Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:09:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 373518 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #440 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 03:17:03 pm »



Thiết kế 956A "Admiral Ushakov"


"Admiral Ushakov rải nhiễu thụ động

Thiết kế 956A "Besspokoinưi"



Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #441 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 01:19:25 pm »

Các tàu chủ lực lớp “Sevastopol”


Bốn tàu trong lớp:

+ “Poltava” đổi tên thành “Mikhail Frunze”

+ “Gangut” đổ tên thành “Cách mạng tháng Mười”

+ “Petropavlovsk” đổi tên thành “Marat”

+ “Sevastopol” đổi tên thành “Công xã Pari”.

Các tàu chủ lực lớp “Sevastopol” có thân tàu dạng “pháo hạm” với diện tích phần thành tàu trên mặt nước được thu hẹp tối đa và sống mũi có hình dạng của tàu phá băng. Chiều dài của thân tàu giữa các đường vuông góc – 180,1 mét, chiều dài nhất – 181,2 mét; chiều rộng với giáp – 26,89 mét. Lượng choán nước tiêu chuẩn theo thiết kế cuối cùng – 23 288 tấn, còn thực thực tế, lượng choán nước hoàn toàn cho các tàu khác nhau trong lớp trên các thí nghiệm từ 24 8000 đến 25 946 tấn; lượng mớn nước của các tàu dao động từ 8, 99 đến 9,29 mét. Chiều cao tâm nghiêng thiết kế của tàu – 1,76 mét.

Phần cấu trúc cơ bản của khung thân tàu có dạng rầm sống đuôi hình hộp với chiều cao 2 mét và 150 khung bố trí với các miếng chèn giữa 1200 mét. Để đóng thân tàu đã tiếp nhận ba loạt thép: thép đóng tàu thông dụng, thép tăng cường sức chịu lực và thép có sức chịu lực cao, có giới hạn chịu lực một cách tương ứng với 42,63 và 72kg lực/mm2 và giới hạn kéo căng hơn 20, 18 và 16 %. Các tàu chủ lực có 3 boong, mặt nghiêng của boong dưới từ vào mép dưới của đai bọc thép chính. Không gian bên trong thân tàu được chia thành 13 khoang ngang và 2 khoang dọc, cách thành tàu 3,4 mét và bởi các vách ngăn chống thấm nước.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #442 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 01:49:39 pm »


Bộ phận mũi của thân tàu có thiết bị tời, buồng máy diesel nhỏ, buồng sinh hoạt của thủy thủ, hạ sỹ quan và bể tắm. Các buồng động cơ chính và hầm pháo được bố trí ở giữa thân tàu từ tháp pháo thứ nhất đến thứ 4. Trạm trung tâm mũi tàu nàm dưới buồng chiến đấu ở mũi trên boong thứ ba. Trong bộ phận mạn tàu bố trí các buồng cho sỹ quan, buồng lái, buồng động cơ diesel lớn, trạm trung tâm mạn tàu và buồng vô tuyến điện. Số các thượng tầng được bố trí ở mức tối thiểu – trên boong trên thực tế chỉ có các tháp pháo, 2 ống khói, 2 cột buồm và 2 buồng chiến đấu với thượng tầng nhỏ, gọn trong khu vực mũi tàu.

Ống khói mũi tàu nằm ở khung 50 ½, Đường kính: 4,32 mét, chiều cao so với mặt boong – 14,6 mét. Ống khói mạn tàu có đường kính 5,60 mét và cùng chiều cao như ống khói mũi ở cách ống khói mũi 29,4 mét trên khung số 75.

Cột buồm nằm ở khung 461 ½ , cột buồm chính – khung số 1081 ½. Khoảng cách giữa các cột buồm – 74,4 mét. Các cột buồm bố trí trên boong trên cao tương ứng 40,4 và 32,6 mét. Chiều cao của cột buồm so với mặt boong – 23,6 mét, cột buồm chính – 8,7 mét.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #443 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 03:13:01 pm »

Bọc thép và chống mìn (thủy lôi)


Các tàu chủ lực lớp “Sevastopol” có một số điểm không điển hình về bọc thép của tàu chủ lực: giáp được phủ gần như toàn bộ phần nổ, ngoại trừ bộ phận không lớn trên mạn tàu.

Vành đai giáp chính, che phủ hầm tháp pháo và thiết bị năng lượng của tàu, có chiều cao 5,06 mét, trong đó, độ cao vạch mớn nước theo thiết kế là 3,06 mét, nhưng do sự quá tải của các tàu, lượng mớn nước thực tế cao hơn, đai thép ở dưới nước gần 1 mét. Trong khu vực thành tàu, độ dài 116,5 mét, đai chính có độ dày 225m, phần mút kéo dài từ mũi tàu đến gần hết mạn tàu có độ dày 125 mm. Vành đai trên có chiều cao 2,26 mét và kéo dài từ tường chắn đạn của tháp pháo thứ 4 đến mũi tàu, giữa tường chắn đạn mũi tàu và mạn tàu có độ dày 125mm. Trong mút mũi tàu, độ dày còn 75mm, trong khu vực mạn tàu, mút vành đai trên không có. Các tấm thép được cố định mà không có đệm với sự hỗ trợ của chốt trên đường viền rắn, được liên kết với tổ hợp động lực của thân tàu. Đai chính của bộ phận dưới kéo dài tới nhanh đặc biệt dựa trên khối lượng. Tường chắn đạn bọc thép mũi tàu dàu 50mm, ở giữa thân tàu tới bệ súng của tháp pháo thứ nhất dày 50mm trong bộ phận dưới và dày 125mm trong phần trên. Kết cấu tương tự là tường chắn đạn mạn tàu dày 125mm, kéo dài tới bệ súng của tháp pháo thứ 4 dày từ 100 đến 200 mét. Ngoài các vành đai bọc thép dưới, thân tàu còn được bọc thép dọc ở các vách ngăn chống đạn xếp thẳng, bao gồm toàn bộ chiều đài thân tàu tới các vách ngăn bọc thép dọc trên khoảng cách 3, 4 mét từ thành tàu và được sử dụng để bảo vệ các buồng bên trong khỏi mảnh đạnh xuyên qua các vành đai bọc thép chính và đai trên. Giữa các boong dưới và giữa có các vách ngăn dày 50mm, còn giữa boong giữa và boong trên – 37,5mm.

Bọc thép ngang thân tàu gồm ba boong bọc thép. Boong trên có độ dày 37,5mm, che phủ thành và mút mũi tàu; trong mút mạn tàu độ dày còn 6mm. Boong giữa trên thành có độ dàu 25mm trong bộ phận giữa thân và 19mm – trong không gian giữa các thành và vách ngăn bọc thép dọc. Trong mút mũi tàu nó có độ dàu 25mm theo toàn bộ chiều rộng tàu, còn trong mút mạn tàu  = 19mm. Boong dưới ở khu vực thành dày 12mm, nhưng trong khoảng không giữa các boong, nó có độ dày 50mm giáp nghiêng, nằm trên lớp thép 12mm. Trong mút mạn tàu, boong dưới nằm ngang theo toàn bộ chiều rộng thân tàu dày 25mm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #444 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2011, 04:42:38 pm »


Bộ phận quay của tháp pháo chính có độ dày thành trước và bên: 203mm, khi đó, thành phía sau có vai trò như đối trọng với tấm thép dày 305mm. Nóc và đáy bộ phận cố định dày 76mm. Bộ phận tháp pháo cố định (bệ súng) dày 150mm trên boong trên và thấp hơn nó, bộ phận của bệ súng kéo dài đến boong giữa dày 75mm. Ngoại trừ khu vực rìa tháp pháo, các bệ súng đều có tường chắn đạn bọc thép. Bộ phận đầu bệ súng của tháp pháo thứ nhất dày 125mm, còn gần tháp pháo thứ 4, độ dày của bộ phận này là 200mm (theo một số tài liệu – 125mm). Các hầm chống mìn có đai giáp dày 125mm và vách ngăn dọc 50mm, khi đó, cũng nhưng các lỗ châu mai của pháo chỉ có các lá chắn chống mảnh đạn. Ngoài ra, hầm tránh đạn được bố trí các vách ngăn bọc thép ngang dày 19 và 24mm.

Việc bọc thép thành buồng chiến đầu – 250mm, theo các tài liệu khác nhau – 100 hoặc 200mm, đồng thời bỏ thép bảo vệ bánh lái – 70mm. Các vỏ của ống khói dàu 75mm trong khu vực nền và 22mm ở bộ phận còn lại. Ngoài ra, buồng lái được bảo vệ riêng, gồm các tấm thép dày 30 đến 125mm.

Tàu không có hệ thống chống mìn đặc biệt, vai trò chống mìn chỉ là đáy đôi và than tàu kéo dài đến vành đai của giáp chính với vách ngăn dọc dày 9mm thép chịu lực tăng cường. Khi đưa vào biên chế, tàu chủ lực được trang bị các lưới chống ngư lôi, có sự hỗ trợ của 32 trục quay trên thành tàu, nhưng đến năm 1915, chúng được tháo đi do không đáp ứng được yêu cầu chống ngư lôi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #445 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 04:01:40 pm »

Trang bị pháo

Pháo chính trên các tàu chủ lực là 12 khẩu pháo rãnh xoắn 12 inch do xưởng Obukhov chế tạo, bố trí trong bốn tháp pháo ba nòng (thời Liên Xô nhận tên gọi MK-3-12).

Tháp pháo được bố trí trên các bệ hình trụ. Bên trong mỗi bệ bố trí các bệ quay hình nón. Trên mặt trên của nó có các tháp pháo riêng với giá pháo bên trong. Bệ quay hình nón tỳ vào các hình cầu, lăn theo đường tròn của bệ pháo. Dưới bệ quay có ống tiếp đạn. Tháp pháo được giữ bằng con lăn lò xo di chuyển theo thành, bố trí giữa bệ và bộ phận hình trụ của ống tiếp đạn. Trong bộ phận dưới, toàn bộ cấu trúc quay hướng về trục khớp khuyên, đi vào ổ trục nằm trên đáy chồng lên nhau của bệ pháo.

Đường kính pháo – 304,8mm chiều dài nòng gấp 52 lần cỡ nòng/15 850, khối lượng 50,7 tấn. Khóa nòng – pít tông do hãng “Vikkers” chế tạo”. Pháo có thể tích phần nạp đạn 224,6 m3 và được tính toán áp suất trong nàng pháo 2400kg/cm2, cho phép bắn đạn mẫu năm 1911 với sơ tốc đầu nòng 762m/s.


Sự bố trí các tháp pháo – tuyến dọc, góc bắn: 0 đến 155 độ với pháo mũi: 25 đến 155 độ cho tháp pháo thứ hai và thứ ba; 25…. 180 độ cho tháp pháo mạn tàu. Bằng cách này, toàn bộ 12 pháo có thể bắn ở góc vuông -65 đến 65 đọ, nhưng phạm vi bắn ở mũi và mạn tàu chỉ dành cho 3 pháo. Góc tầm từ -5 đến 25 độ. Trên “Sevastopol”, trong quá trình hiện đại hóa trong khoảng 1933 – 1938, góc tầm cực đại tăng lên 40 độ. Việc dẫn bắn pháo được tiến hành với sự hỗ trợ của động cơ điện (cò điện) với tốc độ quay thường hoạt động qua các bộ điều khiển tốc độ thủy cơ khí được biết đến dưới tên gọi “khớp Zenni” – 1 bộ 30 sức ngựa để quay 3 tháp pháo và 12 sức ngựa để dẫn bắn góc tầm. Tốc độ dẫn bắn góc tầm tối đa: 3,2 độ/giây, góc hướng: 4 độ/giây. Trên “Sevastopol”, trong quá trình nâng cấp, tốc độ bắn góc hướng tăng lên 6 độ/giây. Đồng thời, trên thiết bị có lắp bộ phận truyền động bằng tay, khi có sự hỗ trợ này có thể bảo đảm dẫn bắn góc tầm 0,5 độ/giây, để làm việc này, yêu cầu sức của 12 người. Bắn góc hướng, pháo có thể bắn riêng hoặc bắn đôi, bắn ba.  
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #446 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2011, 01:22:54 pm »


Cơ số đạn pháo chính – 100 viên trên nòng pháo và bố trí trong 4 hầm dưới tháp pháo, được phân chia trên 2 bộ phận cho việc bảo vệ đạn và liều phóng riêng. Hầm các tháp pháo mũi và mạn tàu không chứa toàn toàn bộ cơ số đạn, vì thế, 1 bộ phận đạn pháo được bố trí trong hầm dự bị, từ đó, chúng được đưa tới các hầm chính với sự hỗ trợ của palăng bằng tay. Trong các hầm tự động để nhiệt độ thường xuyên 15 – 25 độ C với sự hỗ trợ của máy làm lạnh không khí thuộc hệ thống Vestigauz-Leblan. Trong chủng loại đạn có đạn xuyên giáp, đạn khoan bê tông, đạn nổ và phá mảnh, đòng thời lõi đạn gang pha thép phục vụ cho việc bắn tập.

Đạn được nạp để bắn bao gồm đầu đạn và 2 nửa đạn. Đạn và phần nửa đạn từ hầm bên phải, với sự hỗ trợ của máy nạp đạn ở dưới, được đưa tới buồng vận chuyển, từ đó, cũng với sự hỗ trợ của máy nâng trên, chúng được đưa trực tiếp tới pháo. Việc nạp đạn có thể thực hiện trong các góc cao từ - 5 đến 15 độ. Các máy nâng (cần cẩu) và thiết bị nạp đạn có thiết bị dẫn đồng điện, đồng thời hệ thống nạp đạn bằng tay độc lập, yêu cầu sức của 4 người. Tốc độ bắn lý thuyết của pháo: 1,8 viên/phút. Tốc độ bắn thực tế phụ thuộc vào sự huấn luyện của khẩu đội, có thể 1,5 đến 2 viên/phút. Trên “Sevastopol” khi nâng cấp đã lắp hệ thống nạp đạn mới với góc cố định 6 độ, tăng tốc độ bắn lý thuyết lên 2,2 viên/phút, cái giá phải trả là phải loại bỏ hệ thống nạp đạn phụ bằng tay.

Pháo chống mình cỡ lớn có 16 pháo rãnh xoắn của hãng “Vikkers”. Pháo được bố trí và lắp ghép thành 2 khối 8 khẩu, bố trí trong các hầm ở boong giữa được hình thành bằng thành tàu và vách ngăn dọc. Trong mỗi hầm, phân bố thanh xà ngang bọc thép để lắp 2 pháo trên đó. Pháo quay trên bệ được cố định vững chắc với lá chắn hình tròn (hình nhẫn) boc thép chống mảnh đạn phủ trên lỗ châu mai và quay cùng pháo.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #447 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2011, 02:46:18 pm »

Pháo có nòng được gia cố với chiều dài nòng gấp 52 lần cỡ nòng/6240mm và khóa nòng pít tông của hệ thống “Vikkers”. Tốc độ bắn 7 viên/phút. Phạm vi bắn từ 120 đến 130 độ với các thiết bị khác nhau và bằng cách này có thể bắn mục tiêu ở bất kỳ góc nào và có thể bắn ít nhất bằng 4 pháo trong số đó. Pháo được bố rí trên các ụ cho phép dẫn bắn theo góc tầm trong giới hạn từ -10 đến 20 độ. Tốc độ bắn góc hướng 6-8 độ/giây, góc tầm 3,5 độ/giây. Việc nạp đạn – đạn với liều phóng riêng, trong cơ số đạn có đạn nổ, phá mảnh và đạn vạch sách, đồng thời đạn “lặn”, được sử dụng để chống tàu ngầm. Cơ số đạn chống mình – 250 viên trên nòng, sau này được tăng lên 300.


Các tàu chủ lực được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực kiểu Heusler có vai trò chính trong điều khiển hỏa lực chống mìn. Tầm xa tới mục tiêu được xác định với sự hỗ trợ của 1 trong 2 máy đo xa lập thể với bệ 6 mét – bệ cơ sở bố trí trên đài chỉ huy của buồng chiến đấu hoặc dự bị lắp trên nóc buồng chiến đấu mạn tàu. Các chỉ số của máy đo xa được đo bằng thiết bị đo xa bằng chu kỳ 3-5 giây và được truyền theo điện thoại tới trạm trung tâm. Góc vòng của mục tiêu được xác định bằng sự quan trắc dẫn bắn tập trung và đồng thời được truyền tới trạm trung tâm bằng điện thoại. Sự tính toán các thông số bắn được thực hiện bằng tay ở buồng trung tâm, nơi có các sỹ quan pháo binh giàu kinh nghiệm chịu trách nhiệm dẫn bắn pháo chính. Ở đó, các thông số của máy đo xa được đưa tới khí tàu đã định của thước ngắm – thiết bị tính toán cơ học, xử lý khoảng cách hiện tại, được hiệu chỉnh bởi hoa tiêu lâu năm tiến hành sự hiệu chỉnh với tính toán thay đổi vị trí mục tiêu trong thời gian đạn bay tương ứng với vòng quay và tốc độ tàu địch. Sau đó, thông tin này được đưa tới đài điều khiển hỏa lực, truyền tới góc quay của pháo. Trong các thông số vòng quay bằng tay được đưa vào hiệu chỉnh, được tính toán góc ngắm đón trong thời gian đạn bay, gió bên, độ nghiêng của đạn khi quay, kết quả là sự hiệu chỉnh góc quay đã được chuẩn bị gọi là đầu ngắm (thước ngắm).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #448 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 03:16:29 pm »

Các dữ liệu theo góc nâng pháo được truyền bằng đường dây tới trạm dẫn bắn của mỗi pháo trên tàu chủ lực và được biểu hiện trên đồng hồ chỉ thị bắn của pháo thủ. Các dữ liệu góc bắn hiện tại và thước ngắm được truyền tải tới khí tài tiếp nhận của tháp pháo, nới đồng thời được biểu hiện trên đồng hồ quay, được tính toán đồng thời sự hiệu chỉnh khoảng cách giữa sự quan trắc của sự ngắm bắn tập trung và tháp pháo (trên 100 mét cho tháp pháo thứ 4). Sau đó dành cho các pháo thủ trong tháp pháo chỉ còn các chỉ số góc bắn thực và góc quay trên đồng hồ và thực hiện việc khai hỏa. Khí tài xác định góc nghiêng tự động khóa mạch điện của mọi tháp pháo theo sự hướng tới góc nghiêng 0 độ. Các cơ chế dẫn bắn đồng thời trang bị khóa an toàn, tự động khóa mạch không bắn khi góc nâng dưới – 5 độ. Ngoài ra, chế độ cơ bản, mỗi tháp pháo có thể tự quan trắc mục tiêu, đồng thời bắn trong chế độ tự động. Khi đó, các dữ liệu được xác định với sự hỗ trợ của các khí tài thước ngắm tháp pháo và được tính toán theo các bản dẫn bắn bởi chỉ huy tháp pháo. Bằng hình thức tương tự có thể điều khiển hỏa lực pháo chống mìn, ngoài ra, mỗi pháo 120mm có thể tự bắn dưới sự điều khiển của chỉ huy riêng.


Tương ứng với dự án, dự kiến lắp trên mỗi tàu chủ lực vũ khí phòng không: 8 pháo 75mm, 4 pháo 47mm và 3 pháo 63,5mm. Tuy nhiên, do không đủ các loại vũ khí này, thực tế, theo tình trạng lúc gia nhập biên chế, trên “Gangut” và “Petropavlovsk” lắp 2 pháo 63,5mm với cơ số đạn 200 viên trên nòng và 1 pháo 47mm, còn trên “Sevastopol” và “Poltava” – 2 pháo 75mm với cơ số đạn 200 viên trên nòng và 1 pháo 47mm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #449 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 03:28:05 pm »

Trang bị ngư lôi của các tàu chủ lực gồm có 4 thiết bị ngư lôi 450mm cố định trên thành với cơ số 3 ngư lôi trên mỗi thiết bị. Các thiết bị ngư lôi được sử dụng trên tàu chủ lực chỉ để phòng ngự trong trường hợp khẩn cấp, khi pháo bị loại khỏi vòng chiến. Cơ số đạn gồm có các ngư lôi hơi nước kiểu 4-12 (mẫu năm 1912), có khối lượng đầu đạn 100kg và tầm xa 2km tới tốc độ 43 hải lý, hoặc 6km với tốc độ 28km.


Sau khi kết thúc nâng cấp năm 1931, “Marat” nhận trang bị máy bay, gồm 1 thủy phi cơ trinh sát KR-1. Máy bay được giữ trên nóc tháp pháo thứ 3, việc cất và hạ cánh của thủy phi cơ được thực hiện trên mặt nước, trên khu vực buồng mạn tàu bố trí một cần cẩu để nâng và thả máy bay xuống nước. Trang bị tương tự, chỉ khác ở cần cẩu khói lượng nâng 20 tấn được tiếp nhận sau khi nâng cấp “Cách mạng tháng Mười” năm 1931 – 1934. Trang bị máy bay mạnh hơn được tiếp nhận ở “Công xã Pari” trên nóc tháp pháo thứ ba – trong năm 1930 được lắp máy phóng khí nén 3-K đển khởi động 2 thủy phi cơ KR-1 trên thành, tuy nhiên, năm 1933, máy phóng đã được tháp bỏ mặc dù máy bay và cần cẩu để thả xuống nước vẫn được giữ lại trên tàu đến năm 1940.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM