu trục lớp “Số 7” ở Hạm đội biển Bắc có 4 pháo tự động 70 – K. Các tàu khu trục “Số 7” thuộc Hạm đội Biển Đen trong những năm chiến tranh được ưu tiên hơn với 5 pháo phòng không loại này. Năm 1942, toàn bộ các tàu “Số 7” đang nằm trong biên chế các Hạm đội Phương Bắc và Biển Đen được trang bị bổ sung các súng đại liên 12,7mm nòng đôi “Colt – Browning”. Tàu được trang bị vũ khí phòng không mạnh nhất trong những năm chiến tranh là “Grozyasiy” (“Sấm sét”) thuộc Hạm đội Baltic: 4 súng máy DShK, 4 pháo tự động 37mm và 3 pháo 76mm 34-K.

Trang bị ngư lôi của các tàu khu trục “Số 7” gồm có hai thiết bị ngư lôi ba ống 39-Yu với góc mở 7 độ được giới thiệu là phiên bản sao chép lại của thiết bị “mới” được tăng cường lên 533mm thay cho 450mm. Khả năng bắn – thuốc nổ. Tốc độ bay của ngư lôi – 12m/s, góc bắn 62,5 – 118 độ ở cả hai bên thành. Theo thiết kế, các tàu khu trục có thể mang thêm 6 ngư lôi dự trữ trên các giá đỡ. Hệ thống điều khiển bắn ngư lôi – với sự hỗ trợ của hệ thống điều khiển hỏa lực “Mina”, trong thời gian ban đêm, việc bắn được bảo đảm bằng hai thiết bị nhìn đêm 1-N.

“Số 7” có thể tiếp nhận trên boong 60 mìn (thủy lôi) KB-63 hoặc 65 mìn mẫu năm 1926 hoặc 95 mìn mẫu năm 1912 (vượt tải).

Trang bị chống ngầm ban đầu có thiết bị đòn phóng bóm và đạn “lặn” cho pháo 130mm. Dự trữ của bom chìm – 25 đơn vị: 10 bom lớn B-1 và 15 bom nhỏ M-1; sau đó được bổ sung lên 40 B-1 và 27 M-1 (trên “Grozny” năm 1944). Trong thời gian chiến tranh, toàn bộ các tàu được lắp hai thiết bị phóng bom BMB-1, có khả năng bắn bom B-1 xa 110 mét.

Các tàu khu trục được trang bị thiết bị tạo khói ở mạn tàu DA-2B (thời gian hoạt động liên tục 30 phút, lượng khói: 50kg/phút), thiết bị thải hơi dầu mỏ DA-1 với sự thải khí qua ống khói (theo 3 thiết bị phun khói trắng và đen) và các khối thuốc nổ tạo khói MDSh (10 – 20 đơn vị). Khả năng phòng thủ hóa học được bảo đảm bằng các thiết bị quạt lọc, cung cấp không khí được làm sạch (tinh khiết) vào các buồng, khoang sỹ quan và khu vực vệ sinh. Để phá hủy (khử) các nguyên tố độc hai có hai trạm hóa học và hai nhà vệ sinh. Tổng cộng trữ lượng chất chống độc – 600kg clorua vôi và 100 lít thuốc thử. Ngoài ra, trên mỗi tàu có 225 tổ hợp quần áo phòng hóa.

Trong vũ khí chống mìn (thủy lôi) của “Số 7” bố trí hai tổ hợp tấm chắn K-1 và cuộn dây khử từ LFTI, được lắp vào đầu tháng 6 năm 1941.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #224 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 02:59:45 pm »

Năng lượng

Năng lượng của các tàu khu trục thiết kế số 7 gồm có các tuabin ba thân mẫu GTZA-24 được sản xuất ở xưởng tuabin Kharcov, bố trí trong hai buồng tuabin. Hơi nước được tạo thành từ ba nồi hơi dạng tam giác với sự bố trí đối xứng của các cặp thiết bị quá nhiệt, đồng thời bố trí trong các khoang riêng biệt. Việc sản xuất hơi nước của các nồi hơi thứ 2 và 3 – 98,5 tấn/h, còn nồi hơi số 1 – 83 tấn/h, bởi vì trong đó có sự co hẹp của thân tàu nên có 7 vòi phun thay cho 9 (bề mặt làm nóng 1077m2 thay cho 1264m2). Các tham số của hơi nước: áp suất – 2665kg/m2, nhiệt độ - 340 – 360 độ C.

Để lưu trữ dầu không chỉ sử dụng các thùng đặc biệt, mà còn trong không gian giữa đáy. Trữ lượng nhiên liệu lớn nhất – 518,8 tấn, đầy đủ - 252 tấn (các số liệu này thu được từ tàu khu trục “Riyany” – “Nhiệt thành” năm 1945).

Công suất động cơ của tàu khu trục thiết kế số 7: 54 000 sức ngựa, tốc độ - 38 hải lý, tầm bơi xa theo tốc độ thường – 3000 dặm. Trên thực tế, tốc độ tối đa của các tàu khác nhau trong giới hạn 34 – 39 hải lý, tầm bơi xa: 625 – 959 dặm, tốc độ thường: 1300 – 2565 dặm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #225 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 05:42:38 pm »

Các thiết bị và hệ thống hỗ trợ

Mạng lưới điện của tàu khu trục là nguồn điện một chiều với điện thế 110 – 115V. Năng lượng điện được sản xuất từ ba máy phát điện tuabin PST 30/14 công suất 50kW và hai máy phát điện diezen PN-2F công suất 31,5kW. Các máy phát điện tuabin bố trí trong các buồng máy – hai ở mũi và một đuôi; các máy phát điện diezen – trong thượng tầng trên boong trên sau ống khói. Để mạng truyền ánh sáng và lau nồi hơi sử dụng dòng điện xoay chiều được sản xuất từ hai tổ hợp áp thấp KPN-85 công suất đầu ra 5kW. Để chiếu sáng khẩn cấp có pin ắc quy điện thế 24V.

Các tàu khu trục được trang bị hệ thống chữa cháy với một ống đơn và bằng đường ống dẫn tới bong dưới và thượng tầng. Hệ thống được phục vụ bởi hai bơm chữa cháy với công suất 45 tấn/h và cột nước 16kg/cm2. Các bơm được bố trí trong các phòng chứa nồi hơi thứ nhất và thứ hai. Đồng thời, có hệ thống chữa cháy bình đôi “Minimaks”. Để dập lửa cháy từ dầu sử dụng đường ống dẫn hơi nước dập lửa riêng, tạo hơi nước từ các nồi dưới đáy nồi hơi và tới bất kỳ thùng nhiên liệu nào.

Hầm chứa đạn được trang bị hệ thống chống lụt và tràn nước. Cả hai hệ thống đều được kế nối với đường ống cứu hỏa.

Hệ thống thoát nước được phục vụ bằng máy bơm có động cơ và 10 máy phun, trong đó 5 máy có công suất 80 tấn/h; 2 máy – 30 tấn/h; 2 máy 10 tấn/h.

Bánh lái (chân vịt) – một xà bán cân bằng được lắp trong mặt phẳng hướng tâm. Thiết bị truyền động chân vịt – điện và bằng tay. Sự điều khiển được thực hiện từ các cầu truyền động chính và dự bị và buồng hoa tiêu, trường hợp khẩn cấp – buồng tay lái.

Thiết bị neo đậu gồm có hai tời điện, hai mỏ neo Hall và một móc neo mạn tàu. Khối lượng một mỏ neo – 1 tấn, chiều dài xích mỏ neo – 184 mét. Khối lượng móc neo – 350kg, tốc độ kéo xích mỏ neo – 0,2m/s.

Trên tàu khu trục lắp 2 đèn pha chiến đấu 90cm MEP-9 và 3 đèn tín hiệu 45cm.

Theo đặc điểm của tàu, một xuồng lớn và ba xuồng con được trang bị

Các thiết bị nâng – hạ: hai xà treo bốc xếp hạng nặng 2 tấn, hai xà treo 1,5 tấn, 2 cặp xà 2 tấn, một xà nhỏ 0, 6 tấn và một xà thang 0,65 tấn…
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #226 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 09:06:36 pm »

Các khí tài định vị, dẫn đường và thông tin liên lạc

Trong thời gian chiến tranh, Thiết kế số 7 được lắp: ra đa định vị kiểu 268M của Anh, 291, SF-1 (Mỹ), SL và “Gyuis-1” (Liên Xô). Trên một bộ phận tàu lắp đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực kiểu 284.

Trang bị thủy âm gồm có thiết bị định hướng âm “Mars” và máy dò âm dưới liên lạc dưới nước “Arktur”. Trong thời gian chiến tranh, trên các tàu bắt đầu lắp các bộ định vị sóng âm (sonar) của Anh “Drakon-128s” (“Asdik”).

Các tàu khu trục được trang bị hai máy đo xa quang học DM-44, một DM-3, máy đo xa phòng không ZD-1 và hai ống ngắm lập thể BST.

Thiết bi hoa tiêu (dẫn đường): la bàn con quay “Kurs-1”, 4 la bàn từ 127mm ZMY, vận tốc kế kiểu GO, vận tốc kế, máy đo sâu bằng tín hiệu đội, máy đo sâu cơ học ZMY. Trang bị ra đa: máy cảm biển “Shkval-M”, “Bykhta”, “Briz”, máy thu phát “Reid”, hai máy thu phát “Metel” và “Dozor”, một máy thu phát 45-PK-1. Có máy tìm phương vô tuyến “Gradus-K”.

Khả năng đi biển và sức cơ động

Khả năng đi biển của “Số 7” không cao như mong muốn: do đường viền bao quanh mũi tàu khu trục hẹp và được vùi sâu trong sóng; khi sóng biển cấp 8, vận tốc giảm xuống còn  từ 5 – 8 hải lý. Ngay cả sóng cấp 6, việc đi lai trên boong trên cũng là không thể, đường ra từ boong bố trí ở mạn tàu không có.

Đường kính lưu thông của tàu khu trục khi góc di chuyển của chân vịt 25 độ và tốc độ 24 hải lý là 730 mét, khi tốc độ 36 hải lý – 950 mét. Khi lệnh “dừng” với tốc độ 24 hải lý, tàu di chyển theo quán tính 1000 mét trong 5 phút.

Thủy thủ đoàn

Theo biên chế thời bình năm 1940, số thủy thủ đoàn là 197 người (15 sỹ quan, 44 hạ sỹ quan và 138 thủy thủ). Sau khi lắp bổ sung trang bị phòng không, ra đa định vị và trang thiết bị khác, số lượng chỉ huy tăng lên đáng kể. Năm 1942 – 1943, trong toàn bộ các tàu “Số 7” thuộc Hạm đội biển Bắc, thủy thủ đoàn có 246 người (15 sỹ quan, 52 hạ sỹ quan, 179 thủy thủ).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #227 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 04:13:31 pm »

Thông tin lịch sử

Mệnh lệnh “Về chương trình đóng tàu Hải quân trong giai đoạn 1933 – 1938” được tiếp nhận ngày 11 tháng 7 năm 1933 bởi Ủy ban Lao động và Quốc phòng dự kiến đóng 1493 tàu chiến và tàu hỗ trợ, bao gồm 8 tàu tuần dương và 50 khu trục hạm.

Việc thiết kế đồ án tàu khu trục mới được giao cho Phòng thiết kế Trung ương đóng tàu đặc biệt TsKBS-1 vào năm 1932, người chỉ đạo chính trong việc đóng tàu là V.A.Nikitin, chịu trách nhiệm chính – P.O.Trakhtenberg. Tới thời điểm đó, trong tập thể cũng đã có một số kinh nghiệm các công việc tương tự (chế tạo các tàu khu trục lớp “Leningrad”). Tuy nhiên, những nhược điểm của dòng tàu sau và thời gian hạn hẹp trong thiết kế đã buộc phải nhờ đến sự hỗ trợ của các công ty Italia “Ansaldo” và “Odero”.

Lựa chọn này không phải ngẫu nhiên. Bởi các công ty này trong giai đoạn 1928 – 1932 đã đóng dòng tàu lớp “Dardo” – được dự đoán trước là lớp tàu khu trục của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trong tàu, tất cả đều không như bình thường: bố cục chung, một ống khói, pháo 120mm lắp trong boong đôi… Các biến thể của lớp này là 4 tàu khu trục được nâng cấp lớp “Maestral”, được khởi cộng năm 1931. Các tàu sau cùng đã được lựa chọn làm cơ sở cho việc sản xuất các tàu khu trục mới của Liên Xô. Năm 1932, đoàn đại biểu các công trình sư đóng tàu với người phụ trách Nikitin đã thăm Italia và tổ hợp các bản vẽ “Maestral” đã được chuyển giao, đồng thời đặt cơ sở cho thiết kế tương lai. Các công trình sư Liên Xô đã mượn bố cục thiết bị máy – nồi hơi và kiến trúc tổng thể của tàu, tuy nhiên, vũ khí, máy móc và trang bị trong nước không tích hợp được – bị chênh lệch lớn so với nguyên mẫu. Thực tế, việc gửi tiền nhờ các đồng nghiệp Italia đã bị hạn chế bởi thiết kế bản vẽ lý thuyết (hãng “Ansaldo”) và chạy thử các mẫu ở khu vực thí nghiệm tại Roma.

Đồ án kỹ thuật của tàu khu trục (nhận tên gọi “Thiết kế số 7”) đã được khẳng định vào tháng 12 năm 1934. Các yếu tố kỹ chiến thuật cơ bản của tàu: lượng choán nước tiêu chuẩn – 1425 tấn, hoàn toàn – 1715 tấn, chiều dài nhất – 112,5 mét, chiều rộng – 10,2 mét, độ mớn nước – 3,3 mét, tốc độ bơi – 38 hải lý, trang bị - 4 pháo 130mm và hai ống phóng ngư lôi 533mm. Đáng chú ý, tới thời điểm đó phần lớn trang bị và vũ khí không có thậm chí là trên giấy tờ. Tuy nhiên, không có phương án dự phòng trong trường hợp thiết kế không được khởi công.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #228 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 04:57:54 pm »

Các “nhà cung cấp” của các tàu khu trục mới là bốn xưởng đóng tàu hàng đầu – xưởng ở Leningrad mang tên A.Zhdanov (số 190), xưởng số 189 mang tên S.Ordzhonikidze, số 198 ở Nikolaiev mang tên A.Marti, và số xưởng số 200 mang tên 61 chiến sĩ công xã. Ngoài việc xây dựng các tàu “chuẩn bị”, xưởng đóng tàu Nikolaev đã nhận nhiệm vụ đống 18 tàu “sau chuẩn bị” – các bộ phận và cấu trúc của các tàu khu trục được gửi tới Viễn Đồng và ở đó được lắp ráp trong xưởng số 199 (thành phố Komsomol na (trên) Amur) và xưởng số 202 (thành phố Vladivostok). Do đó, để chế tạo một dòng tàu khu trục chưa từng có từ trước đến nay, trên thực tế đã huy động toàn bộ ngành công nghiệp đóng tàu của Liên Xô.

Chương trình dự kiến chế tạo “Hạm đội lớn” ban đầu với thời gian dài và hoàn thành ít. Mặc dù vậy, 6 “Số 7” đầu tiên đã được khởi công vào cuối năm 1935, còn năm sau – toàn bộ các tàu còn lại. Tuy nhiên, vấn đề rất nhanh chóng được chỉ ra rằng việc hoàn thành việc đóng toàn bộ dòng tàu năm 1938 là không thực hiện được. Các xí nghiệp liên quan đã chậm trễ trong việc chuyển giao vật liệu, trang bị và máy móc, và chính các xưởng đóng tàu cũng không thể đáp ứng được tốc độ công việc như kế hoạch (thậm chí làm việc cả này cũng không thể). Việc không hoàn thiện thiết kế đã kéo theo những cuộc chiến gay gắt giữa các nhà máy đóng tàu và nhà thiết kế và các bên tham gia trong cuộc “xung đột” này cố gắng đổ lỗi cho bên kia. Thiết kế đã mang tới thay đổi bố sung, làm chậm thêm công việc đóng tàu. Đến cuối năm 1936, chỉ có 7 tàu khu trục được hạ thủy thành công: 3 ở Leningrad và 4 ở Nikolaev.

Nhưng điểm quyết định trong số phận của “Số 7” là vụ va chạm xảy ra trong tháng 5 năm 1937 gần bờ biển Italia. Tàu khu trục của Anh “Hunter” đang đậu tại bến đỗ của cảng Almeria và thực hiện vai trò quan sát trung lập trong cuộc chiến giữa những người Cộng hòa và Franco đã va phải mìn… Vụ nổ đã làm cho thiết bị năng lượng trên tàu bị loại phá hủy rất nhanh chóng, trong đó có cả hệ thống đường thẳng  (tức là sự bố trí buồng nồi hơi, sau đó – buồng tuabin, phương án dự phòng – hệ thống tuyến, khi các buồng tuabin và nồi hơi được phân chia thành hai nhóm (cụm)). Và chính tàu khu trục cũng bị bỏ lại bởi thủy thủ đoàn, những người còn có khả năng bơi được.

Sau sự kiện này, việc bố trí các thiết bị nồi hơn và tuabin theo tuyến đã bắt đầu phải hứng chịu các ý kiến phê phán gay gắt. Tàu có thể mất hoàn toàn khả năng di chuyển nếu bị trúng duy nhất một ngư lôi, hoặc bom hay đạn hạng nặng được đã bắt buộc những nhà máy đóng tàu của nhiều nước xem xét lại cái nhìn về việc bảo đảm sự sống còn cho các tàu chiến.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #229 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2011, 05:39:53 pm »

Vấn đề cũng được chú ý ở Liên Xô. Tháng 8 năm 1937, quyết định việc tái sửa sửa thiết kế “Số 7” dưới dạng bố trí thiết bị động lực thành tuyến được tiếp nhận, còn việc đóng tiếp các tàu đã được khởi công được dừng lại. Không tránh khỏi việc tìm kiếm những “kẻ gây hại”. Những nhà thiết kế nổi tiếng của Phòng thí nghiệm đóng tàu số 1 – V.L.Bzhezinskiy, V.P.Pimskiy – Korsakov, P.O.Trakhtenberg đã bị bắt giam.

Thiết kế mới nhận tên gọi 7U – “Nâng cấp” đã được thiết kế dưới sự chỉ đạo của O.F.Yakov tổng cộng trong một tháng. Thực tế, ông đã bắt đầu phát triển với một trong những phiên bản đầu tiên, sự thật là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp hơn với thiết bị động lực cồng kềnh, phát triển trên hai tuyến dự định xếp đặt trong trường hợp có và không có thân chật. Tiếp đó, đáng chú ý rằng, tàu khu trục mới không có những sự vượt trội so với các tàu trước đó.

Sau những cuộc họp kéo dài, bộ phận lớn các tàu khu trục đã được khởi công – 29 chiếc – đã được quyết định tiếp tục hoàn thành theo thiết kế ban đầu. Còn 18 thân khác, đang nằm trong giai đoạn chuẩn bị được phép bố trí lại thiết bị năng lương, để đóng lại theo thiết kế 7U. Sáu tàu còn lại có cấp độ chuẩn bị thấp hơn, được đưa đi tháo dỡ để giải phóng vị trí cho việc khởi cộng các tàu thuộc thiết kế mới.

Tháng 2 năm 1938, gần Sevastopol đã bắt đầu chạy thí nghiệm “Bodryi” (“Khỏe mạnh”).  Tháng 9 phải lên kế hoạch tiếp nhận, tuy nhiên tàu khu trục không đạt đến tốc độ 38 hải lý như như đã định, yêu cầu đầu tiên từ phía đặt hàng. Tàu đã phải quay lại xưởng phân chia lại máy. Kết quả là, tàu đầu tiên gia nhập biên chế Hạm đội Baltic “Gnevniy” (“Giận dữ”) được đưa vào thí nghiệm sau “Bodryi” gần 3 tháng. Rõ ràng, “Gnevniy” đã được ghi nhận là tàu đầu tiên trong toàn bộ dòng tàu khu trục.

Tổng cộng tới tháng 1 năm 1939, thay cho kế hoạch 53 “Số 7”, Hải quân chỉ nhận được 7 tàu. Bất chấp thực tế rằng chương trình xây dựng “Hạm đội lớn” bị ngắt quãng do chiến tranh, đầu Chiến Tranh Vệ quốc vĩ đại, trong biên chế Hải quân Liên Xô mới có 22 tàu khu trục lớp “Gnevnyi”. Đây là những con tàu lớp nhất của Liên Xô được đóng trước chiến tranh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM