Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:26:19 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tầu ngầm - Chiến hạm của Liên xô và Nga  (Đọc 372837 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #480 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 05:55:56 pm »








Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #481 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 08:07:37 pm »

Đề án tàu ngầm nguyên tử 627 “Kit”


Kinh nghiệm trong Chiến tranh Thế giới thứ hai đã chỉ ra rằng kết quả phát triển lực lượng chống ngầm và các tàu ngầm được trang bị các khí tài ra đa định vị có thể hoạt động một cách hiệu quả chỉ khi dưới mặt nước. Khi đó, chúng phải có khả năng đạt tốc độ dưới nước cao (trên 20 hải lý), cho phép chiếm vị trí thuận lợi khi tấn công và rút lui khỏi khu vực kiểm soát của tàu ngầm địch. Theo tính toán, với khả năng hạn chế (do sự tăng kích thước khối lượng không hợp lý) của các thiết bị năng lượng, đã ảnh hưởng tới việc sử dụng tàu ngầm. Vì thế, các công trình sư tàu ngầm đã bắt đầu tìm kiếm hoạt động sử dụng các động cơ nhiệt kiểu mới.

Trong những năm đầu sau chiến tranh, trong các cường quốc Hải quân hàng đầu sau khi Đức đầu hàng, với việc sử dụng kinh nghiệm và các chuyên gia của nước này đã kiểm tra hàng loạt thí nghiệm với các thiết bị động cơ tuabin khí hơi (PGTU) hoạt động trên sự tích tụ peroxit của hidro (động cơ Walter). Tuy nhên, độ tin cậy khai thác sử dụng thấp của loại động cơ này, sự tiêu thụ đáng kế lượng peroxit hidro trong tốc độ lớn đã hạn chế tuổi thọ của động năng lượng của động cơ này đã là tiền đề sự ưu tiên sử dụng một cách nguyên tắc các thiết bị năng lượng mới – nguyên tử (AEU). Không phục thuộc vào áp suất không khí, động cơ năng lượng nguyên tử cho phép khi hạn chế về khích thước khối lượng nhận được công suất tổng lớn và đảm bảo sự di chuyển của tàu ngầm trong vị trí dưới nước với tốc độ cao trong thời gian kéo dài. Không một loại thiết bị năng lượng nào khác của tàu ngầm có thể đạt được hiệu quả làm việc như vậy.

Ở Mỹ, chương trình chế tạo các tàu ngầm nguyên tử (APL) được phát triển trong tháng 12 năm 1945, còn năm sau, các công việc này được đẩy nhanh tiến độ. Vào năm 1948, thiết kế động cơ năng lượng nguyên tử đã kết thúc, và ngày 14 tháng 6 năm 1952, trên xưởng “Electric Boat Dvigin” của hãng “General Dinamic Korporeishn” thành phố Groton (thủ phủ Konnencticut) đã khởi công tàu ngầm nguyên tử đầu tiên trên thế giới “Nautilus”. Tháng 9 năm 1955 – 9 năm sau khi bắt đầu đóng, nó đã có mặt trong Hải quân Mỹ.

Cùng với thời kỳ này, với việc chế tạo tàu ngầm nguyên tử cũng được bắt đầu ở Liên Xô. Mùng 9 tháng 9 năm 1952, theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô, theo đó, ở Moskva đã thành lập 2 nhóm chuyên gia: một – để thực hiện viêc thiết kế đề án tàu ngầm nguyên tử; nhóm khác – để thiết kế các thiết bị năng lượng của tàu ngầm. Chỉ đạo nhóm đầu tiên là Vladimir Nikolaevich Peregudov, làm việc trong thời kỳ này với tư cách phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học số 45 theo công nghiệp đóng tàu. Nhóm nghiên cứu động cơ được dẫn đầu bởi Nikolao Antonovic Dollezhal, sau đó là viện sỹ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Chỉ đạo khoa học các công việc chế tạo động cơ năng lượng nguyên tử và tàu ngầm nguyên tử được giao cho viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Liên Xô – Viện sĩ Anatoli Petrovich Aleksandrov. Nhìn chung, nhưng không hoàn toàn sự chỉ đạo tập thể về chế tạo tàu ngầm được giao cho một trong số những người khởi xướng chế tạo tàu ngầm nguyên tử - phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Vyacheslav Aleksandrovich Malưshev.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #482 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:06:51 pm »

Đứng đầu nhóm thiết kế tàu ngầm nguyên tử là V.N.Peregudov là một kỹ sư đóng tàu giàu kinh nghiệm. Là sỹ quan Hải quân hàng đầu, thuyền trưởng cấp 1, ông có kinh nghiệm lớn trong các tổ chức nghiên cứu khoa học và thiết kế thuộc Hải quân và công nghiệp đóng tàu. Năm 1941 – 1947, ông đã làm việc trong phòng thiết kế hàng đầu về tàu ngầm thời gian đó – Phòng Thiết kế Trung ương số 18 trong chức vụ trưởng phòng, sau đó là tổng công trình sự của các tàu ngầm Đề án 608 và 613. Trong nhóm của mình, V.N.Peregudov đã làm việc với các chuyên gia có trình độ cao trước đây. Xương sống của nhóm gồm phó tổng công trình sư tàu ngầm Đề án 611 V.P.Funikov (Phòng Thiết kế Trung ương số 18), đã trở thành cánh tay phải của Peregudov, trưởng phòng Thiết kế Trung ương số 18 A.V.Bazilievich và N.V.Anuchin, người chịu trách nhiệm giám sát các câu hỏi thiết kế chung, bố cục chung của tàu và hệ thống trên tàu, phó tổng công trình sư tàu ngầm Đề án 617 V.P.Goryachev (Phòng thiết kế số 143), chịu trách nhiệm về trang bị điện tử và vô tuyến của tàu ngầm, trưởng phòng Thiết kế số 143 P.D.Degtiarev, chịu trách nhiệm về thiết bị năng lượng chính, trưởng phòng Viện nghiên cứu khoa học Trung ương số 45.

B.K.Razletov, người đứng đầu việc phát triển các câu hỏi về độ vững chắc và thiết kế thân tàu. Thành phần của nhóm thường xuyên được tăng cường và tới thời điểm kết thúc nghiên cứu lên đến 35 người.

Các hoạt động của nhóm các nhà thiết kế tàu ngầm nguyên tử và thiết bị năng lượng đã tiến hành song song và thực hiện tìm kiếm các tính năng. Theo tính toán, đây là công việc đặc biệt bí mật, phạm vi thu hút các chuyên gia rất hạn chế. Thậm chí, các chuyên gia Hải quân đến thời điểm đó không được tham gia thực hiện thiết kế và lựa chọn các yêu cầu liên quan tới các phần tử kỹ chiến thuật (TTE) của tàu ngầm nguyên tử.

Đến tháng 3 năm 1953, nhóm làm việc của V.N.Peregudov đã hoàn thành nghiên cứu tàu ngầm nguyên tử trong phạm vi Đề án sơ khai.

Theo tính toàn của các nhà thiết kế, tàu được sử dụng để tấn công khu vực ven biển của địch (các căn cứ Hải quân, bến cảng…). Để thực hiện nhiệm vụ này, tàu ngầm dự kiến được trang bị ngư lôi T-15 (đường kính 1550mm, chiều dài gần 24 mét) với đầu đạn hạt nhân. Sự lựa chọn loại vũ khí này được giải thích bởi sự thiếu vắng các tên lửa đạn đạo cơ sở của Hải quân khi đó.

Vũ khí truyền thống – các ngư lôi 533mm – gồm có trong thành phần trang bị tự vệ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #483 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2011, 01:48:45 pm »

Theo hình dáng và các phần tử kỹ - chiến thuật, phiên bản tàu ngầm nguyên tử được thiết kế một cách thực tế khác với các tàu ngầm trang bị động cơ điện – diesel (DEPL). Tàu ngầm nguyên tử đầu tiên phải có tốc độ 25 hải lý mà với nó, tàu có thể di chuyển lâu dài dưới nước. Tổng cộng thời gian lặn kéo dài là 50 – 60 ngày. Độ lặn sâu của tàu ngầm nguyên tử nội địa đầu tiên theo so sánh với các tàu ngầm nước ngoài của thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai tăng lên gấp đôi. Tàu ngầm nguyên tử dự kiến được trang bị thiết bị năng lượng hai trục. Không bình thường trong thời điểm đó là hình dáng điếu xì gà của thân tàu với bộ phận mũi hình elip được đề ra bởi vì yêu cầu bố trí thiết bị ngư lôi mũi cho các ngư lôi T-15, đồng thời đảm bảo giảm lực cản của nước khi di chuyển ở vị trí dưới nước.

Cùng với đó, các giải pháp kỹ thuật theo tàu ngầm nguyên tử đầu tiên đã giữ lại những dấu ấn của các hướng truyền thống có đặc điểm của tàu ngầm điện – diesel, một trong số đó – Đề án 611 – tiếp nhận trong vai trò nguyên mẫu. Đặc biệt, duy trì bố cục nguyên tắc của tàu, hệ thống năng lượng điện được xây dựng trong sự tiếp nhận dòng điện một chiều, sử dụng bộ phận thống nhất trang thiết bị.

Việc phát triển quy môt lớn thiết kế thí nghiệm tàu ngầm nguyên tử nhận số hiệu “627”, được giao cho Phòng thiết kế đặc biệt Leningrad số 143 (SKV-143), được chế tạo năm 1948 cho thiết kế tốc độ tàu ngầm với các thiết bị năng lượng mới. Trong những năm 1948 – 1953, ở Phòng thiết kế đặc biệt số 143 đã thực hiện các công việc về tàu ngầm với thiết bị năng lượng tuabin khí hơi của Đề án 617. Trưởng phòng Thiết kế đặc biệt số 143 và tổng công trình sư tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 “Cá voi” là V.N.Peregudov. Thực tế, toàn bộ các chuyên gia nhóm tổ hợp đang làm việc ở Moskva đồng thời được đưa đến Phòng thiết kế số 143, nơi họ đóng vai trò lãnh đạo các hướng làm việc tương ứng.

Từ tháng 3 năm 1953 đến tháng 5 năm 1954, tập thể Phòng thí nghiệm số 143 đã phát triển thiết kế sơ khai và kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử. Các tổ chức công nghiệp thiết kế và nghiên cứu khoa học hàng đầu về đóng tàu, Công nghiệp hạng trung và các ngành đã thực hiện tổ hợp các công việc thiết kế - thí nghiệm và thí nghiệm theo xử lý các giải pháp kỹ thuật, chế tạo trang thiết bị, vũ khí và các vật liệu thiết kế. Thực tế, có sự hỗ trợ lớn của Viện sĩ A.P.Aleksandrov – lãnh đạo khoa học của Đề án cho các nhà thiết kế. Hầu như hàng tuần, ông đến Leningrad, nới các cuộc họp phân tích với các thiết kế tàu ngầm nguyên tử và các nhà thiết kế của trang bị được xác định bằng giải pháp quyết định nhiều vấn đề khác nhau và đa dạng, vốn không thể tránh khỏi trong công việc mới. Bằng các nỗ lực tổng thể đã thành công trong việc vượt qua những vấn đề khoa học – kỹ thuật nghiêm trọng, nhiều trong số đó về nguyên tắc về chức năng phù hợp cho việc đóng tàu ngầm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #484 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2011, 07:22:08 pm »

Nhiệm vụ quan trọng là thiết kế thiết bị năng lượng nguyên tử và tổ hợp trang bị liên quan với nó. Việc thiết kế thiết bị năng lượng nguyên tử được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Viện năng lượng nguyên tử AN Liên Xô. Thiết bị sản xuất hơi nước được thiết kế ở Viện Nghiên cứu khoa học số 8 thuộc Bộ xe máy hạng trung dưới sự chỉ đạo của N.A.Dollezhal. Cùng với Viện Nghiên cứu khoa học số 8, Phòng Thiết kế đặc biệt lắp ráp nồi hơi thuộc xưởng Baltic mang tên S.Ordzhonikidze đã làm việc dưới sự chế tạo máy phát tuabin hơi nước (Tổng công trình sư G.A.Gansanov), còn Phòng thiết kế đặc biệt thuộc xưởng Kirov (Leningrad – OKB-LKZ) – các bơm của của mạch đầu tiên (Tổng công trình sư N.M.Sinev). Việc thiết kế thiết bị tuabin hơi nước được thực hiện ở Phòng Thiết kế đặc biệt thuộc xưởng Kirov (Tổng công trình sư M.A.Kazak) với sự tham gia của các chuyên gia năng lượng của Phòng Thiết kế số 143 do G.A.Voronhich lãnh đạo.

Sự tăng cường độ lặn sâu của tàu ngầm yêu cầu việc chế tạo thép mới có độ cứng mới AK-25 và vật liệu hàn cho nó. Chúng được thiết kế ở Viện Nghiên cứu khoa học số 48 về công nghiệp đóng tàu (Viện trưởng G.N.Kopưrin). Từ các vật liệu mới đã chế tạo các khoang thí nghiệm và đưa chúng tới các thí nghiệm động lực và tĩnh lực học.

Việc phát triển các câu hỏi về đảm bảo độ vững chắc và các thí nghiệm do các chuyên gia của Viện Nghiên cứu khoa học số 45 về đóng tàu (viện trưởng V.I.Pershin). Ở đó cũng đồng thời thực hiện các công việc làm giảm độ rung của máy và tiếng ồn của tàu ngầm.

Việc xử lý thủy động lực của tàu ngầm nguyên tử có hình dáng thân phi truyền thống, ngăn cách các buồng và cánh đuôi ở mạn tàu được thực hiện song song bởi các chuyên gia Viện Nghiên cứu khoa học số 45 và Viện thủy động lực Trung ương (TsAGI) thuộc công nghiệp hàng không (chỉ đạo công việc K.K.Fedyaevskyi).

Vấn đề lớn là việc bảo đảm điều kiện sống cho thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử trong các điều kiện sinh hoạt lâu dài trong các buồng kín, không có sự lưu thông không khí, trong các điều kiện tương tác hoạt động của thiết bị năng lượng nguyên tử và trang bị khác. Hệ thống tổ hợp điều hòa không khí và quạt gió đã được chế tạo, bảo đảm sự hỗ trợ các tham số về độ ẩm thuận lợi của không khí, các thiết bị đặc biệt, bảo đảm sự hỗ trợ của thành phần khí tối ưu, các khí tài kiểm tra phóng xạ của tàu và trang bị khác. Việc kiểm tra trang bị được chế tạo và các điều kiện có người ở được tiến hành đặc biệt ở tàu ngầm D-2 được trang bị lại. Trong thời gian 50 ngày trên thành tàu ngầm, bằng các thiết bị thí nghiệm đã kiếm tra sự sống và làm việc của thủy thủ đoàn một cách thành công trong điều kiện không có sự lưu thông không khí.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #485 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 02:10:39 pm »

Trang thiết bị điện khác nhau được thiết kế và chế tạo ở xưởng “Elektrosila” (Leningrad).

Tổ hợp công việc lớn trong việc chế tạo vũ khí tấn công của tàu ngầm nguyên tử - ngư lôi T-15, tuy nhiên, vấn đề đạt được độ bắn chính xác và hiệu quả tiếp nhận cần thiết vẫn không được giải quyết đến cùng.

Tháng 7 năm 1954, liên quan đến việc chế tạo tàu ngầm nguyên tử, lần đầu tiên đã thu hút các chuyên gia Hải quân. Nhóm chuyên gia Hải quân đã đánh giá trong kết luận của mình về vấn đề hiệu qua sử dụng tàu trong mục đích cơ bản. Thực tế, để tấn công, tàu ngầm nguyên tử yêu cầu tiếp cận mục tiêu ở cự ly dưới 40km, làm lộ vị trí của mình dưới các vật định hướng trên bờ với sự hỗ trợ của đài ra đa định vị sau khi bắn. Theo tính toán, việc không thể duy trì sự bí mật trong khả năng hoạt động của tàu ngầm ở các khu vực gần bờ biển kể thù trong các điều kiện vấp phải lực lượng chống ngầm, các chuyên gia Hải quân đã làm báo cáo về sự không hợp lý trong thành phần trang bị vũ khí của tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm.

Ngoài ra, trong kết luận của nhóm chuyên gia đã đánh giá tốc độ không đủ lớn, việc tiếp nhận vũ khí tự vệ (2 thiết bị phóng ngư lôi với 2 ngư lôi 533mm) và hàng loạt các nhược điểm. Kết quả của cuộc thẩm định là đã tiếp nhận quyết định về hiệu chỉnh thiết kế kỹ thuật và được Phòng Thiết kế đặc biệt số 143 thực hiện vào giữa năm 1955.

Trong phương án sau cùng, tàu ngầm nguyên tử Đề án 627, ngư lôi T-15 đã bị loại khỏi thành phần vũ khí, còn thay cho nó là 8 thiết bị ngư lôi 533mm với cơ số 20 đạn ngư lôi. Được nhận trang bị ngư lôi mạnh, tàu ngầm nguyên tử nội địa đầu tiên, hiện tại, được sử dụng để chống lại các tàu chiến và tàu vận tải của địch trên các đại dương và các tuyến giao thông trên biển xa.

Sau khi hiệu chỉnh thiết kế kỹ thuật, tàu ngầm nguyên tử vẫn duy trì các đặc điểm cơ bản của thiết kế trước: cấu trúc hai thân, thân kéo dài (tỷ lệ chiều dài – rộng: 13,3) với sự kéo dài (gần nửa chiều dài) miếng đệm hình trụ và mặt cắt ngang, gần tròn, dạng elip của bộ phận cuối mũi tàu và đường bao “dẹt” ở thân tàu, đảm bảo sự bố trí thiết bị năng lượng hai trục. Đường bao bảo vệ khu vực có người ở của thân nhẹ, che chắn buồng và cửa ra vào, đã mang lại cho tàu ngầm nguyên tử điểm đăc biệt có tên gọi “danh thiếp” của các tàu ngầm được thiết kế ở Phòng Thiết kế đặc biệt số 134.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #486 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 02:37:09 pm »

Thân chắc chắn của tàu ngầm được chia thành 9 khoang. Theo nhiệm vụ chức năng, các khoang mũi tàu đồng dạng với tàu ngầm điện – diesel:

1 – Ngư lôi ở mũi tàu

2 - Buồng bộ tích lũy

3 – Buồng của trạm (đài chỉ huy) trung tâm

4 – Buồng trang bị hỗ trợ

Thiết bị năng lượng nguyên tử gồm 2 lò phản ứng với các máy phát điện hơi nước và một số các tổ hợp tuabin răng cưa được bố trí trong các buồng số V (lò phản ứng) và VI (tuabin). Các lò phản ứng của thiết bị sản xuất hơi nước hiệu VM-A – dạng (làm mát) bằng nước được lắp ngay sau nhau trong mặt phẳng hướng tâm của tàu, còn lò phản ứng hơi nước được bố trí bên cạnh chúng (trên thành trái – máy phát điện hơi nước của lò phản ứng ở mũi, bên phải – lò phản ứng mạn tàu). Các buồng thiết bị năng lượng nguyên tử trang bị bằng các thiết bị phòng vệ sinh học – trong sự kết hợp đặc biệt với các biện pháp thiết kế phải đảm bảo khả năng an toàn trước phóng xạ trên tàu. Hệ thống bố trí của thiết bị năng lượng nguyên tử được tiếp nhận ở giữa theo chiều dài bộ phận thân tàu đã đơn giản độ chênh mớn nước của tàu ngầm và cho phép phân chia mũi và mạn tàu khỏi các buồng chiếm vị trí của buồng động cơ, trong đó bố trí phòng ở của thủy thủ đoàn và các trạm chiến đấu.

Trong buồng số VII – buồng điện lực, bố trí các động cơ điện bánh lái hỗ trợ, đảm bảo khả năng di chuyển với tốc độ 8 hải lý, trong buồng VIII và IX -  buồng cho người ở và trang bị các hệ thống của tàu.

Sự hợp lý của bố cục các khoang đạt được bằng việc xử lý bố trí trang bị trên các mô hình ngoài trời, được thực hiện để thí nghiệm cho toàn bộ các phòng của tàu ngầm.

Tàu ngầm nguyên  tử Đề án 627 được trang bị các khí tài đủ hiện đại cho việc quan sát, thông tin liên lạc và dẫn đường, bộ phận lớn đã được khai thác trên tàu ngầm điện – diesel Đề án 611 và 613.

Trang bị thủy âm gồm có đài thủy âm (GAS) “Arktika”, đảm bảo khả năng phát hiện mục tiêu và xác định các tọa độ của chúng trong các chế độ tìm phương theo tiếng ồn. Đài thủy âm phát hiện các tín hiệu thủy âm và liên lạc âm thành ngầm “Svet”, đài tìm phương tiếng ồn “Mars-16KP” và đài thủy âm phát hiện chướng ngại vật dưới nước “Luch”. Đặc biệt, đài thủy âm “Arktika” trên tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 có (là) sự bố trí ăng ten trong bộ phận mũi bảo vệ buồng, đồng thời, xuất hiện sự theo dõi tự động mục tiêu có tiếng ồn tăng cường chất lượng xử lý thông tin để bắn ngư lôi.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #487 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 03:05:54 pm »

Trong thành phần trang bị ra đa định vị có đài phát hiện mục tiêu nổi và điều khiển bắn ngư lôi “Prizma” và đài  phát hiện ra đa định vị đang hoạt động “Nakat”.

Các khí tài thông tin liên lạc gồm có tổ hợp máy thu và phát, tương tự với thiết bị được lắp trên tàu ngầm điện – diesel Đề án 611 và 613. Chúng đảm bảo sự thu điện vô tuyến, được truyền tải từ các trạm chỉ huy trên bờ (BKP), trong đó có dải bước sóng dài trên độ sâu thấp, đồng thời thông tin hai mặt (chiều) trong các dải sóng dài và ngắn với trạm chỉ huy trên bờ, với các tàu chiến và máy bay của Hải quân.

Trang bị hoa tiêu bố sung bằng tổ hợp dẫn đường được thiết kế đặc biệt “Pluton”, đảm bảo định hướng và sử dụng vũ khí ngư lôi khi bơi trong giới hạn 80 độ bắc và vĩ độ nam.

Trang bị ngư lôi của tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 có khả năng chiến đấu cao. Lần đầu tiên trong thực tế Liên Xô, việc bắn ngư lôi được đảm bảo ở độ sâu 100 mét. Với tàu ngầm có thể sử dụng toàn bộ các kiểu ngư lôi. Việc thiết lập thông tin bắn cho chúng được thực hiện bởi hệ thống tự động “Toryi”.

Để đảm bảo khả năng dẫn đường cho tàu, lần đầu tiên đã sử dụng sự điều khiển tự động theo vòng và độ sâu với sự hỗ trợ của máy ổn định “Kurs” và “Strela”, sau đó đã chứng minh rất hữu ích, đặc biệt là khi tàu ngầm di chuyển trong tốc độ cao.

Trong các mục đích tăng cường giảm tiếng ồn, sử dụng các máy có tính chất giảm rung, trang bị cơ bản được giảm chấn (sóc), tiếp nhận sự chống rung, lắp các chân vịt bánh lái độ ồn thấp… Kết quả là độ ồn dưới nước của tàu ngầm nguyên tử Đề án 627 khi di chuyển với tốc độ trung bình trong độ sâu tiềm vọng thấm hơn so với tàu ngầm nguyên tử các Đề án 611 và 613.

Với quan điểm hiện đại, có thể xem xét tiếp nhận tổ hợp các biện pháp chống thủy âm như là không đủ để tạo tiếng ồn cho tàu ngầm và tính toán rằng theo các tính năng thủy âm, lần đầu tiên các tàu ngầm nguyên tử Liên Xô thấp hơn của Mỹ. Nhưng đến giai đoạn này, vấn đề giảm độ ồn còn không được dự kiến cho các Đề án tàu ngầm đầu tiên và không đủ biện pháp được thiết kế và thể hiện (áp dụng) trong thực tế chế tạo các máy móc giảm tiếng ồn và thiết kế tàu. Khi chế tạo tàu ngầm nguyên tử đầu tiên, việc ưu tiên hàng đầu là làm cho nó độc lập với không khí, tương ứng với đó là bảo vệ an toàn cho tàu khỏi sự phát hiện của các đài ra đa định vị. Nếu xem xét thiết kế từ các quan điểm này, thì khối lượng các biện pháp áp dụng để giảm tiếng ồn của tàu ngầm có thể xem xét đầy đủ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #488 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 06:39:38 pm »

Đồng thời, ở thành phố Obinsk đã chế tao nguyên mẫu của thiết bị năng lượng nguyên tử mà đầu năm 1956 đã được nạp năng lượng điện.

Biểu đồ làm việc được vạch ra một cách chặt chẽ cho thời hạn quy định đưa tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Liên Xô vào biên chế, chương trình chế tạo được đưa lên cấp quốc già và thường xuyên được chính phủ và lãnh đạo chính trị hàng đầu quốc gia kiểm tra. Cùng với đó là tiếp nhận thời gian gấp rút thực hiện các công việc cũng có mặt tiêu cực – trên tàu đã xuất hiện nhiều vấn đề về việc kiểm tra trang bị, nhiều điểm yếu xuất hiện đã được khắc phục trực tiếp trong quá trình đóng, còn sau đó là khai thác sử dụng.

Buổi lễ khởi công long trọng tàu ngầm nguyên tử thí nghiệm Đề án 627 diễn ra ngày 24 tháng 9 năm 1955. Việc đóng tàu được tiến hành một cách mạnh mẽ và đến tháng 8 năm 1957, đã kết thúc thành công việc lắp trang bị cơ bản. Mùng 9 tháng 8 cùng năm, tàu ngầm đã được hạ thủy. Đặc biệt, việc này được thực hiện bằng phương pháo hạ (thả) nghiêng.

Tháng 9 năm 1957, bắt đầu thí nghiệm neo đậu của tàu ngầm nguyên tử, trong quá trình này, sự chú ý chính tập trung vào thiết bị năng lượng nguyên tử. Ngày 14 tháng 9, đã tiến hành kiếm tra các lò phản ứng với báo cáo về cấp độ công suất được kiểm soát của chúng ở mức tối thiểu.

Trong quá trình thí nghiệm neo đậu đã xuất hiện hàng loạt lỗi trong hoạt động của các máy, hệ thống và thiết bị. Trang bị lỗi đã được thay thế vào hoàn thiện hàng loạt thiết kế. Như, đặc biệt là việc loại trừ xự xâm thực của bơm tuần hoàn của các bộ tụ điện chính yêu cầu chuẩn bị và lắp trên bộ phận dưới nước của tàu ngầm nguyên tử đang ở trên mặt nước, các hầm dẫn nước đặc biệt.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #489 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 08:31:05 pm »

Trước khi khởi động các khu vực hoạt động của lò phản ứng trên tàu đã xuất hiện bối cảnh phóng xạ được tăng cường. Nguyên nhân, đã được chỉ ra, gồm có trong việc sử dụng để chiến sáng thang chia độ các khí tài sơn phát quang, chứa yếu tố phóng xạ. Sau đó đã phải loại bỏ loại sơn này từ nhiều khí tài, và sau đó từ đó loại bỏ ra không chỉ trong ngành đóng tàu ngầm mà còn các ngành kỹ thuật khác.

Trong quá trình các thí nghiệm, thủy thủ đoàn đã làm chủ được tàu và thiết bị năng lượng của nó. Các phân đội chiến đấu và phục vụ được chỉ huy bởi các sỹ quan trẻ. Việc huấn luyện và học tập của các thành viên thuộc bộ phận chiến đấu điện cơ phục vụ cho thiết bị năng lượng nguyên tử, đã diễn ra trên học cụ ngoài trời ở Obinsk dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Viện sĩ A.P.Aleksandrov.

Thuyền trưởng đầu tiên của tàu ngầm nguyên tử Đề án 627, nhận số hiệu chiến thuật K-3 (tàu tuần dương – 3) là thuyền trưởng tàu ngầm có kinh nghiệm hạng 1 Leonid Gavrilovich Osipenko. Trợ lý lâu năm của thuyền trưởng là thuyền trưởng hạng 2 Lev Mikhailovich Zhiltsov, còn chỉ huy bộ phận tác chiến cơ điện – thuyền trưởng – kỹ sư hạng 2 Boris Petrovic Akylov.

Đầy tháng 7 năm 1958, K-3 đã được trình bày trước Ủy ban nhà nước dưới sự chủ nhiệm của Phó Đô đốc V.N.Ivanov để tiến hành cách thí nghiệm động lực – diễn ra trên biển Trắng từ mùng 3 tháng 7 đến mùng 1 tháng 12.

Mùng 4 tháng 7 năm 1958, lúc 10 giờ 3 phút, lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô đã có sự xuất hiện tàu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử. Nhiệm vụ đầu tiên – kiểm tra khả năng hoạt động của thiết bị năng lượng nguyên tử và trang bị cơ bản của tàu ngầm nguyên tử - thủy thủ đoàn đã thực hiện một cách thành công. Lịch sử đã bước sang trang mới bằng sự hoạt động của hạm đội nguyên tử.

Trong thời gian thí nghiệm động lực, thiết bị năng lượng nguyên tử đã phải chứng tỏ khả năng hoạt động trong các điều kiện thực của biển khơi, trong đó khi rung, lắc, nghiêng, chòng chành, đồng thời khi lặp ở độ sâu giới hạn. Thiết bị năng lượng nguyên tử đã được kiểm soát tốt có sự tin cậy trong hoạt động.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM