Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:52:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 373213 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #420 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 07:45:46 pm »


"Okrưlennưi"

Trang bị kỹ thuật vô tuyến

Trên các tàu Thiết kế 956 lắp các đài ra đa định vị chiếu sáng tình trạng trên không và trên mặt nước phạm vị centimet MR-710 “Fregat-M” (từ tàu số 1 đến tàu số 3), MR-710M-1 “Fregat-M2” (trên các tàu số 4 và 5). Các đài này thậm chí trong tình trạng bị nhiễu nặng có thể thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ thực hiện việc chiếu sáng (làm rõ) tình trạng trên không và trên mặt nước

+ phát hiện các mục tiêu trên không, trong đó có mục tiêu kích thước nhỏ

+ phát hiện các mục tiêu nổi

+ bảo đảm khả năng liên lạc bộ đàm

Sự chỉ thị mục tiêu tầm xa được thực hiện trên tầm xa 200km với sự hỗ trợ của hệ thống “Most”, có 4 đài ra đa định vị thụ động 4 phạm vi phát hiện và chỉ thị mục tiêu KRS-27, đài kỹ thuật vô tuyến (xử lý thông tin từ các trạm quan sát đường không và bảo đảm kết nối tọa độ) và hệ thống trao đổi thông tin. Trong khí tài chỉ thị thông tin cho tổ hợp trang bị chống tàu sử dụng tổ hợp “Mineral”, được trang bị nhưn kênh ra đa định vị chủ động với khả năng phát hiện mục tiêu nổi tầm xa bằng kênh ra đa định vị thụ động. Có kênh thu sự chỉ thị mục tiêu từ trực thăng và máy bay.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tư, 2011, 08:27:46 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #421 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 08:04:50 pm »


"Osmotritelnưi"

Để phát hiện tàu ngầm và ngư lôi, trên các tàu lắp đài thủy âm MG-335S “Platina-S” với ăng tên trong mũ chụp rãnh mũi. Từ tàu thứ 6 được lắp MG-335MS “Platina-MS” với hệ thống điều khiển chống tàu ngầm “Purga”. Tầm xa phát hiện mục tiêu ngầm đảm bảo: 1-2km, tầm xa tối đa có thể (trong các điều kiện thủy âm bình thường): 10 – 15km. Để phát hiện biệt kích ngầm, trên tác tàu khu trục lắp các đài đặc biệt MG-17.

Hệ thống thông tin chiến đấu không có. Toàn bộ các thông tin liên quan tới việc kết nối thông tin được giải quyết bằng bản đồ nâng cấp “Sapfir-U”.

Trong thành phần khí tài chống tác chiến điện tử bao gồm thiết bị trinh sát kỹ thuật vô tuyến MP-401, tổ hợp rải nhiễu điện vô tuyến tích cực MP-407. Các khí tài rải mồi bẫy thụ động được giới thiệu là tổ hợp PK-2M với 2 thiết bị phóng 2 nòng 140mm ZiF-121 và bằng hệ thống “Smeta”. Từ tàu số 9 lắp bổ sung thêm tổ hợp rải mồi bẫy PK-10M với 3 thiết bị phóng 10 nòng 122mm, đồng thời các khí tài bổ sung phát hiện – áp chế tích cực và thụ động – khí tài chống tác chiến điện tử và khí tài trinh sát kỹ thuật vô tuyến MP-401 “Sprint-401S”.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tư, 2011, 08:27:08 pm gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #422 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 08:35:28 pm »


"Osmotritelnưi"

Trang bị hoa tiêu

Trong thành phần trang bị hoa tiêu có: la bàn con quay “Kurs-10A”, vận tốc kế IEL-1, máy vẽ hành trình tự động AP-4-956, máy đo tiếng ồn NELL-M2, các hệ thống dẫn đường KPF-3K và KPI-7F (từ các hệ thống “Marshrut”, “Loran”, “Tropik”…), máy tìm phương vô tuyến “Rumb”, hệ thống dẫn đường vũ trụ ADK-3M, “Parus”, “Tsikada”, la bàn từ KM-145-4 và các đài ra đa định vị dẫn đường MP-212 (với ba trạm ăng ten).

Thiết bị năng lượng

Thiết bị năng lượng chính của Thiết kế 956 gồm có 2 tổ hợp nồi hơi tuabin bố trí thành tuyến GTZA-674 với tổng công suất 100 000 sức ngựa, một trong số đó bố trí ở buồng máy mũi, còn nồi hơi khác - ở buồng máy mạn tàu. Tổ hợp tuabin răng cưa được trang bị hệ thống điều khiển tự động hóa với sự điều khiển tần số quay, bảo đảm hỗ trợ tần số quay theo quy định khi thay đổi chế độ hoạt động của các tổ hợp. Trong buồng máy mũi tàu bố trí 2 nồi hơi và tuabin bên phải, trong buồng máy mạn tàu – 2 nồi hơi và tua bin bên trái (trục bánh lái của tuabin ngắn hơn). Bộ giảm tốc với tỷ lệ số 1:17 mang lại cho trục tốc độ quay 300 vòng/phút.

Trên 6 tàu đầu tiên lắp 6 nồi hơi cao áp KVN-98/64, sản xuất 98 tấn hơi nước/giờ với áp suất 64kg lực/cm2. Bắt đầu từ tàu thứ 7 (“Stoikyi”) lắp các nồi hơi hiện đại và tin cậy hơn KVG-3 với nước được lưu thông tự nhiên (khả năng sản xuất hơi nước của mỗi nồi hơi – 115 tấn hơi nước/giờ khi nhiệt độ từ 460 đến 475 độ C. Năng lượng khí thải được sử dụng đển đốt cháy không khí trong bình giữ nhiệt và để dẫn động cho máy nén khí khỏi tổ hợp bơm tuabin (tua bin khí không lớn), đốt cháy không khí ở buồng đốt. Lượng dư của không khí cho các nồi hơi được điều tiết bởi tuabin nhỏ bổ sung hoặc được cắt qua van điều tiết.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #423 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 08:57:14 pm »


"Otlichnưi"

Việc cung cấp nước lọc được thực hiện qua bộ phận tiết kiệm chất đốt của nồi hơi, từ đo, nước được đưa vào ống nước bố trí sau màn chắn được kết nối với các ống tụ nước và hơi nước. Việc tạo thành hơi nước được thực hiện trong hàng loạt các màn chắn và ống đối lưu. Sau đó hơi nước được đưa tới máy quá nhiệt rồi qua tuabin. Trong thành phần hệ thống nước ngưng – nước lọc có các máy lọc ion để làm sạch và mềm nước.

Trên các tàu Thiết kế 956 đồng thời lắp các nồi hơi bổ sung với khả năng sản xuất hơi nước 14 tấn/giờ.

Thiết bị hai trục với hai chân vịt có độ ồn thấp được cố định cho phép các tàu khu trục đạt tốc độ hoàn toàn 32 hải lý và tốc độ tối đa – 33,4 hải lý.Với nhiên liệu dự trữ tiêu chuẩn – 1740 tấn dầu, tầm bơi xa trên tốc độ tối đa- 1345 dặm biển, còn tốc độ tuần tra – 18,4 (hải lý) tăng lên 3920 dặm biển (4500 dặm với nhiên liệu quá tải).

Trong thành phần thiết bị năng lượng điện (tổng công suất 4900kW) gồm có: 2 máy phát tuabin hơi nước AK-1V công suất 1250kW/máy và 4 máy phát điện diesel dự bị với công suất 600kW/máy, bảo đảm toàn bộ yêu cầu sử dụng điện 3 pha tần số 50Hz và hiệu điện thế 400V.

Thiết bị bánh lái gồm các máy điện thủy lực và bánh lái bán trục diện tích 14m2. Các chân vịt – 5 cánh, quay từ phải sang trái.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #424 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2011, 08:55:20 pm »


"Otlichnưi"

Các thiết bị hỗ trợ

Thiết bị thuyền con gồm có tàu nhỏ chỉ huy Thiết kế 1390, tàu Thiết kế 338M và một xuồng nhỏ 6 mái chèo. Hai thiết bị vận chuyển hàng hóa “Struna” được lắp theo thành tàu ở khu vực khung cắt ngang giữa thành dành cho việc vận chuyển nhiên liệu, nước và hàng hóa khô. Có khả năng tiếp nhận hàng chất lỏng từ mũi và từ mạn tàu bằng phương pháp truyền thống khi kéo trên cự ly hơn 200 mét.

Khả năng cơ động trên biển

Khả năng cơ động trên biển của các tàu khu trục Thiết kế 956 – không hạn chế. Trong điều kiện thường, việc sử dụng vũ khí có thể trong sóng biển cấp 5, độ lắc bên thành 15 độ và độ lắc sống đuôi 5 độ. Việc giảm độ nghiêng và giới hạn lắc trên tốc độ 6 hải lý được thực hiện bằng máy chống rung với hai cột bánh lái được điều khiển có hiệu quả cao. Nhờ các bánh lái hỗ trợ này, các tàu thuộc Thiết kế có thể đậu an toàn trong bất kỳ điều kiện nào và có khả năng di chuyển tốc độ khẩn cấp 3 hải lý trong trường hợp động cơ chính bị hỏng. Trong chế độ chiến đấu, các tàu có khả năng hoạt động trên biển khi sóng cấp 6 trên tốc độ 24 hải lý. Chiều cao của sóng theo giới hạn thiết kế của tàu – 12 mét.

Các tàu khu trục Thiết kế 956 trong bất kỳ tình trạng nào của biển có thể hoạt động một cách an toàn, hỗ trợ việc di chuyển và có khả năng điều khiển tốt, cho phép các tàu khu trục cơ động trong các hướng khác nhau của gió và sóng không giới hạn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #425 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2011, 09:51:33 pm »


"Sovremennưi"

Khả năng sống còn

Khả năng sống còn của các tàu khu trục Thiết kế 956 được đảm bảo bằng việc tách các kết cấu thép trong thân tàu tới các vị khu vực vị trí chống cháy của các hầm pháo, buồng gây nổ nguy hiểm và các buồng thiết bị năng lượng. Trong thành phần các thiết bị chữa cháy tại chỗ có:

+ hệ thống chống cháy với đường ống vòng cới các nhánh tới khu vực cần thiết và 7 bơm

+ hệ thống chữa cháy hóa học, chữa cháy bằng bọt với các thiết bị dập lửa khu vực, máy phun nước trong các buồng và máy tưới của các vách ngăn (bố trí trong các buồng động cơ)

+ hệ thống chữa cháy nhanh trong các hầm đạn, hệ thống làm ngập hầm chứa đạn dưới rãnh mớn nước

Ngoài các hệ thống chữa cháy, trên các tàu còn có:

+ hệ thống rải balat (tải trọng rằn) của các thùng nhiên liệu khi giải quyết vấn đề chống ngập

+ các hệ thống thoát nước, tiêu nước và trung chuyển nước

+ hệ thống bảo vệ nước đồng nhất để rửa sạch các bề mặt bên trong tàu trong điều kiện lây nhiễm từ bên ngoài

+ hệ thống làm sạch nước trong khoang bằng cách đẩy qua máy phân li sản lượng 2,5 mét khối/giờ với sự đốt cặn từ các sản phẩm cặn không phải dầu hỏa trong nồi hơi bổ sung.

Việc bảo vệ kết cấu trên tàu không có. Việc bọc thép chống mảnh đạn chỉ xuất hiện ở tháp pháo 130mm và thiết bị bóng tên lửa chống tàu “Moskit”.

Cũng như toàn bộ các tàu thế hệ thứ 3, các tàu khu trục Thiết kế 956 không có hệ thống bảo vệ ra đa của pháo. Số lượng lớn các ăng ten của ra đa định vị bố trí trên tàu ở trên thành tàu và thượng tầng khi bơi bằng, do sự phản xạ với bề mặt phẳng của biển mang lại sự cộng hưởng từ đáng kể.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #426 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2011, 10:14:24 pm »


"Otchayannưi"

Khu vực dành cho thủy thủ đoàn (khu vực có người ở)

Thủy thủ đoàn của tàu trong điều kiện thời bình gồm 269 người, trong đó có 25 sỹ quan và 48 chuẩn úy Hải quân. Trong thời chiến, thủy thủ đoàn tăng lên 358 người.

Trên tàu có 22 buồng 1 và 2 người ở cho các sỹ quan (38 chỗ), các chuẩn úy Hải quân được bố trí trong các buồng 2 và 4 người ở (tổng cộng 48 chỗ). Toàn bộ các buồng của sỹ quan và chuẩn úy có diện tích giống nhau – 10m2. Chỉ huy sống trong buồm riêng bố trí cạch buồng của thuyền trưởng; phòng chỉ huy có phòng và công trình phụ riêng. Thủy thủ được bố trí trong 16 buồng theo 10 – 25 người/buồng (tổng cộng 310 chỗ). Diện tích cho mỗi cá nhân – 3,03m2/người.

Nhà ăn của các sỹ quan ở “buồng lớn” bố trí trên thượng tầng dưới buồng truyền động, các chuẩn úy trong “buồng nhỏ” dưới bãi đáp trực thăng. Các thủy thủ - trong 3 nhà ăn bố trí ở các buồng lân cận.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #427 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2011, 10:43:57 pm »


"Sovremennưi"

Toàn bộ buồng cho người ở được trang bị máy vô tuyến điện. Trên tàu có thư viện, rạp chiếu phim, phòng thể thao, để tắm trong mùa hè có các bể bơi khác nhau. Trong trang bị của tàu có hệ thống truyền hình cáp tiêu chuẩn. Buồng y tế gồm có phòng phẫu thuật (mổ), buồng điều trị ngoại trú, sát trùng, trạm quân ý trên 4 địa điểm và phòng cách ly ở hai nơi. Ngoài ra, trên tàu có buồng vệ sinh: giặt, là, tắm hơi (bể), các buồng chứa thiết bị gia dụng ở mũi và mạn tàu, trong mỗi buồng đó có nhà vệ sinh và chỗ rửa mặt. Các sỹ quan và chuẩn úy sử dụng nhà vệ sinh riêng. Việc tắm rửa của thủy thủ đoàn trong buồng tắm, chuẩn úy – buồng tắm riêng, sỹ quan – buồng tắm hơi.

Các buồng ở và sinh hoạt, các trạm và hầm đạn được trang bị hệ thống điều hòa không khí, bảo đảm điều kiện sống trên tàu, sinh hoạt và làm việc của thủy thủ đoàn trong nhiệt độ ngoài trời từ - 25 đến 34 độ.

Dự trữ lương thực, thực phẩm được bảo quản trong 6 kho (cho dầu, cá, mỡ, thực phẩm đông lạnh, đồ biển và rau qua cho các đồ khô) trữ lượng 150m3, trong đó được duy trì ở chế độ nhiệt độ cần thiết từ -18 độ cho thực phẩm đông lạnh và 10 độ cho đồ khô. Nước ngọt trên tàu được tính toán trong 3 ngày. Nước ngọt được lưu trữ trong ba bể chứa thể tích 106m3. Việc bổ sung nước ngọt được thực hiện trong thiết bị máy cất nước sản lượng 25 tấn/giờ. Thời gian bảo quan thực phẩm – 30 ngày.

Để thu nhặt rác và chất thải trên các bến đỗ tạm (sau đó được mang tới các khu vực tiêu hủy), các tàu khu trục Thiết kế 956 trang bị 5 thùng thể tích 50m3.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #428 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 01:36:39 pm »


"Sovremennưi"

Thông tin lịch sử

Trong những năm 70 của thế kỷ XX, trong Hải quân Liên Xô, thời gian phục vụ của các tàu khu trục được trang bị thiết bị pháo 130mm B-2LM và SM-2-1 đã gần hết hạn, còn số lượng các tàu này trong biên chế hạm đội đã bị giảm xuống. Những hoàn cảnh này, yêu cầu việc chế tạo lớp tàu khu trục mới sau Thiết kế 30-bis và 56, đồng thời có hàng loạt trang bị pháo và tên lửa mới mạnh hơn, khi nằm trong biên chế cụm tàu, có khả năng áp chế các mục tiêu trên bộ, tiêu diệt các tàu nổi của địch và vũ khí tấn công đường không, đồng thời thực hiện việc bảo vệ tuyến giao thông liên lạc trên biển.

Tàu phải đáp ứng các yêu cầu đề ra, trong kế hoạch thiết kế và “Chương trình đóng tàu và thuyền trong năm 1971 – 1980”, được thông qua trong tháng 9 năm 1969. Trong nhiệm vụ chiến thuật – chiến dịch dự kiến, các hoạt động của tàu trên cơ sở phối hợp với các đơn vị đổ bộ và đảm nhiệm việc áp chế các mục tiêu nhỏ trên bộ, đồng thời các công trình phòng thủ chống đổ bộ, sự tập trung sinh lực và phương tiện kỹ thuật của địch; yểm trợ hỏa lực, phòng thủ đường không và chống tàu cho lực lượng hải quân đánh bộ ở khu vực đổ quân và trên tuyến vận chuyển trên biển; tiêu diệt các tàu nổi và các khí tài đổ quân – đổ bộ của địch. Pháo chính của tàu dự kiến – 130mm.

Vật liệu để thiết kế tàu đã được chuẩn bị trong tháng 6 năm 1967, khi mà Phòng thiết kế “Arsenal” đã được giao nhiệm vụ chế tạo pháo đơn tự động 130mm (một nòng), nơi nó nhận số hiệu của xưởng ZIF-92 (tên gọi theo Hải quân A-217). Thời gian ngắt quãng (nghỉ) kéo dài vừa đủ trong thiết kế thiết bị pháo không thể không nói đến – các thí nghiệm trong năm 1974, pháo thí nghiệm không đạt được yêu cầu bắn 60 viên/phút (thực tế là 45 viên), khối lượng pháo vượt quá yêu cầu 10 tấn, vì thế, các đại diện của Bộ Tư lệnh Hải quân đã quyết định tiếp nhận việc thiết kế trên cơ sở pháo thí nghiệm loại pháo cỡ lớn tự động 2 nòng có tốc độ bắn “tự động: 90 viên/phút. Kết quả là thiết bị pháo ZIF-94 (A-218) đã xuất hiện với cỡ nòng 130mm, sau đó, nó nhận tên gọi AK-130, và được quyết định lắp lên các tàu mới.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #429 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 02:22:06 pm »


"Sovremennưi"

Nhiệm vụ kỹ - chiến thuật trong thiết kế “tàu yểm trợ hỏa lực đổ bộ” của Hải quân đã giao cho Phòng Nghiên cứu thiết kế Phương Bắc năm 1971. Do dự kiến dựa trên nguyên mẫu của tàu khu trục Thiết kế 56, số cho Thiết kế mới là 956, như là sự thừa kế chuyển sang thế hệ thứ ba. Theo yêu cầu, Thiết kế được mã hóa theo tên gọi của loài chim ăn thịt – “Sarưch”. Ban đầu, việc thiết kế được tiến hành dưới sự chỉ đạo của V.F.Anikiev, từ năm 1975, tổng công trình sư là I.I.Rubis. Trong thiết kế cấu trúc bên ngoài, Công trình sự V.A.Konoplev, người xác định bố cục tổng thể của Thiết kế 956 đóng vai trò chính. Giám sát viên chính từ Hải quân lúc đầu là Thuyền trưởng cấp 2 V.G.Basov, sau đó là Thuyền trưởng cấp 1 I.M.Stetsyura.

Khu vực nền để bố trí vũ khí được lựa chọn từ Thiết kế 56 với các yêu cầu, rằng lượng choán nước của tàu mới không quá 4000 tấn (với tên lửa – 5000 tấn), còn tốc độ phải đạt 34 hải lý. Thực tế, sự phác thảo đại cương về tàu đã được chuẩn bị, đầu tiên, Phòng thiết kế Phương Bắc đã thực hiện các thí nghiệm tàu khu trục 3 tháp pháo (Thiết kế 57), còn thứ hai, các công việc thiết kế nâng cấp các tàu khu trục Thiết kế 56U với việc lắp 4 tên lửa chống tàu “Termit” đã hoàn thành. Vấn đề còn lại chỉ là lắp trên thân thiết kế 56 hay 57A các pháo 130mm mới (ban đầu là 3 tháp pháo 1 nòng), 4 “Termit”, pháo bắn nhanh AK-630, một hay hai thiết bị phóng bom phản lực RBU và tàu sẽ sẵn sang. Đài thủy âm “Titan-2” (với khả năng thay thế mạnh hơn), đài ra đa định vị phát hiện mọi loại mục tiêu “Angara” hay “Topaz”.

Nhưng các pháo 130mm mới đã cũ – pháo 2 nòng xuất hiện nhiều vấn đề. Trong số 3 đài ra đa định vị “Lev” được thiết kế để sử dụng cho pháo 1 nòng đã bị “cắt” và thiết kế pháo 1 nòng nhanh chóng bị loại bỏ. Ngoài ra, để tiết kiệm khối lượng của thiết bị năng lượng (400 tấn) và tăng cường các tính năng chiến đấu và chiến thuật của tàu,việc thiết kế được quyết định tiếp tục với thiết bị tuabin khí.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM