Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:46:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 372685 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #290 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2011, 10:17:20 pm »

Trang bị

Pháo chính của tàu “7U” vẫn giữ như của lớp trước. Bao gồm 4 pháo 130mm B-12-2s với chiều dài nòng gấp 50 lần cỡ nòng. Tương ứng với bản vẽ thiết kế đã được chấp nhận trên các thượng tầng, để bảo vệ khẩu đội và thiết bị pháo phải có tấm chắn đạn, tuy nhiên trong quá trình đóng tàu, lá chắn không được lắp, thay vào đó là một tấm chắn nhẹ lắp trực tiếp trên các lá chắn pháo. Các góc bắn của cặp pháo mũi là 0 đến 140 độ tới mỗi bên thành tàu, các pháo số 3 và 4 – tương ứng với từ 55 đến 180 và 40 đến 180 độ tới mỗi thành tàu. Cơ số đạn – 150 viên trên nòng, còn khả năng vận tải (trong hầm), tàu có thể mang 185 viên đạn trên nòng trong tổng số 740 đầu đạn và liều phóng. Việc tiếp đạn được thực hiện bằng tay, cung cấp đạn – máy đẩy khí nén.

Pháo phòng không của 7U có một số thay đổi rõ ràng. Cặp pháo 76mm đa năng 34-K được bố trí ở mạn tàu. Xuất hiện pháo bán tự động 21-K 45mm thứ 3: khi đó, toàn bộ ba pháo phòng không cỡ nhỏ được bố trí ở khu vực đằng sau ống khói đầu tiên. Số súng máy 12,7mm DShK tăng gấp đôi – hai súng máy ở đài gần đài chỉ huy trên được tăng cường thêm hai khẩu ở phần mặt cắt boong mũi. Từ tháng 7 năm 1941, trên các tàu khu trục bắt đầu lắp bổ sung các pháo tự động 37mm 70 – K trên thượng tầng ở khu vực ống khói thứ hai, sau đó, các pháo 45mm hiệu quả thấp đã được chúng thay thế. Tháng 5 năm 1942, trên “Silniy” đã lắp 2 pháo 20mm “Erlicon” và một súng máy 12,7mm 4 nòng “Vikkers”. Tới cuối chiến tranh, các tàu khu trục thuộc Hạm đội Baltic (trong đó có “Silniy”, “Stoykiy”, “Slavniy”, “Storozheboy”, “Strogiy”, “Stroyniy”) đã tiếp nhận pháo tự động 76mm 34-K thứ ba (trên thượng tầng). Tới năm 1943, khả năng phòng không mạnh nhất thuộc các tàu trong Hạm đội Biển Đen “Sposobniy”, và “Soobrazitelniy” – có 2 pháo 76mm 43-K, 7 pháo tự động 37mm 70 – K, 4 đại liên 12,7mm DShK và 2 cặp súng 12,7mm “Colt – Browning” với sự làm nguội nòng bằng nước.

Trang bị ngư lôi của “7U” gồm có hai thiết bị ba ống phóng 1-N 533mm được lắp góc nghiêng 7 độ. Trong sự khác biệt với thiết bị 39-Yu đẩy bằng thuốc súng trên “Số 7”, 1-N là hệ thổng bắn phức hợp – thuốc súng và khí nén. Tốc độ bay của ngư lôi: 15 – 16 m/s, cho phép tăng cường một cách đáng kể phạm vi bắn (dạng hình quạt). Như thiết bị 1-N trên “Soobrazitelniy” có góc bắn 45 – 135 độ. Ngoài ra, trong thiết kế của thiết bị ngư lôi có áp dụng hàng loạt biện pháp tiên tiến để tăng cường gấp đôi độ dẫn bắn chính xác tới mục tiêu.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #291 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2011, 10:19:38 pm »

Trang bị rải mìn và chống ngầm của tàu khu trục “Storozhevoy” thực tế không có sự khác biệt so với lớp tàu trước. Trên các rãnh của boong trên có thể tiếp nhận bố trí 58 mìn KB-3 hoặc 62 mìn kiểu năm 1926 hoặc 96 mìn mẫu năm 1912 (trong khả năng mang theo). Tổ hợp bom chìm tiêu chuẩn – 10 bom lớn B-1 và 20 bom nhỏ M-1. Các bom lớn được giữ trực tiếp trong ống phóng bom ở mạn tàu; các bom nhỏ - 12 trong hầm và 8 – trên bệ ở thượng tầng. Việc tiếp nhận các ống phóng bom chỉ có thể sử dụng với sóng biển cấp 3. Trong thời chiến, tàu khu trục nhận thêm 2 ống phóng bom BMB-1, có khả năng bắn các loại bom B-1 tới 110 mét.

Trang bị chống mìn bao gồm 4 tấm chắn K-1 (trong đó 2 tấm dự trữ). Trong những ngày đầu chiến tranh, “7U) được lắp thêm các cuộn dây khử từ của Học viện Vật lý – kỹ thuật Leningrad.

Hệ thống điều khiển hỏa lực của pháo chính – “Mina” được chế tạo ở xưởng “Elektropribor” (Leningrad) cho các tàu thuộc thiết kế 7. Thành phần chính của nó là hệ thống điều khiển bắn tập trung TsAS-2 – thiết bị tính toán – giải quyết (“máy vi tính” cơ khí), dựa trên cơ sở các dự liệu do xa từ các trạm thông tin và góc tọa độ liên tục, tốc độ và góc vòng của mục tiêu, đồng thời cung cấp các góc dẫn bắn tầm – hướng đầy đủ cho pháo. TsAS-2 được xem là thiết bị kích thước nhỏ. Trên thực tế, khả năng của nó bị hạn chế do độ chính xác thấp của la bàn con quay “Kurs”, mà từ đó, các thông tin về hành trình của tàu được tự động đưa tới hệ thống.

Thông tin về mục tiêu được đưa tới hệ thống điều khiển hỏa lực từ các máy đo xa của trạm chỉ huy – do xa KDP2-4 (ký hiệu của xưởng B-12), và thiết bị nhìn đêm 1-N. Hệ thống “Mina” cho phép phân phối hỏa lực của nhóm pháp mũi và mạn tàu, đồng thời tấn công các mục tiêu trên biển bị che khuất. Ngoài ra, nó còn bảo đảm việc bắn ngư lôi. Trên một số 7U (ví dụ như “Sposobniy” và “Soobrazitelniy”) được lắp thêm hệ thống tự hiệu chỉnh để ngắm bắn các mục tiêu trên bờ. Hệ thống điều khiển hàng hải “Soyuz-7U” được lắp ngay trước chiến tranh – vào tháng 6 năm 1941 trên tàu khu trục “Sposobniy” thuộc Hạm đội Biển Đen. Hệ thống bao gồm thiết bị pháo phòng không tự động hiện đại “Soyuz” (theo nguyên tắc hoạt động tương đồng với TsAS-2, nhưng để tấn công mục tiêu trên không), trực kế con quay “Gazon” và trạm quan sát ổn định SVP-1. Mặc dù hệ thống hoạt động trong một mặt phẳng và hiệu quả thấp trong việc chống lại các máy bay ném bom bổ nhào, nó vẫn tăng cường một cách đáng kể khả năng phòng không của tàu. Năm 1942, “Soyuz-7U” (SVP-1 được thay bằng SVP-29) được lắp thêm trên hai tàu khu trục thuộc Hạm đội Biển Đen – “Sposobniy” và “Strogiy” thuộc Hạm đội Baltic.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #292 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2011, 10:28:10 pm »

Năng lượng

Năng lượng trên tàu khu trục Thiết kế 7 bốm có hai tuabin ba ống của xưởng sản xuất tuabin Kharcov mẫu GTZA-24. Công suất – 60 000 sức ngựa, công suất thực tế - 54 000 sức ngựa.

Hơi nước cung cấp cho các tuabin được lấy từ 4 nồi hơi có ống nước dọc dạng lều với các màn chắn bên và ống dẫn khí một mặt được trang bị thiết bị quá nhiệt dạng vòng. Bề mặt sưởi của mỗi nồi hơi – 655m2, khối lượng sản xuất: 80 tấn hơi nước/giờ. Các tham số - áp suất 27,5kg/cm2, nhiệt độ: 340 độ. Mỗi nồi hơi được bố trí trong phòng cách ly riêng.

Tàu khu trục của dòng sau được trang bị các nồi hơi nước dạng 7U – bis với hệ thống cung cấp năng lượng tự động “Robot”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #293 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2011, 10:40:12 pm »

Các thiết bị và hệ thống hỗ trợ

Mạng điện của tàu khu trục là nguồn điện một chiều với hiệu điện thế 110 – 115 V. Điện được sản xuất từ hai máy phát điện PG-3 công suất 100kW và hai máy phát điện diezen trên cơ sở máy diezen “Ruston” công suất 50kW. Đối với mạng điện chiếu sáng xách tay và chổi thông các nồi hơi sử dụng dòng điện xoay chiều được sản xuất từ hai thiết bị hạ thế KPN-85 với công suất đầu vào 5kW. Để cho đèn tín hiệu có pin ắc quy điện thế 24V.

Các tàu khu trục được trang bị hệ thống chữa cháy với một đường ống đơn và ống dẫn tới boong dưới và thượng tầng. Hệ thống cung cấp gồm 2 bơm chữa cháy với công suất 45 tấn/giờ và cột nước 16kg/cm2. Đồng thời, có máy bơm động cơ với công suất 50 tấn/giờ, 5 thiết bị gây bọt và hệ thống chữa cháy cá nhân “Minimaks”. Để dập dầu sử dụng thiết bị bơm chữa cháy riêng, áp chế hơi nước phát ra từ nồi hơi dưới đáy nồi và bất kỳ thùng nhiên liệu nào.

Hầm đạn được trang bị hệ thống dẫn nước và lụt. Cả hai hệ thống được kết nối với đường ống chữa cháy.

Hệ thống thoát nước được trang bị máy bơm động cơ và 9 máy bơm phun, trong đó 5 máy có khả năng phun 80 tấn/ giờ, 2 máy – 30 tấn/giờ, 2 máy – 10 tấn/giờ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #294 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2011, 10:51:32 pm »

Hầm đạn được trang bị hệ thống dẫn nước và lụt. Cả hai hệ thống được kết nối với đường ống chữa cháy.

Hệ thống thoát nước được trang bị máy bơm động cơ và 9 máy bơm phun, trong đó 5 máy có khả năng phun 80 tấn/ giờ, 2 máy – 30 tấn/giờ, 2 máy – 10 tấn/giờ.

Bánh lái – một xà nửa cân bằng được lắp trên mặt phẳng xuyên tâm. Thiết bị dẫn động bánh lái (chân vịt) – điện và tay. Sự điều khiển được thực hiện từ trạm điều khiển chính và dự bị và bảng hoa tiêu, trường hợp khẩn cấp – khoang tay lái.

Thiết bị mỏ neo gồm hai tời điện, 2 mỏ neo Hakk và một neo hãm ở mạn tàu. Khối lượng mỗi mỏ neo – 1,5 tấn, chiều dài xích: 200 mét. Khối lượng neo hãm – 350kg, tốc độ kéo neo: 0,2m/s.

Trên tàu khu trục lắp một đèn chiến đấu 60cm và hai đèn tín hiệu 35cm.

Theo đặc điểm của tàu được trang bị một xuồng chỉ huy loại “Limusin”, một thuyền động cơ buồm 10 chèo.

Các thiết bị tải hàng: hai trụ sà lúp sức nâng 2,5 tấn, 4 cần cẩu 0,85 tấn, hai xà dạng tấm 2,7 tấn và một xà nhỏ 0,6 tấn cùng 1 thang nâng 0,65 tấn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #295 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 01:11:28 pm »

Các khí tài phát hiện mục tiêu, hàng hải (dẫn đường) và thông tin liên lạc

Trong quá trình chiến tranh, các tàu khu trục thiết kế “Số 7” được lắp: các đài ra đa định vị kiểu 291 (Anh) và “Gyuis” của nội địa. Trên một bộ phận các tàu lắp đài ra đa định vị điều khiển hỏa lực kiểu 284. Anten của ra đá 291 được bố trí trên đỉnh cột buồm, ra đa 284 – trên nóc trạm chỉ huy – điều phối.

Trang bị thủy âm gồm đài định hướng âm “Mars” và các máy dò âm liên lạc dưới nước “Arktur”. Trong quá trình chiến tranh, trên các tàu bắt đầu được lắp các bộ định vị bằng sóng âm “Drakon-128s” (“Asdik”).

Các tàu khu trục được trang bị hai máy đo xa quang học DM-4, một máy DM-3, ZD-1 cho phòng không và 2 ống ngắm lập thể BST.

Các thiết bị hoa tiêu: la bàn con quay “Kurs-1”, 4 la bàn từ ZMI 127mm, vận tốc (hành trình kế) GO, máy đo sâu bằng tín hiệu đôi, vận tốc kế cơ học ZMI. Thiết bị vô tuyến: máy phát vô tuyến điện “Shkval-M”, “Bukhta”, “Briz”, máy thu “Reid”, hai máy phát “Metel” và “Dozor”, một máy thu 45-PK-1. Ra đa định hướng “Gradus-K”.

Khả năng đi biển và tính cơ động

Khả năng hoạt động trên biển của các tàu khu trục lớp “Storozhevoy” là kém hơn so với các tàu tiền nhiệm của nó: khi di chuyển, mũi của thượng tầng bị vùi mạnh trong sóng.

Khả năng cơ động của lớp tàu tiền nhiệm vẫn được duy trì và được đánh giá đạt yêu cầu. “Sposobniy” khi vị trí của bánh lái 15 độ có tốc độ 35 hải lý, khả năng quay 180 độ trong 2 phút 10 giây, chạy trên tốc độ 20,5 hải lý – trong khoảng 5 phút 10 giây.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #296 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 01:54:26 pm »

Thông tin lịch sử

Sự xuất hiện các tàu khu trục thiết kế 7U của Liên Xô liên quan đến sự kiện xảy ra ở ngoài khơi (xa bờ) bờ biển Tây Ban Nha.

Ngày 13 tháng 5 năm 1937, tàu khu trục phóng lôi “Hunter” đang làm nhiệm vụ tuần tra gần cảng Almeria. Tàu thực hiện nhiệm vụ quan sát hoạt động của các bên tham chiến – khi đó ở Tây Ban Nha đang có nội chiến. Khi đó tàu khu trục Anh đang đậu tại chỗ; dưới màn hơi nước là nồi hơi số 1, số 3 – trong trạng thái sẵn sàng được 15 phút. Lúc 14 giờ 15 phút, một tiếng nổ mạnh bất ngờ phát ra. Tàu bị chấn động mạnh, nồi hơi nước số 1 bị vỡ với cùng bệ và bị ném ra phía trước gần thành bên phải. Hai buồng nồi hơi, hầm mũi, kho đạn, bộ phận các thùng nhiên liệu hầu như bị chìm rất nhanh. Tàu khu trục bắt đầu nghiêng về thành bên phải, sau đó đã phải nhận gần 900 tấn nước, dựng thẳng, nhưng phần mũi và mạn tàu vẫn nổi tương ứng 5,65 mét và mạn tàu 3,36 mét. “Hunter” mất khả năng tự di chuyển nhưng vẫn nổi và nhanh chóng được tàu tuần dương “Aretuza” kéo về Gibralta. Sau 85 ngày sửa chữa, tàu đã rời khỏi Malta, nơi nó được khôi phục hoàn toàn để ra khơi.

Trong thời gian đó, “Hunter” được xem là tàu khu trục lớp “N” (“H) mới nhất (được hạ thủy tháng 2 năm 1936). Bộ Tư lệnh Hải quân đã nghiên cứu rất kỹ thương tích của tàu khu trục và đánh giá thiết kế của nó là tích cực. Mặc dù sức mạnh của vụ nổ tiếp xúc (thân tàu ở khu vực khung số 60 đã xuyên thủng từ thành trái sang phải) và bị đắm 5 khoang, “Hunter” vẫn giữ được khả năng nổi và những sự ổn định cần thiết (độ cao tâm nghiêng bằng 0,45 mét). Độ chắc chắn của thân tàu và các vách ngăn ngang hầu như đạt yêu cầu. Sự xuất hiện của boong dưới chống thấm nước ở khu vực khung 27 đến 60 là yếu tố quyết định dẫn đến việc hạn chế nước tràn mạnh vào tàu. Sự chê trách chỉ nhắm vào sự đề kháng không đủ mạnh của các máy móc và thiết bị. Tuy nhiên, ở Liên Xô, đã có những kết luận hoàn toàn khác về sự kiện đã xảy ra.

Bốn tháng sau tai nạn của “Hunter”, tháng 8, ở Moskva đã diễn ra hội nghị của Ủy ban Quốc phòng nhằm xem xét toàn bộ các tàu khu trục thiết kế số 7 đã được đóng. Trong hội nghị có sự tham gia của I.V.Stalin. Khả năng mất lái của tàu với sự bố trí trên một hàng dọc các thiết bị nồi hơi – tuabin trong kết quả trúng một viên đạn, mìn hoặc ngư lôi duy nhất đã được xác nhận là không cho phép. Còn thiết kế 7, có cùng sơ đồ thiết kế thiết bị năng lượng được gọi là “phá hoại”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #297 vào lúc: 19 Tháng Ba, 2011, 03:13:44 pm »

Đề xuất về việc thiết kế (làm) lại thiết bị năng lượng của “Số 7” được chuẩn bị theo sự phối hợp của Phòng thiết kế trung ương số 17 và Phòng thiết kế mang tên A.A.Zhdanov. Tháng 10 năm 1937, Ủy ban đặc biệt bao gồm đại diện các Ủy viên nhân dân (dân ủy) Quốc phòng, công nghiệp quốc phòng và công nghiệp nặng đã xem xét chúng, sau đó, thời hạn cấp tháng thiết kế 7U – “nâng cấp” đã được đặt ra cho các công trình sư. Thiết kế sơ bộ được chế tạo trong sự cấp bách dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư Phòng thiết kế mang tên Zhdanov – O.F.Yakob; trong thời gian 1 năm sau, phía yêu cầu đã nhận được tài liệu kỹ thuật đầy đủ. Thiết kế cuối cùng được phía Hải quân duyệt ngày 29 tháng 8 năm 1938.

Trong thời gian đó, rõ ràng rằng chương trình đóng các tàu khu trục đã bị bãi bỏ. Phó Dân ủy công nghiệp quốc phòng I.F.Tevosyan đã thành công trong việc thuyết phục Tổng bí thư về việc chế tạo lại “Số 7” theo thiết kế “7U” sẽ kéo dài thời gian giao các tàu cho Hải quân – trong các điều kiện chiến tranh đang đến gần, việc này rất nguy hiểm. Stalin đã đồng ý với đề nghị việc hoàn thành đóng 29 tàu khu trục theo thiết kế 7 và chỉ có 18 tàu được đóng lại theo thiết kế 7U. Sáu (6) tàu được đóng sau cùng nằm trong tình trạng sẵn sàng chuẩn bị thấp, đã được quyết định tháo dỡ.

Trong thời gian 1938 và đầu năm 1939, 18 thân tàu “Số 7” đang nằm trên các âu tàu ở Leningrad, trong các xưởng mang tên A.A.Zhdanov (số 190), mang tên S.Ordzhonikidze (số 189) và xưởng mang tên 61 chiến sĩ Công xa (số 200) ở Nikolaev đã được khởi công lại theo thiết kế 7U. Trong đó, các thân tàu các thân tàu đóng gần xong đã có hàng loạt các thiết kế mới – cơ bản là khu vực các buồng máy – nồi hơi. Ban đầu, toàn bộ các tàu khu trục ở khu vực Viễn Đông được kế hoạch khởi công lại nhưng các công việc ở Vladivostok và Komsomol na Amur do cơ sở sản xuất yếu là một phần dẫn đến kế hoạch bị chấm dứt. Kết quả là “7U” chỉ gia nhập biên chế hai Hạm đội Biển Đen và Baltic.

Tàu khu trục “7U” đầu tiên là “Storozhevoy”. Các thí nghiệm cấp xưởng của “Storozhevoy” tháng 10 năm 1939 đã mang đến kết quả không tích cực: trong thời gian quay đầu (rẽ), tàu đột nhiên bị nghiêng mạnh – xuất hiện sự nguy hiểm về độ ổn định. Sự nghiêng gấp đã chỉ ra rằng chiều cao tâm nghiêng tổng cộng là 39 cm thay cho 50cm. Đồng thời, sự quá tải đáng kể của tàu khu trục so với thiết kế cũng được phát hiện. Để xác định nguyên nhân của tình trạng phức tạp này và khôi phục các nhược điểm của loạt tàu đang được đóng, một Ủy ban liên ngành với các Dân ủy Hải quân và công nghiệp đóng tàu đã được lập ra.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #298 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2011, 03:48:18 pm »

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các phần tử trên các tàu đã được đóng và hạ thủy đã chỉ ra rằng sự quá tải được gom lại do một vài nguyên nhân: yêu cầu về kỷ luật kỹ thuật khi đóng đã không được chú trọng, khối lượng của nhiều hệ thống và máy móc trong khi đóng không tương xứng, nhiều sự thay đổi, được đưa vào bản vẽ trong khi quá trình đóng tàu đã diễn ra. Tháng 5 năm 1940, kinh nghiệm khai thác sử dụng tổng hợp các tàu “Số 7” đầu tiên đã được Dân ủy Hải quân N.G.Kuznetsov trong báo cáo của mình cho Stalin đã ghi nhận sự đơn giản hóa thân tàu một cách quá mức đã dẫn đến sự chắc chắn không đủ tin cậy. Một ủy ban khẩn cấp dưới sự chủ nhiệm của V.I.Pershin đã đề nghị tăng cường tổ của boong, boong mũi và thành tàu. Tất nhiên, điều này sẽ làm tăng sự quá tải.

Việc nghiên cứu về sự ổn định của các tàu khu trục thiết kế “Số 7” và “7U” được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Học viện Hải quân – Chuẩn Đô đốc V.G.Vlasov.

Các kết quả thu được là đáng thất vọng. Như trong bản báo cáo chi tiết của tàu khu trục “Serditiy” (“Dữ dội”), lượng choán nước tiêu chuẩn là 1686 tấn và độ cao tâm nghiêng – 63cm. Trong văn bản tiếp nhận các thí nghiệm cấp xưởng năm 1940 – tương ứng là 1735 tấn và 52cm. Còn theo các kết quả của sự nghiêng trong cùng năm – 1835 và 39cm. Vlasov đã đề nghị lắp trong bụng (hầm) các tàu đồ dằn rắn (ballat rắn) để tăng cường độ ổn định, nhưng đồng thời làm tăng tải trọng và độ mớn nước. Các đại diện của Phòng Thiết kế trung ương số 17 đã phủ nhận đề xuất này và tính toán việc tiếp nhận vừa đủ ballat lỏng trong các thùng nhiên liệu thay cho nhiên liệu tiêu thụ. Tháng 10 năm 1940, khi mà Ủy ban dưới sự chủ nhiệm của A.A.Zhdanov đã lựa chọn phương án thứ nhất. Từ tháng 3 năm 1941 đến tháng 7 năm 1942, trên các tàu khu trục “Serditiy”, “Slavniy”, “Strogiy”, “Stoikiy” và “Sposobniy” đã lắp 120 tấn ballat (đồ dằn), trên “Stroiniy” – 126 tấn, “Strashniy” – 119 tấn, “Soversheniy” và “Svobodniy” – 116 tấn, “Svirepniy” – 110 tấn, “Silniy” – 89 tấn.

Những công việc này, đồng thời việc khắc phục nhiều lỗi được phát hiện đã kéo dài thời gian hoàn thành các thí nghiệm hơn 1 năm. “Strozhevoy” đã được Ủy ban Thường vụ tiếp nhận chỉ vào tháng 10 năm 1940, còn chính thức gia nhập biên chế Hạm đội Baltic sau đó 6 tháng – 12 tháng 4 năm 1941.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #299 vào lúc: 21 Tháng Ba, 2011, 07:23:49 pm »

Tổng cộng tới đầu Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các nhà máy đóng tàu đã kịp đóng cho phía nhận hàng một nửa số “7U” – 8 cho Hạm đội Baltic và 1 cho Hạm đội Biển Đen. Số tàu còn lại (9 tàu) được đóng và thí nghiệm một cách khẩn trướng trong các điều kiện chiến tranh.

Những tàu “Số 7” còn “sống” qua chiến tranh đã mất đi vai trò của chúng một cách nhanh chóng. Từ cuối những năm 40, các tàu khu trục mới thuộc Thiết kế 30K đã gia nhập biên chế Hải quân và sau đó, nhiều tàu trong số chúng đã chuyển thành Thiết kế 30-bis. Mặc dù chúng không đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu hiện tại, nhưng vẫn vượt trội hoàn toàn các thiết kế “Số 7” của những năm 30 theo mọi tham số. Dòng tàu 30-bis trở thành các tàu “thế hệ thứ hai” của Hải quân. Thậm chí với sự tính toán nâng cấp cơ bản, chúng đã phục vụ trong vai trò đơn vị chiến đấu đến nửa sau những năm 50.

Tàu đầu tiên trong số các tàu thuộc thiết kế “7U” được đưa vào sửa chữa toàn diện là “Soobrazitelniy” – đã có sự phục vụ cường độ cao trong những năm chiến tranh. Năm 1947, tàu quay trở lại biên chế với cơ cấu trang bị phòng không mới: không có pháo 76mm, nhưng với 8 pháo 37mm 70-K và 6 súng máy đồng trục 12,7mm “Colt – Browning”. Từ năm 1947, các tàu khu trục của Hạm đội Baltic được hiện đại hóa. Trên đó lắp các cột buồm ba chân, đài ra đa định vị nội địa, toàn bộ pháo 76mm và 37mm được thay bằng 4 thiết bị pháo đôi 37mm V-11. Đáng chú ý rằng việc sửa chữa và hiện đại hóa “Số 7”đã kéo dài thời gian phục vụ. Như “Silniy” hoạt động thêm 6 năm, trên “Strashniy” – 6,5 và “Slavniy” – 8 năm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM