Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:34:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 372774 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #360 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2011, 09:45:57 pm »

Bản vẽ tàu khu trục "Soobrazitelnưi":


Bản vẽ thiết kế các tàu khu trục "Số 7" (trên) và "7U" (dưới)
1- Buồng lái
2- Buồng nồi hơi


Bản vẽ "Soobrazitelnưi" năm 1942:


Pháo 130mm B-13-2s

[img]http://i1129.photobucket.com/albums/m509/daibangden_T80UD/phaob-13-2s.jpg[/img
]
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #361 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2011, 10:13:37 pm »


Mặt cắt đến khung số 82
1. Nồi hơi nước số 2, 3
2. Quạt gió
3. Khoang bếp
4. Bơm nhiên liệu
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #362 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2011, 10:14:56 pm »


Thiết bị ngư lôi 1-N
1. Khu vực dành cho bảo quản, bảo dưỡng
2. Ổ tiếp đạn
3. Hộp tự động
4. Thiết bị dẫn động quay tay của thiết bị ngư lôi
5. Buồng của trạm điều khiển với lá chắn đạn
6. Trạm điều khiển bắn ngư lôi
7. Ngư lôi
8. Sàn (bệ) quay
9. Vô lăng của máy (cơ cấu) mở ống
10. Máy (cơ cấu) dẫn hướng mở của ống rìa (mép) ngoài
11. Các thiết bi lắp (hiệu chỉnh) độ sâu và chế độ (hoạt động)
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #363 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 11:57:30 am »

Thiết kế số 1 – các tàu khu trục chỉ huy lớp “Leningrad”

Tàu khu trục Moskva

Tổng quan

Thân tàu có thiết kế đinh tán được thực hiện từ thép hợp kim hóa mangan với chỗ đứt (nứt) của độ lưu động là 40kg/mm2. Sau đó, thực tế đã chỉ ra rằng, vật liệu này lộ ra khuynh hướng nứt. Giáp bọc thép bảo vệ các thành tàu và boong của tàu chỉ huy không có, độ dày các tấm khung thân tàu: 12mm.

Đối với các thượng tầng trên, thép mangan được tiếp nhận. Trong các cấu trúc riêng (trên tấm vỏ bọc cách nhiệt, các van thông gió), sử dụng hợp kim nhôm – đura và giáp nhôm. Ở bộ phận dưới mặt nước, thân tàu được mạ kẽm.

Các kích thước chính của thân tàu: chiều dài nhất theo lý thuyết: 127,5 mét (giữa các đường vuông góc – 122,0 mét), chiều rộng theo mặt cắt ngang giữa – 11,7 mét. Lượng choán nước tới sống cùng độ sâu – 3,5 mét. Chiều cao thành tàu: 6,45 mét. Đường viền mạn tàu được tiếp nhận theo hình dạng sống đuôi của thuyền con (ca nô). Việc không có giá đỡ của các trục được thay bằng các thiết bị có tên gọi “quần”.

Hệ thống động lực của thân tàu được bố trí: ở phần giữa tàu – dọc, ở mũi tàu và mạn tàu – ngang. Mặt phẳng tiếp nối bộ phận mũi - ở vị trí cuối của boong mũi (khung 75), mạn tàu – vách ngăn mạn tàu của buồng động cơ tuabin số 2 (khung 185). Tổng cộng có 250 khung và các tấm chèn 0,5 mét.

Thân tàu được phân chia bởi các vách ngăn nằm ngang tới boong trên, chạy theo các khung 10, 25, 40, 59, 75, 95, 115, 141, 161, 185, 199, 213, 221 và 234, thành 15 buồng không thấm (kín) nước. Theo tính toán, việc bị ngập nước trong 2 buồng bất kỳ, trong số đó có 2 buồng gần nhau, không thể dẫn tới việc tàu bị phá hủy (chìm).

Giữa các khung số 16 và 75 bố trí các thùng nhiên liệu, dàu và nước uống, ở khu vực giữa khung số 16 và 185 có đáy đôi.

Các tàu chỉ huy sơn theo truyền thống được tiếp nhận cho các tàu chiến của Hải quân Liên Xô. Các dụng cụ chuyên dụng (mỏ neo, xích mỏ neo, các tời đứng, cột cáp…) được sơn màu đen, boong trên – màu chì. Các tàu chỉ huy trên Biển Đen có màu sơn sáng hơn so với ở biển Baltic, boong làm bằng gỗ, gỗ tếch.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #364 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 12:26:15 pm »

Trang bị

Các tàu chỉ huy Thiết kế 1 được trang bị pháo B-13 dòng thứ nhất (“Leningrad”) và thứ hai (“Moskva” và “Kharcov”). Sự dẫn bắn tập trung của chúng được bảo đảm bằng hệ thống các khí tài điều khiển bắn “Mina”.

Tầm bắn xa nhất theo góc tầm của B-13 – 139,4 kvt. Tốc độ bắn với sự tiếp đạn cơ khí – 8 viên/phút, bằng tay – 6 viên/phút. Cơ số đạn tiêu chuẩn – 750 viên (nổ mảnh, xuyên giáp, lựu đạn nổ từ xa khối lượng 33,5kg, đạn chìm khối lượng 33,14kg và đạn vạch sang khối lượng 34,5kg).

Theo thiết kế được phê duyệt, vũ khí phòng không của tàu chỉ huy “Leningrad” gồm 2 pháo đa năng lắp trên boong 76,2mm 34-K, 2 pháo bán tự động 45mm 21-K và 4 súng đại lien 12,7mm DK.

Pháo 76,2mm 34-K với lá chắn chống đạn dày 13mm bố trí ở boong của thượng tần mạn tàu. Góc bắn hướng – 5 đến 85 độ, còn góc bắn tầm của hai pháo – từ 20 đến 180 độ theo hai thành tàu. Tầm bắn góc tầm xa nhất: 14,6km, độ cao: 9,5km. Việc tiếp đạn được thực hiện bằng máy hoặc tay. Tốc độ bắn – 20 viên/phút. Cơ số đạn tiêu chuẩn – 350 viên trên pháo và đạn dự trữ (theo các hầm) – 846. Hai đệm đỡ đạn đầu tiên bố trí 24 viên đạn và 2 đệm sau – 4.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #365 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 01:08:35 pm »

Pháo phòng không bán tự động 21-K được bố trí trên boong thượng tầng mũi theo thành tàu và bảo đảm việc tấn công các mục tiêu trên không từ góc 360 độ theo mũi tàu. Các thiế bị mày không có lá chắn đạn và các khí tài dẫn bắn cơ khí.

Hai trong số 4 pháo 37mm 70-K trang bị cho “Leningrad” trong thời gian sửa chữa căn bản trong năm 1943 được bố trí theo thành tàu trên thượng tầng mũi, còn 2 pháo khác được bố trì theo thành trên boong mũi. Tốc độ bắn – 180 viên/phút. Cơ số đạn tiêu chuẩn – 1500 viên trên pháo tự động, trên đệm đầu tiên – 1250 viên.

Cũng trong thời gian sửa chữa căn bản, trên boong tàu chỉ huy Leningrad ở mạn tàu lắp một pháo 2 nòng 76,2mm 81-K và pháo đôi 37mm bán tự động S-30. Góc bắn của 81-K – từ 40 đến 180 độ theo 2 thành tàu và S-30 – từ 15 đến 180 độ theo 2 thành tàu. Cơ số đạn S-30 – 2000 viên. Dưới hầm, các đạn phòng không được bố trí trong các hầm bổ sung.

Trên Biển Đen, các tàu chỉ huy “Kharcov” và “Moskva” được trang bị 6 pháo 37mm tự động 70-K; 4 được lắp như trên “Leningrad”, còn 2 – theo thành, trên các ụ gần ống khói thứ hai.

Trong thời gian chiến tranh, trên “Leningrad”, pháo 21-K trước đó được thay bằng 4 súng máy DK. Chúng được lắp trên các ụ đa năng theo thành tàu trên boong mũi và thượng tầng mạn tàu. Các súng máy bảo đảm tầm bắn theo thước ngắm tới 3500 mét và tốc độ bắn thực tế 125 viên/phút.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #366 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 01:33:08 pm »

Việc điều khiển bắn các vũ khí phòng không trên các tàu khu trục được thực hiện theo cách “hỗ trợ tập trung”, các số liệu đo được từ buồng máy đo xa với tầm đo xa 3 mét. Trang bị này được mua từ Italia, nhưng khi đưa vào thực tế tỏ ra không thuận lợi. Nhiệm vụ duy nhất của buồng máy đo xa là xác định độ nghiêng xa tới mục tiêu trên không, nhưng chính buồng lại không có hệ thống ổn định, trong đó sự kết hợp với thiết bị dẫn bắn bằng tay và chất lượng thấp của máy đo xa do hãng “Galileo” chế tạo dẫn tới việc bám bắt mục tiêu trên không khi lắc rất kém, còn lỗi đo xa thì rất lớn.

Tới đầu chiến tranh, các thiết bị điều khiển hỏa lực pháo phòng không chưa có trên các tàu chỉ huy. Chỉ có một tàu “Kharcov” – được tiếp nhận trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực phòng không trên tàu theo mẫu Italia.

Trang bị ngư lôi gồm có 2 thiết bị (khối) được lắp ở phía sau với 4 ống phóng ngư lôi 533mm N-7 với hệ thống dẫn bắn và các ngư lôi khí hơi ba chế độ kiểu 53-38, 53-83 và 53-39.

Toàn bộ 4 ống của thiết bị N-7 được cố định chặt trên nền. Sơ tốc của ngư lôi gần 12m/s, bị hạn chế góc bắn (trên các góc bắn vòng theo góc nhọn xuất hiện sự nguy hiểm, rằng ngư lôi có thể mắc bởi bộ phận đuôi ngoài boong). Cơ chế dãn bắn góc tầm được bố trí ở buồng bên và có thiết bị dẫn động điện hoặc tay. Thiết bị hãm ngư lôi được sử dụng khi hạ lực phóng để giải phóng ngư lôi khỏi móc hãm đồng thời khi bị tắc hoặc trong huấn luyện bắn, có 2 bộ hãm được thiết kế để tiếp nhận hai mẫu ngư lôi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #367 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:32:35 pm »

Tốc độ quay của thiết bị - 6 độ/giây, góc bắn (từ góc vuông) – 30 độ. Tổ hợp ngư lôi – 16 quả - 4 quả mỗi bên thành và 8 ngư lôi dự trữ.

Trải dọc theo các ranh trên boong tàu có thể bố trí 84 mìn mẫu năm 1926 hoặc 68 mìn KB.

Để quét mìn, tàu sử dụng các tấm chắn – phòng vệ kiểu K-1. Các tấm chắn được lắp ở mũi tàu, khi tàu chạy tốc độ 14 – 22 hải lý, chúng có thể quét mìn ở phạm vi 70 mét (35 mét tính từ mỗi bên thành).

Để chống lại tàu ngầm, hai bên mạn tàu bố trí ống phóng bom chống ngầm BMB-1 và các máy thả bom; cơ số - 20 bom chìm lớn B-1 và 32 bom chìm nhỏ M-1.

Các tàu chỉ huy đượctrang bị 3 tổ hợp phun khói DA số 1 (dòng phun khói bằng dầu) với sự xả khí qua các ống khói có sản lượng 50kg/phút, một tổ hợp DA số 2 ở mạn tàu (dòng phun khói – hỗn hợp C-4 – closunfua) và mìn khói MDSh (12 quả). Việc phòng thủ hóa học được bảo đảm bằng các thiết bị quạt thông lọc thông gió, bộ lọc FP-300 (8 bộ) và thiết bị chống hơi ga cá nhân cho thủy thủ đoàn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #368 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 07:12:10 pm »

Thiết bị động lực

Thiết bị năng lượng chính của các tàu khu trục bao gồm ba nồi hơi nước và ba tổ hợp tuabin răng cư hai thân phản lực chủ động chính công suất chung 66 000 sức ngựa (48 600kW), theo tính toán đảm bảo tốc độ bơi 40 hải lý. Trong các thí nghiệm, một tổ hợp tuabin răng cưa (TZA) của tàu đầu tiên có công suất 26 280 sức ngựa với 460 vòng/phun, các tuabin cao áp 11 370 sức ngựa, 3590 vòng/phút, tuabin thấp áp 14 910 sức ngựa với 2790 vòng/phút và các tuabin di chuyển lùi – 10 650 sức ngựa với 360 vòng/phút.

Hiệu suất của ba nồi hơi nước tua bin chính dạng hình tam giác với sự bố trí thiết bị quá nhiệt hơi nước về một bên – 417 tấn/h. Các tham số của hơi nước được sản xuất bằng thiết bị quá nhiệt hơi nước: 1335 độ C và áp suất 21,5kg/cm2. Bề mặt đốt nóng của nồi hơi: 1582m2, sản lượng hơi nước: 135 tấn/h.

Sự sưởi ấm các nồi hơi sản lượng cao (417 tấn/h) – hai mặt với 14 máy phun trên mỗi bên. CÁc nồi hơi – rèn liền.

Tổ hợp tubin răng cưa của tàu chỉ huy – hai thân, còn bánh răng truyền động – ba bánh. Để giảm khối lượng của tổ hợp đã cố gắng tiếp nhận sự truyền động bánh răng hàn, tuy nhiên, thiết kế đơn giản hóa này không tin cậy. Và trong các thí nghiệm trên “Leningrad” năm 1936, nó đã bị vỡ, và được thay bằng phương pháp đúc, nhưng khối lượng lớn hơn.

Trữ lượng nhiên liệu tiêu chuẩn – 210 tấn, khi tàu hoạt động ở tốc độ 40 hải lý liên tục trong 25 giờ, bảo đảm tầm bơi xa 873 dặm. Trữ lượng đầy đủ - 600 tấn, lớn nhất – 613,5 tấn.

Trang thiết bị điện gồm hai máy phát điện và hai máy phát diezel dự trữ có tổng công suất 160kW. Các máy phát điện được bố trí trong cá buồng máy, máy phát diesel – trong các buồng đặc biết và buồng nồi hơi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #369 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 12:40:00 pm »

Các hệ thống hàng hải và trang bị hỗ trợ

Toàn bộ các trang thiết bị của tàu, hoa tiêu, dẫn đường, thông tin liên lạc và hỗ trợ được trang bị hỗn hợp: sản xuất nội địa và đặt mua ở nước ngoài.

Thiết bị mỏ neo – 2 mỏ neo hãm hệ thống Holl và 1 neo dừng. Khối lượng mỗi neo (bên trái và phải) trên “Leningrad” – 1860kg, còn khối lượng neo dừng – 250kg. Neo hãm bên trái của “Kharcov” và “Moskva” – 1250kg, còn bên phải – 1500kg. Chiều dài xích mỏ neo – 186 mét (“Leningrad”) và 225 mét (“Kharcov”, “Moskva”). Các tời mũi và mạn của các tàu chỉ huy – hơi nước, một boong; tời máy – dạng 2 trụ, đôi, ngang, công suất 62 sức ngựa (“Leningrad”) và 48 sức ngựa (“Kharcov” và “Moskva”). Các máy tời bảo đảm tốc độ kéo xích tời 12 – 15 mét/phút.

Các khí tài hỗ trợ của tàu: 1 xuồng động cơ khối lượng 2,5 tấn có sức tải 1,5 tấn với động cơ ZIS-5; 1 xuồng động cơ khối lượng 2,4 tấn có sức tải 2,8 tấn với động cơ ZIS-5; ba xuồng nhỏ 6 mái chèo; 2 xuồng nhỏ 2 mái chèo (hoặc 1 xuồng 4 mái chèo).

Các tàu chỉ huy có một bánh lái nửa trục, lắp trong mặt phẳng hướng tâm đằng sau bánh lái giữa. Thiết bị truyền động của bánh lái – hệ thống David, máy lái hơi nước. Sự điều khiển bánh lái được thực hiện trong buồng dẫn động hoặc cầu dẫn động (thủy lực hoặc thanh gạt), từ buồng điều khiển mạn tàu (thiết bị truyền động thanh gạt) và từ buồng lái (tay lái).

Trang bị hoa tiêu (phụ thuộc vào thiết kế): la bàn con quay “Kurs” (hoặc GU-M-1, mẫu 1), la bàn từ 127mm, đồng thời la bàn 75mm của thuyền, hành trình kế GO hiệu số 3 (mẫu 1 hoặc 2), hành trình kế dạng “Gauss”, máy đo sâu EL ZShP, hành trình kế cơ khí hiệu “Thomson” hiệu số IV và các máy đo sâu bằng tay.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM